English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2017

 

 

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa đông xuân và gieo trồng cây hoa màu trên cả nước. Tính đến thời điểm 15/01/2017, cả nước gieo cấy được 1.824,8 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 96,3% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 77,3 nghìn ha, bằng 114,2%; các địa phương phía Nam đạt 1.747,5 nghìn ha, bằng 95,7%, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.453,6 nghìn ha, bằng 96,6%. Tiến độ gieo cấy lúa đông xuân năm nay tại các địa phương phía Nam đạt thấp do kế hoạch xuống giống chậm hơn năm trước và ảnh hưởng của mưa lớn gây ngập úng trên diện rộng vừa qua. Hiện nay, lúa đông xuân đang phát triển ổn định, trong đó trên 100 nghìn ha lúa đông xuân sớm trong đê bao ở Đồng bằng sông Cửu Long đã cho thu hoạch, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm 2016.

Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, đến trung tuần tháng Một, các địa phương trên cả nước gieo trồng được 171,7 nghìn ha ngô, bằng 94,6% cùng kỳ năm trước; 40,9 nghìn ha khoai lang, bằng 87,3%; 14,9 nghìn ha đậu tương, bằng 52,5%; 23,6 nghìn ha lạc, bằng 69,6%; 325,6 nghìn ha rau, đậu, bằng 100,4%.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong tháng nhìn chung ổn định, dịch bệnh không xảy ra[1]. Ước tính đàn trâu cả nước tháng Một giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2%-2,3%; đàn lợn tăng 4,7%-5,2%; đàn gia cầm tăng 4,5%-5%.

Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng và chuẩn bị cho Tết trồng cây Xuân Đinh Dậu. Trong tháng Một, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 1.295 ha, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 718 nghìn cây, giảm 4,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 401 nghìn m3, tăng 11,7%; sản lượng củi khai thác đạt 1,5 triệu ste, giảm 2,5%.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng Một là 30 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 19 ha, tập trung ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc; diện tích rừng bị chặt phá là 11 ha.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Một ước tính đạt 427,2 nghìn tấn, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 317,5 nghìn tấn, giảm 1,1%; tôm đạt 40,4 nghìn tấn, tăng 14,1%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 208,8 nghìn tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 153,9 nghìn tấn, giảm 0,7%; tôm đạt 30,2 nghìn tấn, tăng 19,8%.

Thời tiết tương đối thuận lợi cho việc thả nuôi tôm cùng với giá cả ổn định nên sản lượng tôm đạt khá. Sản lượng tôm sú tháng Một ước tính đạt 12 nghìn tấn, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 15 nghìn tấn, tăng 36,4%, trong đó Cà Mau đạt 4,5 nghìn tấn, tăng 40,6%; Bạc Liêu đạt 1,1 nghìn tấn, tăng 1,1%.

Nuôi cá tra tuy giá cả tương đối ổn định và có xu hướng tăng nhẹ nhưng nguồn cung không nhiều, do một số hộ nuôi cá tra năm trước thua lỗ đã không nuôi trở lại dẫn đến ao hầm bị bỏ trống hoặc chuyển sang nuôi loại thủy sản khác. Sản lượng cá tra tháng 01/2017 ước tính đạt 92 nghìn tấn, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 27,2 nghìn tấn, tăng 0,4%; Cần Thơ đạt 6,7 nghìn tấn, giảm 14,1%; Tiền Giang đạt 3,4 nghìn tấn, giảm 22,3%.

 Sản lượng thủy sản khai thác tháng Một ước tính đạt 217 nghìn tấn, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 163,6 nghìn tấn, giảm 1,5%; tôm đạt 10,2 nghìn tấn, tương đương cùng kỳ năm 2016. Do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới cùng với giá xăng dầu tăng nên một số tàu vẫn neo bờ đợi vụ cá bắc, đặc biệt là các tàu đánh bắt xa bờ. Sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 204,4 nghìn tấn, giảm 1,4%, trong đó cá đạt 150 nghìn tấn, giảm 1,6%; tôm đạt 9,4%, tương đương cùng kỳ năm 2016.

 

 

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 01/2017 ước tính tăng thấp ở mức 0,7% so với cùng kỳ năm trước (do thời gian nghỉ Tết Đinh Dậu tập trung chủ yếu trong tháng Một), trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,7%, đóng góp 3,3 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,1%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 13,9%, làm giảm 3 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong tháng Một năm nay, một số ngành có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Dệt tăng 16%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 14,8%; sản xuất kim loại tăng 10,7%; sản xuất xe có động cơ tăng 9,9%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thuốc lá, khai khoáng khác cùng tăng 0,6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 0,6%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 2,1%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hóa chất giảm 4%; khai thác than cứng và than non giảm 5,3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 16,9%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tháng Một năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Tivi tăng 35,2%; thép cán tăng 22,3%; thức ăn cho gia súc tăng 12,9%; thủy hải sản chế biến tăng 12,5%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Sơn hóa học tăng 7,7%; sắt, thép thô tăng 7,5%; sữa tươi tăng 7,2%; giày dép da giảm 2,8%; phân hỗn hợp (NPK) giảm 4,2%; than đá giảm 5,3%; phân urê giảm 6,4%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 8,8%; sữa bột giảm 11,5%; đường kính giảm 12,3%; điện thoại di động giảm 14,9%; dầu thô khai thác giảm 15%; dầu gội đầu, dầu xả giