English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2016

 

Năm 2016, năm đầu cả nước thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự báo, tăng trưởng thương mại toàn cầu giảm mạnh, hoạt động của thị trường hàng hóa kém sôi động, giá cả hàng hóa thế giới ở mức thấp đã ảnh hưởng đến kinh tế nước ta, nhất là hoạt động xuất nhập khẩu và thu ngân sách Nhà nước. Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ dấu hiệu khởi sắc của năm 2015, kinh tế nước ta đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bởi diễn biến phức tạp của thời tiết, biến đổi khí hậu. Rét đậm, rét hại các tỉnh phía Bắc, tình trạng hạn hán tại Tây Nguyên, Nam Trung Bộ xâm nhập mặn nghiêm trọng ở Đồng bằng sông Cửu Long, bão lũ và sự cố môi trường biển tại các tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất và đời sống nhân dân.

Trước tình hình đó, Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 07/01/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016. Đồng thời, ban hành hàng loạt các Nghị quyết để chỉ đạo, giải quyết những vấn đề cấp bách, khắc phục khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái như: Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 08/7/2016 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016; các Nghị quyết phiên họp thường kỳ của Chính phủ. Với những đổi mới mạnh mẽ và sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và toàn dân, kinh tế - xã hội nước ta năm 2016 đã vượt qua khó khăn, thách thức. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2016 ước tính tăng 6,21% so với năm 2015, trong đó quý I tăng 5,48%; quý II tăng 5,78%; quý III tăng 6,56%; quý IV tăng 6,68%. Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mức tăng 6,68% của năm 2015 và không đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% đề ra, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới không thuận, giá cả và thương mại toàn cầu giảm, trong nước gặp nhiều khó khăn do thời tiết, môi trường biển diễn biến phức tạp thì đạt được mức tăng trưởng trên là một thành công, khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các biện pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng thực hiện.

Trong mức tăng 6,21% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,36%, thấp nhất kể từ năm 2011 trở lại đây[1], đóng góp 0,22 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,57%, thấp hơn mức tăng 9,64% của năm trước, đóng góp 2,59 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,98%, đóng góp 2,67 điểm phần trăm.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành lâm nghiệp có mức tăng cao nhất với 6,11%, nhưng do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,04 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành nông nghiệp với quy mô trong khu vực lớn nhất (khoảng 75%) chỉ tăng thấp ở mức 0,72%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 2,80%, đóng góp 0,09 điểm phần trăm. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm nay gặp nhiều khó khăn do diễn biến bất lợi của thời tiết, rét đậm, rét hại đầu năm tại các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ; hạn hán, xâm nhập mặn tại khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long; liên tục những đợt lũ trong các tháng cuối năm tại các tỉnh miền Trung và sự cố môi trường biển xảy ra cuối tháng Tư tại vùng biển các tỉnh Bắc Trung Bộ đã gây ảnh hưởng lớn tới kết quả sản xuất của khu vực này.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 7,06% so với năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng cao 11,90%, đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung với 1,83 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng năm nay giảm tới 4,00%, đã làm giảm 0,33 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung, đây là mức giảm sâu nhất từ năm 2011 trở lại đây[2]. Nguyên nhân chủ yếu do giá dầu thế giới giảm khiến lượng dầu thô khai thác giảm hơn 1,67 triệu tấn so với năm trước; sản lượng khai thác than cũng chỉ đạt 39,6 triệu tấn, giảm 1,26 triệu tấn. Xu hướng ngành công nghiệp chuyển dịch sang lĩnh vực chế biến, chế tạo, giảm sự phụ thuộc vào ngành khai khoáng là điều cần thiết vì Việt Nam đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững hơn. Ngành xây dựng tăng trưởng khá với tốc độ 10,00%, đóng góp 0,60 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt mức tăng 8,28% so với năm 2015, đóng góp 0,77 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,79%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản được cải thiện hơn với mức tăng 4,00%, cao hơn mức tăng 2,96% của năm trước, đóng góp 0,21 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống năm nay có mức tăng trưởng khá cao 6,70% so với mức tăng 2,29% của năm 2015, đóng góp 0,25 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.  

Về cơ cấu nền kinh tế năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 16,32%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 32,72%; khu vực dịch vụ chiếm 40,92%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,04% (Cơ cấu tương ứng của năm 2015 là: 17,00%; 33,25%; 39,73%; 10,02%).

Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2016, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,32% so với năm 2015, đóng góp 5,29 điểm phần trăm vào mức tăng chung (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp 4,81 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 9,71%, đóng góp 3,08 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu làm giảm 2,16 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

 

 
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong năm 2016 gặp nhiều khó khăn do tác động của biến đổi khí hậu và thời tiết khắc nghiệt: Rét đậm, rét hại đầu năm tại các tỉnh phía Bắc; mưa, lũ ở miền Trung; tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng tại Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và sự cố môi trường biển xảy ra tại 4 tỉnh miền Trung. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2016 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 870,7 nghìn tỷ đồng, tăng 1,44% so với năm 2015, bao gồm: Nông nghiệp đạt 642,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,79%; lâm nghiệp đạt 28,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,17%; thủy sản đạt 200 nghìn tỷ đồng, tăng 2,91%.

 

 

a. Nông nghiệp

Sản lượng lúa cả năm 2016 ước tính đạt 43,6 triệu tấn, giảm 1,5 triệu tấn so với năm 2015[3] do diện tích gieo cấy đạt 7,8 triệu ha, giảm 40 nghìn ha; năng suất đạt 56 tạ/ha, giảm 1,6 tạ/ha. Nếu tính thêm 5,2 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm nay ước tính đạt 48,8 triệu tấn, giảm 1,5 triệu tấn so với năm 2015.

Trong sản xuất lúa, diện tích gieo cấy lúa đông xuân năm nay đạt 3,1 triệu ha, giảm 30 nghìn ha so với vụ đông xuân trước; năng suất đạt 63 tạ/ha, giảm 3,5 tạ/ha nên sản lượng đạt 19,4 triệu tấn, giảm 1,3 triệu tấn. Sản xuất lúa đông xuân năm nay giảm so với vụ đông xuân trước cả về diện tích, năng suất và sản lượng chủ yếu do ảnh hưởng của thời tiết rét buốt, băng giá tại các tỉnh phía Bắc và tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn tại các tỉnh phía Nam, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long[4]. Diện tích gieo cấy lúa hè thu và thu đông đạt 2,8 triệu ha, tăng 23,9 nghìn ha so với năm trước; năng suất đạt 53,5 tạ/ha, giảm 0,6%; sản lượng đạt 15 triệu tấn, tăng 34 nghìn tấn so với năm 2015[5].

Diện tích gieo cấy lúa mùa của cả nước đạt 1,9 triệu ha, giảm 33,5 nghìn ha so với vụ mùa năm trước do khu vực miền Bắc bị ảnh hưởng thời tiết hạn hán, thiếu nước đầu vụ; một số tỉnh phía Nam phải chuyển đổi mùa vụ do ảnh hưởng xâm nhập mặn và hạn hán lâu ngày. Năng suất lúa mùa năm nay ước tính đạt 48,4 tạ/ha, giảm 0,4 tạ/ha so với vụ mùa trước; sản lượng ước tính đạt 9,2 triệu tấn, giảm 243 nghìn tấn. Một số địa phương sản lượng lúa mùa giảm mạnh so với năm trước: Kiên Giang giảm 175 nghìn tấn; Vĩnh Phúc giảm 33 nghìn tấn; Bến Tre giảm 25,7 nghìn tấn; Sóc Trăng giảm 19,7 nghìn tấn; Long An giảm 12 nghìn tấn.

Kết quả sản xuất một số cây hàng năm khác đạt thấp: Sản lượng khoai lang đạt 1.289,1 nghìn tấn, giảm 46,5 nghìn tấn so với năm trước (diện tích giảm 6,1 nghìn ha); mía đạt 17,2 triệu tấn, giảm 1,2 triệu tấn (diện tích giảm 10 nghìn ha); lạc đạt 441,4 nghìn tấn, giảm 12,7 nghìn tấn (diện tích giảm 8,6 nghìn ha). Sản lượng sắn và đậu tương tăng nhẹ: Sản lượng sắn đạt 10,9 triệu tấn, tăng 192 nghìn tấn (diện tích tăng 2 nghìn ha); đậu tương đạt 147,5 nghìn tấn, tăng 1,1 nghìn tấn (diện tích giảm 6,8 nghìn ha); sản lượng rau các loại đạt 16 triệu tấn, tăng 741 nghìn tấn (diện tích tăng 17,7 nghìn ha).

Diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm đạt 2,2 triệu ha, tăng 16,2 nghìn ha so với năm 2015, trong đó một số tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đang có xu hướng phá bỏ cây cao su già cỗi, chuyển đổi sang trồng tiêu và một số cây trồng khác. Diện tích trồng cây cao su năm 2016 ước tính đạt 976,4 nghìn ha, giảm 0,9% so với năm trước; sản lượng đạt 1.032,1 nghìn tấn, tăng 1,9%; hồ tiêu diện tích đạt 124,5 nghìn ha, tăng 22,5%, sản lượng đạt 193,3 nghìn tấn, tăng 9,4%; cà phê diện tích đạt 645,4 nghìn ha, tăng 0,3%, sản lượng đạt 1.467,9 nghìn tấn, tăng 1%; điều diện tích đạt 293 nghìn ha, tăng 0,9%, sản lượng đạt 303,9 nghìn tấn, giảm 13,7% do ảnh hưởng thời tiết khô hạn kéo dài, một số khu vực chịu ảnh hưởng của sương mù nên đợt ra bông đầu tiên năm nay bị mất trắng.

Cây ăn quả năm nay đạt khá, nhiều nhóm cây có diện tích cho sản phẩm tăng[6] và thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định. Sản lượng cam năm 2016 đạt 627,1 nghìn tấn, tăng 10,8% so với năm trước; quýt đạt 172,4 nghìn tấn, tăng 6,9%; bưởi đạt 500,3 nghìn tấn, tăng 6,1%; xoài đạt 724,4 nghìn tấn, tăng 3,1%; chuối đạt 1.977 nghìn tấn, tăng 1,7%. Riêng sản lượng nhãn, vải đạt thấp do nhiều cây trồng không mang lại hiệu quả bị chặt bỏ ở miền Bắc và sâu bệnh tại các tỉnh phía Nam[7].

Chăn nuôi gia súc, gia cầm diễn biến tích cực, dịch bệnh được khống chế[8]; giá bán sản phẩm duy trì ở mức có lợi cho người nuôi. Hình thức nuôi chuyển dịch theo hướng từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, liên kết với các doanh nghiệp, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm. Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2016, đàn trâu cả nước có 2,5 triệu con, giảm 0,2% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 5,5 triệu con, tăng 2,4%, riêng đàn bò sữa đạt 282,9 nghìn con, tăng 2,8%; đàn lợn có 29,1 triệu con, tăng 4,8%; đàn gia cầm có 361,7 triệu con, tăng 5,8%. Sản lượng thịt hơi các loại năm nay đạt khá, trong đó sản lượng thịt trâu đạt 86,6 nghìn tấn, tăng 1% so với cùng thời điểm năm trước; sản lượng thịt bò đạt 308,6 nghìn tấn, tăng 3,1%; sản lượng thịt lợn đạt 3,7 triệu tấn, tăng 5%; sản lượng thịt gia cầm đạt 961,6 nghìn tấn, tăng 5,9%; sản lượng trứng gia cầm đạt 9.446,2 triệu quả, tăng 6,4%.

b. Lâm nghiệp

Năm 2016, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 231,2 nghìn ha, giảm 3,9% so với năm 2015, trong đó một số địa phương có diện tích rừng trồng tập trung giảm nhiều: Hà Giang giảm 8,9 nghìn ha (giảm 40,3%); Tuyên Quang giảm 3,3 nghìn ha (giảm 24%); Thanh Hóa giảm 2,2 nghìn ha (giảm 17,3%). Số cây lâm nghiệp trồng phân tán cả năm đạt 154,5 triệu cây, giảm 4,2% so với năm 2015.

Sản lượng gỗ khai thác năm 2016 ước tính đạt 9.568 nghìn m3, tăng 10,3% so với năm trước, trong đó một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Ngãi đạt 866 nghìn m­­­­3­­, tăng 21,2%; Bắc Giang đạt 501 nghìn m­­­­3­­, tăng 25,3%; Thanh Hóa đạt 499 nghìn m­­­­3­­, tăng 25,4%. Sản lượng củi khai thác đạt 27,1 triệu ste, giảm 0,4% so với năm 2015.

Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện nhưng do thời tiết hạn hán, nắng nóng kéo dài nên tình trạng cháy rừng tiếp tục xảy ra. Diện tích rừng bị thiệt hại của cả nước năm 2016 là 4.519 ha, gấp 2,4 lần so với năm 2015, trong đó diện tích rừng bị cháy là 3.320 ha, gấp 3,1 lần; diện tích rừng bị chặt phá là 1.199 ha, tăng 47,5%. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Điện Biên 969 ha; Sơn La 919 ha; Hà Giang 226 ha; Yên Bái 194 ha; Bình Định 182 ha; Hà Tĩnh 113 ha.

c. Thủy sản

Sản lượng thuỷ sản năm 2016 ước tính đạt 6.728,6 nghìn tấn, tăng 2,7% so với năm trước, trong đó cá đạt 4.843,3 nghìn tấn, tăng 2,5%; tôm đạt 823,9 nghìn tấn, tăng 3,3%.

Hoạt động nuôi trồng thủy sản những tháng đầu năm gặp khó khăn do thời tiết thay đổi thất thường, tình trạng ô nhiễm nguồn nước, thị trường xuất khẩu giảm mạnh, giá thu mua sản phẩm không ổn định. Những tháng cuối năm, tình hình đã khởi sắc hơn nhưng nhìn chung kết quả nuôi trồng thủy sản cả năm đạt thấp. Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2016 ước tính đạt 3.604,3 nghìn tấn, tăng 2,6% so với năm trước, trong đó cá đạt 2.576,8 nghìn tấn, tăng 2,1%; tôm đạt 649,3 nghìn tấn, tăng 3,4%.

Nuôi cá tra có tín hiệu tích cực trong những tháng cuối năm nhưng nhìn chung vẫn gặp khó khăn do giá cả và thị trường tiêu thụ chưa thực sự ổn định. Diện tích nuôi cá tra công nghiệp năm 2016 ước tính đạt 5.105 ha, giảm 1,2% so với năm trước; sản lượng ước tính đạt 1.143,1 nghìn tấn, tăng 1,3%, trong đó Đồng Tháp đạt 403,4 nghìn tấn, tăng 0,8%, Bến Tre đạt 172,3 nghìn tấn, tăng 1%.

Nuôi tôm nước lợ phát triển tương đối tốt trong những tháng cuối năm do thời tiết mưa nhiều làm giảm tình trạng hạn mặn. Bên cạnh đó, công tác phòng chống, kiểm soát dịch bệnh được quan tâm thực hiện nên diện tích nuôi và sản lượng thu hoạch đạt khá. Diện tích nuôi tôm sú năm 2016 ước tính đạt 571 nghìn ha, tăng 0,1% so với năm trước; sản lượng đạt 251,7 nghìn tấn, tăng 1%. Diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng năm 2016 đạt 102,3 nghìn ha, tăng 16,3% so với năm trước; sản lượng đạt 357,6 nghìn tấn, tăng 5%, trong đó Sóc Trăng đạt 85,5 nghìn tấn, tăng 22,9%, Cà Mau đạt 55,5 nghìn tấn, tăng 5,2%.

Thời tiết trong năm tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản trên biển, giá xăng dầu thấp cùng với dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển đã tạo điều kiện cho ngư dân ra khơi, bám biển dài ngày. Tuy nhiên, sự cố môi trường biển xảy ra cuối tháng Tư tại vùng biển các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt đã ảnh hưởng đến hoạt động khai thác thủy sản của các tỉnh ven biển miền Trung cũng như của cả nước. Năm 2016, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 3.124,3 nghìn tấn, tăng 2,9% so với năm 2015, trong đó cá đạt 2.266,5 nghìn tấn, tăng 2,9%, tôm đạt 174,7 nghìn tấn, tăng 3,3%. Sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 2.930,8 nghìn tấn, tăng 3,2%, trong đó cá đạt 2.131,3 nghìn tấn, tăng 3,2%, tôm đạt 161,3 nghìn tấn, tăng 3,7%.

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười Hai ước tính tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước (tháng Mười Một tăng 8% so với cùng kỳ), trong đó ngành khai khoáng giảm 7,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,4%.

Tính chung cả năm 2016, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,5% so với năm 2015 (quý I tăng 7,4%; quý II tăng 7,1%; quý III tăng 7,1%; quý IV ước tính tăng 8,2%), thấp hơn nhiều mức tăng 9,8% của năm 2015 và 7,6% của năm 2014 do ngành khai khoáng giảm sút mạnh. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,2%, đóng góp 7,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 11,5%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm sâu ở mức 5,9%, làm giảm 1,3 điểm phần trăm mức tăng chung.

Xét theo công dụng của sản phẩm, các sản phẩm trung gian (dùng cho quá trình sản xuất tiếp theo) năm 2016 tăng 5% so với năm trước; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 9,1% (trong đó sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 11,4%; sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 8%). Chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian thấp hơn so với chỉ số sản xuất sản phẩm phục vụ sử dụng cuối cùng cho thấy, sản phẩm trung gian trong sản xuất công nghiệp của nước ta còn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn nhập khẩu.

Trong năm 2016, một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng cao so với năm trước: Sản xuất kim loại tăng 17,9%; dệt tăng 17,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 16,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 12,8%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,6%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,5%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,2%; khai khoáng khác tăng 2,2%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 1,2%; khai thác than cứng và than non giảm 2,9%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 8,0% (do giá dầu thế giới ở mức thấp, kế hoạch khai thác dầu thô năm nay chỉ bằng 89% mức thực hiện năm 2015).

Trong năm 2016, một số sản phẩm công nghiệp tăng cao so với năm trước: Ti vi tăng 70%; thép cán tăng 26,8%; ô tô tăng 21,9%; sắt, thép thô tăng 20,5%; thức ăn cho gia súc tăng 18,3%; xi măng tăng 14,4%; sữa bột tăng 13,3%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Thuốc lá điếu tăng 3,5%; giày, dép da tăng 2,8%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 0,5%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 2,6%; than đá giảm 3,1%; phân ure giảm 5,8%; đường kính giảm 8,3%; dầu thô khai thác giảm 9,9%; phân hỗn hợp NPK giảm 10,6%; điện thoại di động giảm 10,8%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2016 so với năm 2015 của một số địa phương như sau: Quảng Nam tăng 30%; Thái Nguyên tăng 24%; Hải Phòng tăng 16,8%; Đà Nẵng tăng 13,1%; Bình Dương tăng 10,3%; Hải Dương tăng 8,9%; Đồng Nai tăng 8,5%; Cần Thơ tăng 8,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,4%; Hà Nội tăng 7%; Vĩnh Phúc tăng 6,8%; Bắc Ninh tăng 5%; Quảng Ninh tăng 0,9%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 6,3%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2016 tăng 4% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, chỉ số tiêu thụ tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 12,6%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất xe có động cơ tăng 20,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,1%; sản xuất đồ uống tăng 11,9%; sản xuất kim loại tăng 11,9%; sản xuất trang phục tăng 10,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,6%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp: Sản xuất thiết bị điện tăng 6,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm và sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic cùng tăng 6,1%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 3,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,8%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 2,7%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 1,4%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/12/2016 tăng 8,1% so với cùng thời điểm năm trước, là mức tồn kho thấp nhất trong nhiều năm qua (cùng thời điểm năm 2015 tăng 9,5%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 6,5%; dệt tăng 6%; sản xuất trang phục giảm 1,5%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất giảm 4,3%; sản xuất thiết bị điện giảm 7,4%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 9,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 10%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 13%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 27,5%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 117,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 93,5%; sản xuất đồ uống tăng 40,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 26,5%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 11 tháng năm 2016 là 66,1% (cùng kỳ năm trước là 72,3%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) là 125,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu là 112,6%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 108,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm 84,9%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2016 tăng 2,9% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 2,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,8%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 4,9%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 6,9% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,5%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 1,3%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,3%.

   Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/12/2016 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 13,9%; Bắc Ninh tăng 8,1%; Bình Dương tăng 7,9%; Vĩnh Phúc tăng 6,6%; Đồng Nai tăng 4,1%; Đà Nẵng tăng 3,1%; Hải Dương tăng 2,2%; Hà Nội tăng 1,5%; Quảng Nam tăng 1,1%; Cần Thơ tăng 0,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,3%; Thái Nguyên tăng 0,2%; Quảng Ninh giảm 1,9%.

Nhìn chung, tăng trưởng ngành công nghiệp năm 2016 chủ yếu dựa vào ngành chế biến, chế tạo với mức tăng khá cao; tình hình tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, tồn kho ở mức thấp nhất trong nhiều năm vừa qua[9]. Tuy nhiên, tăng trưởng công nghiệp nước ta vẫn chủ yếu về bề rộng (tăng số doanh nghiệp, tăng vốn đầu tư và thu hút lao động), trong khi năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn hạn chế.

 

 

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[10]

Trong tháng 12/2016, cả nước có 8.417 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 93,4 nghìn tỷ đồng, giảm 15,1% về số doanh nghiệp và tăng 7,3% về số vốn đăng ký so với tháng trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 11,1 tỷ đồng, tăng 26,4%. Tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới là 110,7 nghìn người, tăng 15,5% so với tháng trước.

Trong tháng, cả nước có 2.129 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 2,7% so với tháng trước; 6.564 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.578 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 4.986 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), giảm 4%; 2.010 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 71,4%.

Tính chung cả năm 2016, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt mức kỷ lục với 110,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 16,2% so với năm 2015; tổng vốn đăng ký là 891,1 nghìn tỷ đồng, tăng 48,1% (nếu tính cả 1.629,8 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động thì tổng số vốn đăng ký và bổ sung thêm vào nền kinh tế trong năm 2016 là 2.520,9 nghìn tỷ đồng); số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới năm 2016 đạt 8,1 tỷ đồng, tăng 27,5% so với năm 2015. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2016 là 1.268 nghìn người, bằng 86,1% năm 2015. Trong năm nay còn có 26.689 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 24,1% so với năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động năm 2016 lên gần 136,8 nghìn doanh nghiệp. Điều này cho thấy khung khổ pháp lý mới cùng với các giải pháp của Chính phủ trong việc hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp phát triển đã phát huy hiệu quả, môi trường kinh doanh được cải thiện rõ rệt, doanh nghiệp đã tìm thấy cơ hội kinh doanh và niềm tin vào thị trường.

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong năm nay ở hầu hết các ngành, lĩnh vực đều tăng so với năm trước, trong đó một số ngành tăng mạnh cả về số doanh nghiệp và số vốn đăng ký: Kinh doanh bất động sản tăng 83,9% về số doanh nghiệp và tăng 234,2% về vốn đăng ký; thông tin và truyền thông tăng 9,7% và tăng 128,1%; tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 26,7% và tăng 87,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,9% và tăng 60,4%; hoạt động dịch vụ khác tăng 35,3% và tăng 87,7%... Riêng lĩnh vực nghệ thuật, vui chơi và giải trí, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong năm giảm 26,2%; số vốn đăng ký giảm 10,9%.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong năm 2016 là 12.478 doanh nghiệp, tăng 31,8% so với năm trước, trong đó có 11.611 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 93,1% và tăng 30,9%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động có 4.901 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 39,3%); 3.768 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 30,2%); 2.174 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 17,4%); 1.632 công ty cổ phần (chiếm 13,1%) và 3 công ty hợp danh.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong năm nay là 60.667 doanh nghiệp, giảm 15,2% so với năm trước, bao gồm 19.917 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 27,3% và 40.750 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 26,9%. Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, có 7.919 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 39,8%); 6.701 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 33,6%); 3.346 công ty cổ phần (chiếm 16,8%); 1.950 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 9,8%) và 1 công ty hợp danh. Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 17.251 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 42,3%); 12.567 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 30,9%); 7.269 công ty cổ phần (chiếm 17,8%) và 3.663 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 9,0%). Theo lĩnh vực hoạt động, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể trong năm 2016 của các ngành đều giảm so với năm trước, trong đó một số ngành giảm mạnh: Nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 62,4%; khai khoáng giảm 51,6%; vận tải, kho bãi giảm 36,1%; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 35,7%; xây dựng giảm 25,8%; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy giảm 20,2%...

b. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2016 cho thấy: Có 80,6% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV ổn định và tốt hơn quý trước (có 41,2% số doanh nghiệp đánh giá tốt lên; 39,4% số doanh nghiệp đánh giá ổn định), trong khi 19,4% số doanh nghiệp đánh giá còn gặp khó khăn. Dự báo trong quý I/2017, có 81,1% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và tốt lên, trong đó có 42,6% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 38,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 18,9% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.

Về khối lượng sản xuất, có 43,2% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý IV năm nay tăng so với quý trước; 20,1% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 36,7% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Trong quý I/2017, có 43,3% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên so với quý IV/2016; 18% số doanh nghiệp dự báo giảm và 38,7% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

Về đơn đặt hàng, có 37,2% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng quý IV năm nay cao hơn quý trước; 19,5% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng giảm và 43,3% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quý I/2017 so với quý IV/2016, có 39,3% số doanh nghiệp dự kiến có số đơn đặt hàng cao hơn; 16,7% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 44,0% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, có 30,6% số doanh nghiệp cho biết số đơn hàng xuất khẩu quý IV năm nay cao hơn quý trước; 18,3% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 51,1% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý I/2017 so với quý IV/2016, có 34,8% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 16,8% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 48,4% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

Về chi phí sản xuất,có 23,1% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm quý IV năm nay tăng so với quý trước; 9% số doanh nghiệp cho biết chi phí giảm và 67,9% số doanh nghiệp cho rằng chi phí ổn định. Xu hướng trong quý I/2017, có 19,8% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng so với quý IV/2016; 10% số doanh nghiệp cho rằng chi phí giảm và 70,2% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định.

Về giá bán sản phẩm, quý IV năm nay so với quý trước, có 15,7% doanh nghiệp cho biết có giá bán sản phẩm tăng; 10% số doanh nghiệp có giá bán thấp hơn và 74,3% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định. Dự kiến giá bán sản phẩm quý I/2017 so với quý IV/2016, có 16,3% số doanh nghiệp cho rằng giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 7,9% số doanh nghiệp dự báo giá bán sẽ thấp hơn và 75,8% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ ổn định.

Về tình hình tồn kho thành phẩm, có 18,7% số doanh nghiệp có lượng tồn kho quý IV năm nay tăng so với quý trước; 34,2% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 47,1% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý I/2017 so với quý IV/2016, có 15,6% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 33% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho sẽ giảm và 51,4% số doanh nghiệp dự báo sẽ giữ ổn định.

Về tồn kho nguyên vật liệu, quý IV/2016 so với quý trước, có 17,9% số doanh nghiệp cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 31,9% số doanh nghiệp cho là giảm và 50,2% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên. Dự kiến quý I/2017 so với quý IV/2016, có 14,4% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 31,2% doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho giảm và 54,4% số doanh nghiệp dự báo sẽ không có biến động về tồn kho nguyên vật liệu.

Về sử dụng lao động, quý IV năm nay so với quý trước, có 16,9% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng; 12,1% số doanh nghiệp khẳng định giảm và 71% số doanh nghiệp cho biết giữ ổn định. Xu hướng sử dụng lao động trong quý I/2017, có 88,8% số doanh nghiệp dự kiến sẽ tăng hoặc giữ ổn định quy mô lao động so với quý IV/2016 và 11,2% số doanh nghiệp dự báo giảm quy mô lao động.

5. Hoạt động dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Hai ước tính đạt 320,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 241,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% và tăng 9,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 38,9 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2% và tăng 13,8%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% và tăng 26,6%; doanh thu dịch vụ khác đạt 36,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3% và tăng 8,6%.

Tính chung cả năm 2016, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 3.527,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với năm trước (Năm 2015 tăng 9,8%), nếu loại trừ yếu tố giá thì còn tăng 7,8%, thấp hơn mức tăng 8,5% của năm trước do sức mua không biến động lớn, trong khi giá tiêu dùng năm nay tăng cao hơn so với năm 2015.

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2016 ước tính đạt 2.676,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,9% tổng mức và tăng 10,2% so với năm trước, trong đó: Lương thực, thực phẩm tăng 13%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 11,4%; may mặc tăng 10,6%; phương tiện đi lại tăng 5,7%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 1,7%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2016 ước tính đạt 413,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,7% tổng mức và tăng 10,7% so với năm 2015, trong đó 6 tháng cuối năm doanh thu tăng mạnh (quý III tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước; quý IV tăng 16,7%) nhờ chính sách thu hút khách du lịch được cải thiện nên lượng khách quốc tế đến nước ta trong những tháng cuối năm tăng cao. Một số địa phương doanh thu tăng khá: Bình Dương tăng 17,7%; Bình Thuận tăng 17,1%; Hải Phòng tăng 16%; Hà Nội tăng 13,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,4%. Doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 34,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% tổng mức và tăng 12% so với năm trước, trong đó doanh thu Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 13,8%; Quảng Ninh tăng 13,6%; Kiên Giang tăng 13,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,6%; Hà Nội tăng 11,1%.

Doanh thu dịch vụ khác năm nay ước tính đạt 403,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,4% tổng mức và tăng 9,3% so với năm 2015. Một số địa phương có doanh thu tăng: Quảng Ninh tăng 15,7%; Bắc Ninh tăng 13,6%; Hưng Yên tăng 8%; Hà Giang tăng 7,3%; Hải Phòng tăng 2,5%. Tuy nhiên có một số địa phương doanh thu giảm so với năm trước: Lào Cai giảm 1,5%; Hòa Bình giảm 7,1%; Hà Tĩnh giảm 15,1%.

 
 

b. Vận tải và viễn thông

Vận tải hành khách tháng Mười Hai ước tính đạt 307,5 triệu lượt khách, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước và 14,6 tỷ lượt khách.km, tăng 9%. Tính chung cả năm 2016, vận tải hành khách đạt 3.620,5 triệu lượt khách, tăng 9,6% so với năm trước và 171,3 tỷ lượt khách.km, tăng 11%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 3.397,6 triệu lượt khách, tăng 9,6% và 114 tỷ lượt khách.km, tăng 8,6%; đường biển đạt 6 triệu lượt khách, tăng 4,3% và 302,5 triệu lượt khách.km, tăng 0,9%. Vận tải bằng đường hàng không tăng mạnh, đạt 40,5 triệu lượt khách, tăng 30,3% và 50,7 tỷ lượt khách.km, tăng 20,4% do các hãng hàng không trong nước đã đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa đồng thời mở thêm một số đường bay quốc tế. Vận tải đường sắt đạt 9,7 triệu lượt khách, giảm 12,6% và 3,4 tỷ lượt khách.km, giảm 17,9% so với năm 2015 do thời gian đi lại và giá vé chưa cạnh tranh được với hàng không giá rẻ và vận tải đường bộ.

Vận tải hàng hóa tháng Mười Hai ước tính đạt 114,9 triệu tấn, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước và 21 tỷ tấn.km, tăng 4,9%. Tính chung cả năm 2016, vận tải hàng hóa đạt 1.275,4 triệu tấn, tăng 10,6% so với năm trước và 240,7 tỷ tấn.km, tăng 4,3%, trong đó vận tải trong nước đạt 1.242,6 triệu tấn, tăng 10,8% và 111,8 tỷ tấn.km, tăng 8,8%; vận tải ngoài nước đạt 32,8 triệu tấn, tăng 2,6% và 128,9 tỷ tấn.km, tăng 0,7%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 991,4 triệu tấn, tăng 12,1% và 60 tỷ tấn.km, tăng 12,9% so với năm trước; đường sông đạt 217,9 triệu tấn, tăng 6,5% và 45,3 tỷ tấn.km, tăng 7,1%; đường biển đạt 60,6 triệu tấn, tăng 5,5% và 131,5 tỷ tấn.km, tăng 0,6%; đường sắt đạt 5,2 triệu tấn, giảm 22% và 3,2 tỷ tấn.km, giảm 19,4%.

Trong năm 2016, doanh thu lĩnh vực viễn thông ước tính đạt 381,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,6% so với năm 2015.

 

 

c. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười Hai ước tính đạt 897,3 nghìn lượt người, giảm 4,2% so với tháng trước[11] và tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ châu Á giảm 1,6% và tăng 20,8%; từ châu Âu giảm 17,3% và tăng 15,2%; từ châu Mỹ giảm 2% và tăng 8,1%; từ châu Phi tăng 41,3% và tăng 32,5%; từ châu Úc tăng 8,3% và giảm 4,1%.

Tính chung cả năm 2016, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 10,01 triệu lượt người, tăng 26% so với năm trước (tăng hơn 2 triệu lượt khách), trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 8,26 triệu lượt người, tăng 31,7%; đến bằng đường bộ đạt 1,47 triệu lượt người, giảm 2,3%; đến bằng đường biển đạt 284,8 nghìn lượt người, tăng 67,7%.

Trong năm 2016, với các chính sách, nỗ lực thu hút khách du lịch được triển khai như miễn thị thực cho công dân 5 nước Tây Âu[12], tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, ứng dụng công nghệ mạng e-marketing, triển khai chương trình quảng bá du lịch trên truyền hình, phương tiện truyền thông, đại chúng, lần đầu tiên Việt Nam đón trên 10 triệu lượt khách quốc tế, gấp 2 lần lượng khách quốc tế đến nước ta năm 2010.

Trong năm nay, khách đến nước ta từ châu Á đạt 7.263,4 nghìn lượt người, chiếm 72,5% và tăng 30,6% so với năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 2.696,8 nghìn lượt người, tăng 51,4%; Hàn Quốc 1.543,9 nghìn lượt người, tăng 38,7%; Nhật Bản 740,6 nghìn lượt người, tăng 10,3%; Đài Loan 507,3 nghìn lượt người, tăng 15,6%; Ma-lai-xi-a 407,6 nghìn lượt người, tăng 17,6%; Thái Lan 267 nghìn lượt người, tăng 24,4%; Xin-ga-po 257 nghìn lượt người, tăng 8,7%.

Trong năm 2016, khách đến từ châu Âu đạt 1.617,4 nghìn lượt người, tăng 18,2% so với năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 434 nghìn lượt người, tăng 28,1%; Vương quốc Anh 254,8 nghìn lượt người, tăng 19,8%; Pháp 240,8 nghìn lượt người, tăng 13,8%; Đức 176 nghìn lượt người, tăng 18,1%; Hà Lan 64,7 nghìn lượt người, tăng 22,2%; Tây Ban Nha 58 nghìn lượt người, tăng 29%; I-ta-li-a 51,3 nghìn lượt người, tăng 27,2%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 735,1 nghìn lượt người, tăng 13,5% so với năm 2015, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 552,7 nghìn lượt người, tăng 12,5%. Khách đến từ châu Úc đạt 368,3 nghìn lượt người, tăng 7,9%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 320,7 nghìn lượt người, tăng 5,6%. Khách đến từ châu Phi đạt 28,5 nghìn lượt người, tăng 5,2% so với năm 2015.

 

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/12/2016, tổng phương tiện thanh toán tăng 16,47% so với cuối năm 2015 (cùng kỳ năm trước tăng 13,55%), mặc dù tăng cao hơn so với cùng kỳ nhưng tổng phương tiện thanh toán chưa tạo sức ép lên lạm phát, lạm phát cơ bản ổn định. Cũng tính đến thời điểm trên, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 16,88% (cùng kỳ năm 2015 tăng 13,59%), giúp các tổ chức tín dụng ổn định thanh khoản, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế và đảm bảo tỷ lệ tín dụng/huy động ở mức an toàn; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 16,46% cho thấy khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp tương đối tốt và thu nhập lãi của các ngân hàng có sự cải thiện tích cực.

Lãi suất huy động hiện nay tương đối ổn định. Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,8%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5%-5,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,4%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,4%-7,2%/năm. Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến của các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6%-7%/năm đối với ngắn hạn, 9%-10%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3%-11%/năm đối với trung và dài hạn. Nhìn chung, cơ cấu tín dụng đang tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.

Thị trường bảo hiểm năm 2016 duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước tính tăng 22,1% so với năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 30,5%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 12,5%. Tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc trong bảo hiểm phi nhân thọ ước tính 32,98% (cùng kỳ năm 2015 là 41,47%).

2. Xây dựng, đầu tư

a. Xây dựng

Hoạt động xây dựng trong năm 2016 đạt khá nhờ giá vật liệu xây dựng ổn định, mặt bằng lãi suất thấp cùng sự cải thiện của thị trường bất động sản. Bên cạnh đó, Chính phủ và Bộ, ngành đã có các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh giải ngân vốn cho các công trình, dự án xây dựng. Giá trị sản xuất xây dựng năm 2016 theo giá hiện hành ước tính đạt 1.089,3 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 83,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 7,7%; khu vực ngoài Nhà nước 952,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 87,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 53,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,9%. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 428,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,3%; công trình nhà không để ở đạt 188,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 17,3%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 344,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 31,6%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 128,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8%.

Theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất xây dựng năm 2016 ước tính tăng 10,1% so với năm 2015, bao gồm: Khu vực Nhà nước tăng 1,7%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 12,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 10,9% do một số dự án có vốn đầu tư lớn đã kết thúc giai đoạn xây dựng hoặc hoàn thành đi vào hoạt động sản xuất như các công trình ở khu công nghiệp Formosa Hà Tĩnh, Công ty Điện tử Samsung Vina Thái Nguyên. Trong tổng giá trị sản xuất, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở tăng 13,6%; công trình nhà không để ở giảm 2,5%; công trình kỹ thuật dân dụng tăng 13,1%; hoạt động xây dựng chuyên dụng tăng 11,8%.

b. Đầu tư phát triển

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2016 theo giá hiện hành ước tính đạt 1.485,1 nghìn tỷ đồng, tăng 8,7% so với năm 2015 và bằng 33% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 557,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,6% tổng vốn và tăng 7,2%; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 579,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 39% và tăng 9,7%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 347,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,4% và tăng 9,4%.

Tình hình thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước những tháng cuối năm đạt khá. Các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ giải ngân các công trình dự án theo tinh thần Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 08/7/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016; Công điện số 2144/CĐ-TTg ngày 29/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy nhanh tiến độ giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016 và thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 và kế hoạch năm 2017.

Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2016 ước tính đạt 268,6 nghìn tỷ đồng, bằng 97,8% kế hoạch năm và tăng 15,1% so với năm 2015, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 62,6 nghìn tỷ đồng, bằng 95,3% kế hoạch năm và tăng 14,9% so với năm trước, trong đó vốn thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 21,2 nghìn tỷ đồng, bằng 101,3% và tăng 21,5%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 7.069 tỷ đồng, bằng 100,2% và tăng 14,4%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 2.725 tỷ đồng, bằng 84,6% và tăng 36,1%; Bộ Y tế 2.694 tỷ đồng, bằng 86,7% và tăng 17,1%; Bộ Xây dựng 903 tỷ đồng, bằng 97,3% và giảm 47,7%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 713 tỷ đồng, bằng 79,6% và tăng 4,4%; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch 564 tỷ đồng, bằng 83,2% và giảm 4%; Bộ Công Thương 463 tỷ đồng, bằng 99,6% và tăng 8,6%; Bộ Khoa học và Công nghệ 295 tỷ đồng, bằng 102% và giảm 10,8%; Bộ Thông tin và Truyền thông 122 tỷ đồng, bằng 90,3% và giảm 30,6%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 206 nghìn tỷ đồng, bằng 98,6% kế hoạch năm và tăng 15,2% so với năm 2015. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 146 nghìn tỷ đồng, bằng 94,7% và tăng 18,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 49,5 nghìn tỷ đồng, bằng 106,6% và tăng 8,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 10,5 nghìn tỷ đồng, bằng 126% và tăng 0,7%. Một số địa phương có số vốn thực hiện lớn: Hà Nội đạt 31,6 nghìn tỷ đồng, bằng 103,8% kế hoạch năm và tăng 45,5% so với năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 21,2 nghìn tỷ đồng, bằng 84,1% và tăng 9,4%; Quảng Ninh 7,7 nghìn tỷ đồng, bằng 120% và tăng 25,1%; Bình Dương 6,6 nghìn tỷ đồng, bằng 102,4% và tăng 32,7%; Nghệ An 5,6 nghìn tỷ đồng, bằng 96,6% và tăng 15,2%; Vĩnh Phúc 5,4 nghìn tỷ đồng, bằng 101,5% và tăng 6,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu 5 nghìn tỷ đồng, bằng 82,1% và tăng 8,9%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 26/12/2016 thu hút 2.556 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 15.182,3 triệu USD, tăng 27% về số dự án và giảm 2,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2015. Bên cạnh đó, có 1.225 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 5.765,1 triệu USD, tăng 50,5% về số dự án và giảm 19,7% về vốn tăng thêm.

Trong năm 2016 có 2.547 doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài góp vốn mua cổ phần (với tỷ lệ vốn lớn hơn 50% vốn điều lệ hoặc thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện) với tổng vốn đầu tư là 3.425,3 triệu USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần trong năm 2016 đạt 24.372,7 triệu USD, tăng 7,1% so với năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2016 ước tính đạt 15,8 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2015, đạt mức giải ngân vốn FDI cao nhất từ trước đến nay.

Trong năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 9.812,6 triệu USD, chiếm 64,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1.522,7 triệu USD, chiếm 10,1%; ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 367 triệu USD, chiếm 2,4%; các ngành còn lại đạt 3.480 triệu USD, chiếm 22,9%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước và góp vốn, mua cổ phần thì tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm nay đạt 15.538,6 triệu USD, chiếm 63,8% tổng vốn đăng ký; ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 1.899,2 triệu USD, chiếm 7,8%; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1.686,2 triệu USD, chiếm 6,9%; các ngành còn lại đạt 5.248,7 triệu USD, chiếm 21,5%.

Cả nước có 51 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong năm 2016, trong đó Hải Phòng có số vốn đăng ký lớn nhất với 2.464,3 triệu USD, chiếm 16,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hà Nội 1.922,8 triệu USD, chiếm 12,7%; Bình Dương 1.630,5 triệu USD, chiếm 10,7%; Đồng Nai 1.043,7 triệu USD, chiếm 6,9%; thành phố Hồ Chí Minh 1.006,7 triệu USD, chiếm 6,6%; Bắc Giang 937,5 triệu USD, chiếm 6,2%; Hà Nam 604,3 triệu USD, chiếm 4%.

Trong số 68 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam năm nay, Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 5.518,6 triệu USD, chiếm 36,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 1.590,5 triệu USD, chiếm 10,5%; Trung Quốc 1.263,2 triệu USD, chiếm 8,3%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 1.102,7 triệu USD, chiếm 7,3%; Nhật Bản 868,1 triệu USD, chiếm 5,7%; Đài Loan 826 triệu USD, chiếm 5,4%.

Tổng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi ký kết trong năm 2016 ước tính đạt 5,38 tỷ USD, tăng 39,7% so với năm 2015. Giá trị giải ngân vốn ODA và vốn vay ưu đãi từ đầu năm đến 21/12/2016 đạt khoảng 3,5 tỷ USD. Ước tính cả năm 2016, giải ngân ODA và vốn vay ưu đãi đạt 3,7 tỷ USD, bằng 80,4% mức giải ngân năm 2015.

 

 

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2016 ước tính đạt 943,3 nghìn tỷ đồng, bằng 93% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 744,9 nghìn tỷ đồng, bằng 94,9%; thu từ dầu thô đạt 37,7 nghìn tỷ đồng, bằng 69,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 156,2 nghìn tỷ đồng, bằng 90,8%.

Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất đạt 77,9 nghìn tỷ đồng, bằng 155,8% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 144,7 nghìn tỷ đồng, bằng 100,8%; thuế bảo vệ môi trường 38,7 nghìn tỷ đồng, bằng 100,7%; thuế thu nhập cá nhân 61,7 nghìn tỷ đồng, bằng 97%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 147,7 nghìn tỷ đồng, bằng 92,9%. Riêng thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 193,7 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 75,6% dự toán năm. Bộ Tài chính đang tích cực chỉ đạo các cơ quan Thuế, Hải quan quyết liệt thực hiện thu hồi nợ đọng thuế và các khoản phải thu qua công tác thanh tra, kiểm toán; đôn đốc thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước từ bán vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2016 ước tính đạt 1.135,5 nghìn tỷ đồng, bằng 89,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 190,5 nghìn tỷ đồng, bằng 74,7%; chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính đạt 786 nghìn tỷ đồng, bằng 95,4%; chi trả nợ và viện trợ đạt 150,3 nghìn tỷ đồng, bằng 96,9%.

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng Mười Một đạt 16.132 triệu USD, cao hơn 532 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 274 triệu USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 103 triệu USD; giày dép cao hơn 67 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 47 triệu USD; dầu thô cao hơn 30 triệu USD; điện tử máy tính và linh kiện thấp hơn 66 triệu USD; gạo thấp hơn 36 triệu USD.      

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 12/2016 ước tính đạt 16,00 tỷ USD, giảm 0,8% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,68 tỷ USD, tăng 8,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 11,32 tỷ USD, giảm 4,2%. Kim ngạch xuất khẩu giảm so với tháng trước chủ yếu do một số mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn giảm mạnh: Điện thoại và linh kiện giảm 11,4%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 4,5%, mặc dù có một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu tăng: Cà phê tăng 41,5%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 10,3%; hàng dệt, may tăng 5,4%; giày dép tăng 2,7%. So với tháng 12/2015, kim ngạch xuất khẩu tăng 16,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 6,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 22,1%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ: Điện thoại và linh kiện tăng 67,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 37,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 38,7%.

Tính chung cả năm 2016, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 175,9 tỷ USD, tăng 8,6% so với năm trước (Năm 2015 tăng 7,9%), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 50,0 tỷ USD, tăng 4,8%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 125,9 tỷ USD, tăng 10,2% (Nếu không kể dầu thô, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 123,5 tỷ USD, tăng 11,8%). Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm nay tăng thấp do giá hàng hóa xuất khẩu bình quân giảm 1,8% so với năm trước, trong đó nhóm hàng nhiên liệu giảm tới 20,1%; nhóm hàng nông sản thực phẩm giảm 3,8%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2016 đạt 179,2 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm 2015. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng gia công, lắp ráp (với tỷ trọng lớn thuộc về các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) tăng so với năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 34,5 tỷ USD, tăng 14,4%; dệt may đạt 23,6 tỷ USD, tăng 3,3%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 18,5 tỷ USD, tăng 18,4%; giày dép đạt 12,9 tỷ USD, tăng 7,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 10,5 tỷ USD, tăng 28,4%. Xuất khẩu một số mặt hàng nông sản và nguyên liệu thô giảm so với năm trước: Dầu thô đạt 2,3 tỷ USD, giảm 36,7% (lượng giảm 24,2%); gạo đạt 2,2 tỷ USD, giảm 21,7% (lượng giảm 25,7%); sắn và sản phẩm từ sắn đạt 996 triệu USD, giảm 24,3% (lượng giảm 10,9%).

Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm nay thay đổi không đáng kể so với năm trước, trong đó nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 79,8 tỷ USD, tăng 8,9% và chiếm 45,4% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 0,1 điểm phần trăm so với năm 2015); nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 71 tỷ USD, tăng 9% và chiếm 40,4% (tăng 0,2 điểm phần trăm); nhóm hàng nông, lâm sản đạt 18,1 tỷ USD, tăng 6,5% và chiếm 10,3% (giảm 0,2 điểm phần trăm); hàng thủy sản ước đạt 7 tỷ USD, tăng 6,8% và chiếm 4% (giảm 0,1 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu năm 2016, Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu với 38,1 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2015. Tiếp đến là thị trường EU đạt 34 tỷ USD, tăng 10%; Trung Quốc đạt 21,8 tỷ USD, tăng 26,3%; Nhật Bản đạt 14,6 tỷ USD, tăng 3,4%; Hàn Quốc đạt 11,5 tỷ USD, tăng 29%; riêng xuất khẩu sang thị trường ASEAN đạt 17,4 tỷ USD, giảm 4,8%.

b. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 11/2016 đạt 16.375 triệu USD, cao hơn 375 triệu USD so với số ước tính, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 237 triệu USD; xăng dầu cao hơn 75 triệu USD; vải cao hơn 63 triệu USD; hóa chất cao hơn 51 triệu USD; điện tử máy tính và linh kiện thấp hơn 69 triệu USD; sắt thép thấp hơn 58 triệu USD.

 

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 12/2016 ước tính đạt 16,30 tỷ USD, giảm 0,5% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,85 tỷ USD, giảm 0,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 9,45 tỷ USD, giảm 0,3%. Kim ngạch một số mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất giảm: Phương tiện vận tải khác và phụ tùng giảm 69,1%; xăng dầu giảm 13,3%; bông giảm 9,3%; vải giảm 6,2%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 12/2016 tăng 14,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 3,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 23,7%. Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng phục vụ cho gia công lắp ráp tăng mạnh: Điện thoại và linh kiện tăng 54,5%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép tăng 20%; chất dẻo tăng 18,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 13,2%.

 

Tính chung năm 2016, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 173,3 tỷ USD, tăng 4,6% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 71,1 tỷ USD, tăng 4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 102,2 tỷ USD, tăng 5,1%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2016 đạt 183 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm 2015. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước tăng so với năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 28,1 tỷ USD, tăng 1,8%; điện tử máy tính và linh kiện đạt 27,8 tỷ USD, tăng 20,1%; vải đạt 10,5 tỷ USD, tăng 3,4%; sắt thép đạt 8 tỷ USD, tăng 7,3%; chất dẻo đạt 6,3 tỷ USD, tăng 5,5%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 5,1 tỷ USD, tăng 1,9%; kim loại thường khác đạt 4,8 tỷ USD, tăng 13,4%; sản phẩm chất dẻo đạt 4,4 tỷ USD, tăng 17,1%; sản phẩm hóa chất đạt 3,8 tỷ USD, tăng 11%; hóa chất đạt 3,2 tỷ USD, tăng 1%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm so với năm 2015: Điện thoại và linh kiện đạt 10,6 tỷ USD, giảm 0,3%; xăng dầu đạt 4,7 tỷ USD, giảm 11,7% (lượng tăng 14,2%); ôtô đạt 5,9 tỷ USD, giảm 2,3%; trong đó ôtô nguyên chiếc đạt 2,3 tỷ USD, giảm 22,1%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,8 tỷ USD, giảm 15,7%; phương tiện vận tải khác và phụ tùng đạt 1,4 tỷ USD, giảm 36,2%; phân bón đạt 1,1 tỷ USD, giảm 22%.

 

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu năm 2016, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 157,9 tỷ USD, tăng 4,4% so với năm 2015 và chiếm 91,1% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (giảm 0,2 điểm phần trăm so với năm 2015), trong đó nhóm máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 71,8 tỷ USD, tăng 5,6% và chiếm 41,4% (tăng 0,3 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu đạt 86,1 tỷ USD, tăng 3,5% và chiếm 49,7% (giảm 0,5 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng đạt 15,4 tỷ USD, tăng 6,8% và chiếm 8,9% (tăng 0,2 điểm phần trăm).

 

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu năm 2016, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nước ta với kim ngạch đạt 49,8 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm 2015; Hàn Quốc đạt 31,7 tỷ USD, tăng 14,6%; ASEAN đạt 23,7 tỷ USD, giảm 0,3%; Nhật Bản đạt gần 15 tỷ USD, tăng 4,3%; EU đạt 11,1 tỷ USD, tăng 6,7%; Hoa Kỳ đạt 8,7 tỷ USD, tăng 11,6%.

 

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Mười Một nhập siêu 243 triệu USD[13]. Tháng Mười Hai ước tính nhập siêu 300 triệu USD, tính chung cả năm 2016 xuất siêu 2,68 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 21,02 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 23,70 tỷ USD. Trung Quốc vẫn tiếp tục là thị trường mà Việt Nam nhập siêu lớn nhất với 28 tỷ USD trong năm 2016, giảm 14,9% so với năm 2015. Nhập siêu từ Hàn Quốc là 20,2 tỷ USD, tăng 8%; nhập siêu từ ASEAN là 6,3 tỷ USD, tăng 12,5%. Hai thị trường vẫn giữ được mức xuất siêu là Hoa Kỳ với 29,4 tỷ USD, tăng 14,8% so với năm 2015; EU là 22,9 tỷ USD, tăng 12,3%.

 

Nhìn chung, sự cố Galaxy Note 7 không ảnh hưởng nhiều đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nói chung cũng như đối với nhóm hàng điện thoại và linh kiện nói riêng do Samsung đã ra các dòng sản phẩm khác để bù đắp. Trong 3 tháng cuối năm 2016, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng điện thoại và linh kiện vẫn tăng so với cùng kỳ (Tháng 10 đạt 2,8 tỷ USD, tăng 6,4%; tháng 11 đạt 3,3 tỷ USD, tăng 17,7%; tháng 12 đạt 2,9 tỷ USD, tăng 67,9%). Tính chung cả năm, kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện đạt 34,5 tỷ USD, tăng 14,4% so với năm 2015 (năm 2015 đạt 30,2 tỷ USD, tăng 28% so với năm trước). Tuy sự cố Galaxy Note 7 không ảnh hưởng nhiều đến việc giảm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam nhưng dự báo mức tăng trưởng của nhóm hàng này sẽ chậm dần trong các năm tới.

 

Về tác động của sự kiện Brexit đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam: Trong khối EU, Anh là đối tác thương mại đứng thứ 3 về xuất khẩu của Việt Nam sau Đức và Hà Lan với tỷ trọng chiếm khoảng 13%-15% tổng kim ngạch xuất khẩu với EU. Về nhập khẩu, Anh đứng thứ 4 sau Đức, Pháp và Italia, chiếm khoảng 7% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ EU. Thị trường Anh chỉ chiếm gần 3% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và 0,4% tổng kim ngạch nhập khẩu. Anh là thị trường luôn đạt mức xuất siêu: Năm 2014 là 3 tỷ USD, năm 2015 là 3,9 tỷ USD và năm 2016 ước tính là 4,1 tỷ USD, cho thấy đây là thị trường nhiều tiềm năng đối với hàng hóa Việt Nam. Theo Hiệp ước, nước Anh cần 2 năm để tiến hành các thủ tục chính thức cho việc rời khỏi EU. Như vậy, trong năm 2016 sự kiện Brexit hầu như không có tác động trực tiếp đến luồng hàng hóa giao dịch giữa 2 quốc gia.

 

c. Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2016 ước tính đạt 12,3 tỷ USD, tăng 8,9% so với năm 2015, trong đó dịch vụ du lịch đạt 8,3 tỷ USD, chiếm 67,3% và tăng 12,2%; dịch vụ vận tải 2,4 tỷ USD, chiếm 20% và tăng 0,7%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2016 ước tính đạt 17,7 tỷ USD, tăng 7% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 8,9 tỷ USD, chiếm 50,6% và tăng 3,8%; dịch vụ du lịch 4,5 tỷ USD, chiếm 25,4% và tăng 27,9%. Nhập siêu dịch vụ năm 2016 là 5,4 tỷ USD, bằng 44,1% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

Năm 2016, tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP là 91,6%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP là 88,4%; tính chung tỷ lệ xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP là 180,0%. Điều đó cho thấy độ mở của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là khá cao.

 

 
5. Chỉ số giá

a. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2016 tăng 0,23% so với tháng trước, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 5,30% (dịch vụ y tế tăng 6,93%) do trong tháng có 4 tỉnh, thành phố[14] thực hiện điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế bước 2 theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính (tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,27%). Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,25% do nhu cầu mua sắm hàng mùa đông tăng lên; đồ uống và thuốc lá tăng 0,21%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,19% do giá gas còn ảnh hưởng từ đợt tăng giá tháng trước và nhu cầu sửa chữa nhà ở tăng cao trong những tháng cuối năm; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm: Giao thông giảm 0,89%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,03%, trong đó lương thực tăng 0,22%[15], thực phẩm giảm 0,12%; bưu chính viễn thông giảm 0,03%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,02%. Riêng nhóm giáo dục giá không đổi so với tháng trước.

CPI tháng 12/2016 tăng 4,74% so với tháng 12/2015, bình quân mỗi tháng tăng 0,4%. CPI bình quân năm 2016 tăng 2,66% so với bình quân năm 2015. Mức tăng CPI tháng 12/2016 so với cùng kỳ năm 2015 và mức tăng CPI bình quân năm 2016 so với bình quân năm 2015 tăng cao hơn so với năm trước, nhưng thấp hơn nhiều so với mức tăng CPI bình quân của một số năm gần đây[16], đồng thời vẫn nằm trong giới hạn mục tiêu 5% mà Quốc hội đề ra. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2016 so với cùng kỳ năm 2015 tăng chủ yếu do một số nguyên nhân sau:

- Giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính có hiệu lực từ ngày 01/3/2016. Giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 77,57% làm chỉ số CPI tăng khoảng 2,7%.

 - Cả nước có 53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện điều chỉnh tăng giá học phí theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ làm chỉ số giá nhóm giáo dục tháng 12/2016 tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước (tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,58%).

- Trong năm có nhiều kỳ nghỉ kéo dài nên nhu cầu mua sắm, vui chơi, giải trí tăng cao, giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng lên. Ngoài ra, thiên tai và thời tiết bất lợi, rét đậm rét hại trên diện rộng ở phía Bắc; mưa lũ, ngập lụt nghiêm trọng ở miền Trung; khô hạn ở Tây Nguyên và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng làm chỉ số giá nhóm lương thực tháng 12/2016 tăng 2,57% so với cùng kỳ năm 2015.

Bên cạnh đó, trong năm 2016 có một số yếu tố góp phần kiềm chế CPI: (1) Mặc dù nhu cầu hàng hóa phục vụ trong dịp Tết Nguyên đán tăng, nhưng do giá xăng dầu và giá cước vận tải giảm, nguồn cung hàng hóa dồi dào nên giá cả không biến động lớn; (2) Giá nhiên liệu trên thị trường thế giới giảm mạnh dẫn đến giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm, tác động làm chỉ số giá nhóm giao thông giảm theo; (3) Các cấp, các ngành tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đồng thời thực hiện các chính sách bình ổn giá một số mặt hàng thiết yếu, ổn định giá cả thị trường trong dịp Tết Nguyên đán.

Lạm phát cơ bản tháng 12/2016 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2016 tăng 1,83% so với bình quân năm 2015.

b. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 12/2016 giảm 2,52% so với tháng trước; tăng 10,98% so với cùng kỳ năm 2015; bình quân năm 2016 tăng 5,95% so với năm 2015. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2016 tăng 1,52% so với tháng trước và tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2015; bình quân năm 2016 tăng 2,23% so với năm 2015.

c. Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2016 tăng 1,71% so với năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 2,02%; sản phẩm lâm nghiệp tăng 2,91% và sản phẩm thủy sản tăng 0,45%. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý IV tăng 1,02% so với kỳ trước và tăng 4,54% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp năm nay giảm 0,49% so với năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 5,49%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,03%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,1%; nước sạch, nước thải, xử lý nước thải, rác thải tăng 1,31%. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý IV tăng 0,38% so với kỳ trước và tăng 0,87% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất năm nay giảm 0,78% so với năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,59%; sử dụng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,73%; sử dụng cho xây dựng giảm 1,37%. Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý IV giảm 0,33% so với kỳ trước và giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá cước vận tải, kho bãi năm 2016 giảm 1,77% so với năm 2015, trong đó giá cước vận tải hành khách giảm 0,61%; giá cước vận tải hàng hóa giảm 4,04%; giá cước dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 3,13%. Chỉ số giá cước vận tải các ngành đường trong năm như sau: Giá cước ngành đường sắt giảm 4,04%% so với năm trước; giá cước vận tải đường bộ và xe buýt giảm 2,35%; đường thủy giảm 4,99%; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 3,25%. Chỉ số giá cước vận tải quý IV năm nay tăng 0,16% so với kỳ trước và giảm 0,75% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ năm 2016 tăng 2,38% so với năm trước, trong đó chỉ số giá dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 3,12%; thông tin và truyền thông tăng 0,22%; giáo dục và đào tạo tăng 5,54%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 25,37%; hoạt động chuyên môn, khoa học, công nghệ tăng 0,5%; hoạt động hành chính và hỗ trợ tăng 2,02%. Chỉ số giá dịch vụ quý IV tăng 1,07% so với kỳ trước và tăng 3,25% so với cùng kỳ năm trước.

d. Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu năm 2016 giảm 1,83% so với năm trước, trong đó chỉ số giá xuất khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 3,79%; nhóm nhiên liệu giảm 20,12%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 0,72%. Chỉ số giá xuất khẩu một số mặt hàng giảm mạnh so với năm trước: Xăng dầu giảm 23,12%; sắt, thép giảm 22,76%; dầu thô giảm 21,52%; cà phê giảm 11,62%; hóa chất giảm 10,79%; hạt tiêu giảm 10,1%. Chỉ số giá xuất khẩu quý IV tăng 1,92% so với kỳ trước và tăng 2,20% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá nhập khẩu năm 2016 giảm 5,35% so với năm 2015, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 4,36%; nhóm nhiên liệu giảm 19,4%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 4,19%. Chỉ số giá nhập khẩu một số mặt hàng giảm mạnh so với năm trước: Xăng dầu các loại giảm 20,43%; sắt, thép giảm 18,11%; hóa chất giảm 9,39%; khí đốt hóa lỏng giảm 8,71%. Chỉ số giá nhập khẩu quý IV tăng 0,33% so với kỳ trước và giảm 1,17% so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ giá thương mại hàng hóa[17] năm nay tăng 3,72% so với năm trước, trong đó tỷ giá thương mại hàng hóa của hàng thủy sản giảm 1,59%; hóa chất giảm 1,54%; xăng dầu các loại giảm 3,38%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 5,89%. Tỷ giá thương mại hàng hóa quý IV tăng 1,59% so với kỳ trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước.

 

 

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2016 của cả nước ước tính 92,70 triệu người, tăng 987,8 nghìn người, tương đương tăng 1,08% so với năm 2015, bao gồm dân số thành thị 32,06 triệu người, chiếm 34,6%; dân số nông thôn 60,64 triệu người, chiếm 65,4%; dân số nam 45,75 triệu người, chiếm 49,4%; dân số nữ 46,95 triệu người, chiếm 50,6%.

Theo kết quả Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2016, tổng tỷ suất sinh năm nay ước tính đạt 2,09 con/phụ nữ, tiếp tục duy trì ở mức sinh thay thế. Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh là 112,2 bé trai/100 bé gái; tỷ suất sinh thô là 15,74‰; tỷ suất chết thô là 6,83‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (số trẻ em dưới 1 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh ra sống) là 14,52‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi (số trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh ra sống) là 21,80‰. Tỷ suất chết ở mức thấp thể hiện rõ hiệu quả của chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em nói riêng và công tác bảo vệ sức khỏe, nâng cao mức sống cho người dân nói chung trong thời gian qua. Tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2016 là 73,4 năm, trong đó nam là 70,8 năm và nữ là 76,1 năm.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2016 ước tính là 54,4 triệu người, tăng 455,6 nghìn người so với năm 2015, bao gồm: Lao động nam 28,1 triệu người, chiếm 51,6%; lao động nữ 26,3 triệu người, chiếm 48,4%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 17,5 triệu người, chiếm 32,1%; khu vực nông thôn là 36,9 triệu người, chiếm 67,9%.

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của cả nước năm 2016 ước tính 47,7 triệu người, tăng 275,9 nghìn người so với năm trước, trong đó lao động nam 25,8 triệu người, chiếm 54,1%; lao động nữ 21,9 triệu người, chiếm 45,9%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị là 16,0 triệu người, chiếm 33,4%; khu vực nông thôn là 31,8 triệu người, chiếm 66,6%.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2016 ước tính 53,3 triệu người, tăng 451,1 nghìn người so với năm 2015. Trong tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2016, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 41,9% (Năm 2015 là 44,0%); khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 24,7% (Năm 2015 là 22,8%); khu vực dịch vụ chiếm 33,4% (Năm 2015 là 33,2%). Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2016 khu vực thành thị chiếm 31,9% (Năm 2015 là 31%); khu vực nông thôn chiếm 68,1% (Năm 2015 là 69%). Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo năm 2016 ước tính đạt 20,6%, cao hơn mức 19,9% của năm trước.

Số người có việc làm trong quý I năm nay ước tính là 53,3 triệu người, tăng 861,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; quý II là 53,2 triệu người, tăng 708,7 nghìn người; quý III là 53,3 triệu người, tăng 104,6 nghìn người; quý IV là 53,4 triệu người, giảm 96,2 nghìn người.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2016 là 2,30% (Năm 2015 là 2,33%; năm 2014 là 2,10%), trong đó khu vực thành thị là 3,18% (Năm 2015 là 3,37%; năm 2014 là 3,40%); khu vực nông thôn là 1,86% (Năm 2015 là 1,82%; năm 2014 là 1,49%). Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) năm 2016 là 7,34%, trong đó khu vực thành thị là 11,30%; khu vực nông thôn là 5,74%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2016 là 1,64%, thấp hơn mức 1,89% của năm 2015 và 2,40% của năm 2014, trong đó khu vực thành thị là 0,73% (Năm 2015 là 0,84%; năm 2014 là 1,20%); khu vực nông thôn là 2,10% (Năm 2015 là 2,39%; năm 2014 là 2,96%).

 Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[18] năm 2016 ước tính là 55,9% (Năm 2015 là 56,4%; năm 2014 là 56,6%), trong đó khu vực thành thị là 47,0%; khu vực nông thôn là 64,1%.

 
 

2. Năng suất lao động

Năng suất lao động xã hội[19] của toàn nền kinh tế năm 2016 theo giá hiện hành ước tính đạt 84,5 triệu đồng/lao động (Tương đương khoảng 3.853 USD/lao động). Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2016 ước tính tăng 5,31% so với năm 2015. Theo khu vực kinh tế, năng suất lao động bình quân trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt thấp nhất với 32,9 triệu đồng/lao động; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 112,0 triệu đồng/lao động; khu vực dịch vụ đạt 103,5 triệu đồng/lao động.

Mặc dù năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm[20] nhưng còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực. Năm 2015, năng suất lao động của Việt Nam theo giá hiện hành đạt 3.660 USD, chỉ bằng 4,4% của Xin-ga-po; 17,4% của Ma-lai-xi-a; 35,2% của Thái Lan; 48,5% của Phi-li-pin và 48,8% của In-đô-nê-xi-a.

3. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Năm 2016, cả nước có 265,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, tăng 16,7% so với năm trước, tương ứng với 1.099 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, tăng 16,4%. Thiếu đói tập trung chủ yếu vào các tháng đầu năm, trong đó tháng Hai có 75,3 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 302 nghìn nhân khẩu thiếu đói, tháng Năm có 58,4 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 242,2 nghìn nhân khẩu thiếu đói; từ tháng Sáu cho đến cuối năm, thiếu đói trong nông dân có xu hướng giảm dần. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thiếu đói tăng so với cùng kỳ năm trước là do ảnh hưởng của thiên tai, hạn hán và tình trạng xâm nhập mặn nghiêm trọng tại một số khu vực, đặc biệt là ở các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 19,4 nghìn tấn lương thực, riêng tháng 12/2016 hỗ trợ 988 tấn lương thực. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2016 ước tính 5,8%-6,0%. Nếu theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020[21], tỷ lệ hộ nghèo ước tính khoảng 10%.

Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong năm 2016 là 7303 tỷ đồng, bao gồm: 3786 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 2470 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 1047 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có hơn 18,3 triệu bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí đã được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

Sự cố môi trường biển xảy ra cuối tháng Tư tại 4 tỉnh miền Trung: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế làm hải sản chết bất thường, gây thiệt hại lớn về kinh tế - xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân địa phương. Để hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng sự cố trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 772/QĐ-TTg ngày 09/5/2016 về việc hỗ trợ khẩn cấp cho người dân tại các tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế bị ảnh hưởng do hải sản chết bất thường. Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành, địa phương liên quan khẩn trương xác định thiệt hại, xây dựng định mức bồi thường, hỗ trợ để người dân tại 4 tỉnh sớm ổn định sản xuất và đời sống. Đến cuối tháng 10/2016, các địa phương đã tiến hành chi trả tiền đền bù đợt 1 cho người dân. Đồng thời tuyên truyền, vận động bà con ngư dân sử dụng tiền bồi thường để đầu tư chuyển đổi ngành nghề, đóng mới, cải hoán tàu thuyền, mua lưới và ngư cụ, tạo công ăn việc làm và đảm bảo thu nhập lâu dài, hạn chế mua sắm các tài sản không cần thiết.

4. Giáo dục, đào tạo

Tính đến cuối năm 2016, cả nước có 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2.

Tại thời điểm khai giảng năm học 2016-2017, cả nước có trên 4,9 triệu trẻ em đi học mầm non, bao gồm 0,7 triệu trẻ em đi nhà trẻ và 4,2 triệu trẻ em đi học mẫu giáo; 15,7 triệu học sinh phổ thông đến trường, bao gồm 7,7 triệu học sinh tiểu học; 5,5 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,5 triệu học sinh trung học phổ thông.

Công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng năm học 2016-2017 đã có sự điều chỉnh nhằm đáp ứng tốt hơn cơ hội lựa chọn những ngành nghề phù hợp với nguyện vọng của thí sinh và đảm bảo quyền tự chủ tuyển sinh của các trường. Kỳ thi tuyển sinh năm học này đã có gần 300 trường có đề án tự chủ tuyển sinh, tăng 100 trường so với năm học trước.

5. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng 12/2016, cả nước có 5,1 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (1 trường hợp tử vong); 9,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (6 trường hợp tử vong); 141 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 152 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (10 trường hợp tử vong); 6 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 84 trường hợp nhiễm vi rút Zika. Tính chung năm 2016, cả nước có gần 47,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (1 trường hợp tử vong); 106,3 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (36 trường hợp tử vong); 469 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 962 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (34 trường hợp tử vong); 59 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (5 trường hợp tử vong) và 152 trường hợp nhiễm vi rút Zika.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/12/2016 là 231,6 nghìn người, trong đó 87,8 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 89,5 nghìn người.

Trong tháng đã xảy ra 10 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 547 người bị ngộ độc. Tính chung năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 129 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 4.139 người bị ngộ độc, trong đó 12 trường hợp tử vong.

6. Hoạt động văn hóa và thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa năm 2016 tập trung chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước; chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Các hoạt động văn hóa được tổ chức dưới nhiều hình thức, bảo đảm thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm; tạo không khí hồ hởi, phấn khởi trong nhân dân. Năm 2016 cũng diễn ra nhiều hoạt động nổi bật trong lĩnh vực sân khấu, điện ảnh và âm nhạc như Liên hoan phim quốc tế Hà Nội lần thứ 4; Liên hoan quốc tế sân khấu thử nghiệm lần thứ 3; Liên hoan âm nhạc Á-Âu lần thứ 2; Hội nghị Hiệp hội các nhà soạn nhạc châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 34 và Hội sách Hà Nội.

Công tác tổ chức và quản lý lễ hội được quan tâm thực hiện nhằm phát huy tính tích cực của lễ hội dân gian, phù hợp với lịch sử và truyền thống văn hóa của dân tộc; tăng cường kiểm tra và kiên quyết xử lý những lễ hội có vi phạm, không đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường.

Năm 2016, Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tính đến thời điểm này, Việt Nam đã có 11 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại được UNESCO công nhận.

Trong năm 2016, ngành Thể dục thể thao tiếp tục duy trì và đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” với nhiệm vụ trọng tâm là tổ chức “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe nhân dân”. Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức chương trình Bơi an toàn phòng chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2016-2020 và Hội khỏe Phù Đổng lần thứ IX tại một số khu vực. Tại Thế vận hội Paralympic Rio 2016, đoàn thể thao Người khuyết tật Việt Nam đã xuất sắc đoạt 1 huy chương vàng; 1 huy chương bạc và 2 huy chương đồng, xếp thứ 55/83 đoàn giành được huy chương trong tổng số 162 quốc gia, vùng lãnh thổ tham dự.

Hoạt động thể thao thành tích cao trong năm đạt được nhiều kết quả nổi bật, giành được 1097 huy chương trong các giải đấu, bao gồm: 51 huy chương tại đấu trường thế giới (13 huy chương vàng, 15 huy chương bạc, 23 huy chương đồng); 405 huy chương tại đấu trường châu Á (146 huy chương vàng, 124 huy chương bạc, 135 huy chương đồng); 579 huy chương tại đấu trường ASEAN (277 huy chương vàng, 201 huy chương bạc, 151 huy chương đồng) và 12 huy chương tại các giải mở rộng khác. Đặc biệt, Thể thao Việt Nam lần đầu tiên giành được 1 huy chương vàng và 1 huy chương bạc, xếp vị trí thứ 48/206 quốc gia, vùng lãnh thổ tại Thế vận hội Olympic Rio 2016.

7. Tai nạn giao thông

Trong tháng Mười Hai (từ 16/11 đến 15/12), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.696 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 833 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 863 vụ va chạm giao thông, làm 721 người chết; 216 người bị thương và 955 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 4,5% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 1,8%; số vụ va chạm giao thông giảm 9,9%); số người chết tăng 3%; số người bị thương giảm 58,8% và số người bị thương nhẹ giảm 16,9%.

Tính chung năm 2016, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 21.589 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 10.349 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 11.240 vụ va chạm giao thông, làm 8.685 người chết; 6.180 người bị thương và 13.100 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông năm nay giảm 5,5% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 1,1%; số vụ va chạm giao thông giảm 9,2%); số người chết giảm 0,5%; số người bị thương tăng 3,3% và số người bị thương nhẹ giảm 13,2%. Bình quân 1 ngày trong năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 59 vụ tai nạn giao thông, gồm 28 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 31 vụ va chạm giao thông, làm 24 người chết, 17 người bị thương và 36 người bị thương nhẹ.

8. Thiệt hại do thiên tai [22]

Trong năm 2016, rét đậm, rét hại trên diện rộng ở miền núi phía Bắc, mưa lũ, ngập lụt nghiêm trọng ở miền Trung, khô hạn ở Tây Nguyên và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long đã ảnh hưởng nặng nề tới sản xuất và đời sống của dân cư. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai làm 248 người chết và mất tích; 470 người bị thương; gần 4,6 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; 361,7 nghìn ngôi nhà bị ngập, sạt lở, tốc mái; 258,3 nghìn ha lúa, 113,2 nghìn ha hoa màu và 49,8 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; 52,1 nghìn con gia súc, 1.679,5 nghìn gia cầm và hơn 1 nghìn tấn thủy sản các loại bị chết. Một số địa phương bị thiệt hại nhiều: Quảng Bình 24 người chết và mất tích, 188 người bị thương, gần 95,2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái, 9,6 nghìn ha lúa, hoa màu và 3,4 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; 15,4 nghìn con gia súc và 975,4 nghìn gia cầm bị chết. Thái Bình 46 người bị thương, gần 3,4 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái, 42 nghìn ha lúa, hoa màu và 9,8 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm ước tính gần 18,3 nghìn tỷ đồng, trong đó Quảng Bình thiệt hại 2,9 nghìn tỷ đồng và Thái Bình thiệt hại 2,6 nghìn tỷ đồng.

Theo báo cáo sơ bộ, riêng 2 đợt lũ cuối tháng Mười Một và trung tuần tháng Mười Hai vừa qua tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên đã làm 60 người chết, mất tích và 24 người bị thương; gần 108,5 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái; 18 nghìn ha lúa, 21,1 nghìn ha hoa màu và 3,7 nghìn ha diện tích nuôi trồng thủy sản bị hư hỏng; 10,5 nghìn con gia súc, 174 nghìn gia cầm bị chết. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 2,6 nghìn tỷ đồng. Bình Định là địa phương bị thiệt hại nặng nhất với 34 người chết và 11 người bị thương; 97,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái, 6,8 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; gần 7 nghìn con gia súc và 165,7 nghìn gia cầm bị chết. Tổng giá trị thiệt hại của Bình Định ước tính khoảng 1,2 nghìn tỷ đồng.

9. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng 12/2016, cơ quan chức năng đã phát hiện 898 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 719 vụ với tổng số tiền phạt 7,8 tỷ đồng. Tính chung năm 2016, đã phát hiện 14.580 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 8.249 vụ với tổng số tiền phạt hơn 462 tỷ đồng.

Trong tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 384 vụ cháy, nổ làm 20 người chết và 20 người bị thương, thiệt hại ước tính 261 tỷ đồng. Tính chung năm 2016, cả nước xảy ra 3.256 vụ cháy, nổ làm 135 người chết và 278 người bị thương, thiệt hại ước tính 1.474 tỷ đồng.

Khái quát lại, năm 2016 mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng tình hình kinh tế - xã hội nước ta đã chuyển biến tích cực và đạt được kết quả quan trọng. Kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát; thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng diễn biến tích cực; mặt bằng lãi suất, tỷ giá ổn định. Môi trường kinh doanh được cải thiện rõ rệt; số doanh nghiệp mới thành lập và quay trở lại hoạt động tăng cao; thu hút khách du lịch quốc tế đạt mốc 10 triệu. Các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và đạt kết quả nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh các mặt tích cực, nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, thách thức: Tốc độ tăng trưởng chưa đạt như kỳ vọng, xuất nhập khẩu chưa có cải thiện nhiều, tình trạng cháy rừng xảy ra còn lớn; đời sống nhân dân ở các vùng bị thiên tai, vùng bị ô nhiễm môi trường còn gặp nhiều khó khăn.

Năm 2017 có ý nghĩa rất quan trọng, năm then chốt trong việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, như nền kinh tế tiếp tục phục hồi môi trường kinh doanh thông thoáng tạo niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp, tình hình kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát..., dự báo năm 2017 sẽ có nhiều khó khăn, thách thức tác động đến kinh tế nước ta. Tăng trưởng kinh tế thế giới dự báo có xu hướng cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp[23]. Thị trường tài chính tiền tệ, giá cả hàng hóa thế giới diễn biến phức tạp; sự kiện nước Anh rời khỏi Liên minh châu Âu và xu hướng bảo hộ mậu dịch của một số nền kinh tế lớn sẽ tác động đến kinh tế nước ta. Ở trong nước, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, các cân đối của nền kinh tế chưa thật sự vững chắc. Bội chi ngân sách Nhà nước và nợ công tăng. Hệ thống các tổ chức tín dụng đang tồn tại nhiều rủi ro. Thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp; những tác động xấu của biến đổi khí hậu, đặc biệt là hạn hán, xâm nhập mặn nghiêm trọng tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân.

Để hoàn thành tốt mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 đã được Quốc hội thông qua, trong đó có chỉ tiêu GDP tăng khoảng 6,7%, tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 6-7%..., các cấp, các ngành và địa phương phải nhận thức đúng và đầy đủ những khó khăn, thách thức phía trước để kịp thời có các giải pháp khắc phục ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm 2017, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

Một là, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và hoạt động ngân hàng hiệu quả, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Tăng trưởng tín dụng hợp lý, điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế để góp phần thúc đẩy sản xuất và thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát. Tái cơ cấu các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu, xử lý các vướng mắc về cơ chế, tạo thuận lợi cho việc mở rộng tín dụng phục vụ phát triển kinh tế, đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của người gửi tiền.

Hai là, thực hiện nghiêm luật Ngân sách Nhà nước và kỷ luật tài khóa. Nuôi dưỡng nguồn thu ngân sách Nhà nước, đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời. Tăng cường các biện pháp chống thất thu, chuyển giá và nợ đọng thuế. Giám sát chặt chẽ các khoản chi từ ngân sách Nhà nước, đặc biệt là đầu tư công. Triệt để tiết kiệm chi tiêu thường xuyên, nhất là kinh phí hội nghị, tiếp khách, đi công tác nước ngoài, sử dụng xe công. Thực hiện các giải pháp về tái cơ cấu thu - chi ngân sách Nhà nước và nợ công, tăng cường quản lý nợ công, nhất là các khoản vay mới. Tính toán lộ trình điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý giá, bảo đảm không ảnh hưởng lớn đến mặt bằng giá và phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2017.  

Ba là, tập trung thực hiện cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với lợi thế, nhu cầu thị trường, thích nghi với biến đổi khí hậu. Đẩy nhanh nghiên cứu và đưa vào sử dụng các loại giống chất lượng; thực hiện các biện pháp thâm canh, ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Tăng cường phòng chống, kiểm soát dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm. Đối với các tỉnh bị xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh thường xuyên bị hạn hán ở Tây Nguyên, Nam Trung Bộ cần quy hoạch lại cơ cấu sản xuất các ngành, nhất là trong sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo hướng hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn. Đồng thời chủ động tiến hành tu bổ, nạo vét hệ thống kênh mương, công trình thủy lợi ngăn mặn, xây dựng các hồ chứa để giữ nước ngọt phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân.

Bốn là, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến sâu, gắn với các lợi thế về nguồn nguyên liệu nông, lâm nghiệp, thuỷ sản. Tạo điều kiện thuận lợi phát triển công nghiệp hỗ trợ, tham gia vào chuỗi sản xuất, phân phối toàn cầu. Tiếp tục đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa và thoái vốn Nhà nước tại doanh nghiệp bảo đảm công khai, minh bạch, tránh thất thoát tiền và tài sản Nhà nước.

Năm là, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, phát triển thị trường xuất khẩu, bao gồm cả thị trường truyền thống và các thị trường có sức mua tiềm năng cao. Khuyến khích xuất khẩu các nhóm hàng, mặt hàng có khả năng cạnh tranh, thị trường ổn định. Chủ động xây dựng và thực hiện các phương án, giải pháp để ứng phó trước các diễn biến mới liên quan đến TPP, Brexit. ng cường hoạt động dự báo thị trường trong và ngoài nước, phổ biến kịp thời thông tin thị trường, sớm phát hiện và có biện pháp vượt qua các rào cản kỹ thuật. Chủ động triển khai thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do đã ký kết.

Sáu là, phát triển mạnh thị trường trong nước, hệ thống bán lẻ gắn với tiêu thụ hàng nội địa. Tiếp tục triển khai thực hiện các biện pháp để đưa cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” thực sự đi vào cuộc sống, gắn với thúc đẩy sản xuất và phát triển thị trường nội địa. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thị trường, ngăn ngừa buôn lậu, gian lận thương mại, hàng nhái, hàng giả, kém chất lượng để bảo vệ sản xuất trong nước và quyền lợi của người tiêu dùng.

Bảy là, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kiểm soát chặt chẽ việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư. Kiên quyết không chấp thuận đầu tư, cấp phép, triển khai các dự án không bảo đảm tiêu chuẩn môi trường, có nguy cơ gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Thực hiện các biện pháp đồng bộ cải thiện chất lượng môi trường, xử lý triệt để nguồn gây ô nhiễm, nhất là tại các làng nghề, khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, các lưu vực sông, vùng ven biển, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm nặng. Kiên quyết xử lý dứt điểm tình trạng khai thác sỏi, đá, cát lậu.

Tám là, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, trước mắt là trong dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, đảm bảo kịp thời, đúng đối tượng. Triển khai có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, sớm khôi phục sản xuất và ổn định đời sống./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 

 



[1] Mức tăng so với năm trước của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản một số năm: Năm 2011 tăng 4,23%; năm 2012 tăng 2,92%; năm 2013 tăng 2,63%; năm 2014 tăng 3,44%; năm 2015 tăng 2,41%.

[2] Mức tăng/giảm so với năm trước của ngành khai khoáng một số năm: Năm 2011 tăng 2,90%; năm 2012 tăng 5,14%; năm 2013 giảm 0,23%; năm 2014 tăng 2,26%; năm 2015 tăng 6,50%.

[3] Sản lượng lúa cả năm năm 2015 đạt 45,09 triệu tấn, tăng 118 nghìn tấn so với năm 2014.

[4] Sản lượng lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm 2016 đạt 9,99 triệu tấn, giảm 1,14 triệu tấn (giảm 10,2%) so với vụ đông xuân trước.

[5] Trong đó diện tích gieo cấy lúa thu đông năm nay của vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 701 nghìn ha, tăng 20,8 nghìn ha so với năm 2015; năng suất đạt 52,2 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha; sản lượng đạt 3,66 triệu tấn, tăng 95 nghìn tấn.

[6] Diện tích cây ăn quả cho sản phẩm đạt 711,5 nghìn ha, tăng 3,4% so với năm 2015, trong đó: cam tăng 12,1%; bưởi tăng 7,3%; chuối tăng 3,6%; xoài tăng 1,2%.

[7] Sản lượng vải đạt 310,9 nghìn tấn, giảm 12,8% so năm 2015; nhãn đạt 504,1 nghìn tấn, giảm 1,7%.

[8] Tính đến ngày 26/12/2016, cả nước không còn dịch bệnh trên gia súc và gia cầm.

[9] Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2016 ước tính tăng 11,2%; chỉ số tiêu thụ tháng 11 tăng 11,9%; chỉ số tồn kho sản phẩm thời điểm 01/12/2016 tăng 8,1%.

[10] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[11] Chủ yếu do lượng khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười Một đạt mức kỷ lục với 936,8 nghìn lượt người.

[12] Bao gồm: Vương quốc Anh, Cộng hòa Pháp, CHLB Đức, Vương quốc Tây Ban Nha và Cộng hòa I-ta-li-a.

[13] Ước tính nhập siêu 400 triệu USD.

[14] Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

[15] Chủ yếu do nhu cầu cho chế biến phục vụ hàng Tết Nguyên đán tăng và giá gạo ở một số tỉnh  miền Trung tăng cao do ảnh hưởng mưa lũ.

[16] CPI tháng 12 so với cùng kỳ năm trước: Năm 2002 tăng 4%; năm 2003 tăng 3%; năm 2004 tăng 9,5%; năm 2005 tăng 8,4%; năm 2006 tăng 6,6%; năm 2007 tăng 12,63%; năm 2008 tăng 19,89%; năm 2009 tăng 6,52%; năm 2010 tăng 11,75%; năm 2011 tăng 18,13%; năm 2012 tăng 6,81%; năm 2013 tăng 6,04%; năm 2014 tăng 1,84%; năm 2015 tăng 0,60%.

CPI bình quân các năm so với năm trước: Năm 2002 tăng 3,9%; năm 2003 tăng 3,18%; năm 2004 tăng 7,7%;  năm 2005 tăng 8,3%; năm 2006 tăng 7,5%; năm 2007 tăng 8,3%; năm 2008 tăng 22,97%; năm 2009 tăng 6,88%; năm 2010 tăng 9,19%; năm 2011 tăng 18,58%; năm 2012 tăng 9,21%; năm 2013 tăng 6,6%; năm 2014 tăng 4,09%; năm 2015 tăng 0,63%.

 

[17] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[18]Lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sảnbao gồm những người không làm việc trong khu vực hộ nông nghiệp và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) lao động gia đình không được hưởng công hưởng lương; (ii) người chủ hoặc xã viên hợp tác xã của cơ sở chưa có đăng ký kinh doanh và (iii) người làm công ăn lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc.

[19] GDP bình quân 1 lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc.

[20] Năng suất lao động xã hội của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2011-2016 lần lượt là: 55,2 triệu đồng/người; 63,1 triệu đồng/người; 68,7 triệu đồng/người; 74,7 triệu đồng/người; 79,4 triệu đồng/người; 84,5 triệu đồng/người.

[21] Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận
đa chiều
 áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau:

  - Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống và (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt  từ 03/10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên;

  - Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống và (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt  từ 03/10 ch số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

 

[22] Chưa kể thiệt hại do tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng tại khu vực Nam Trung Bộ,
  Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

[23] Tháng 10/2016 Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2017 ở mức 3,4%   (năm 2016 là 3,1%).  

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2017
  Tình hình kinh tế- xã hội 11 tháng năm 2016
  Tình hình kinh tế-xã hội 10 tháng năm 2016
  Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2016
  Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2016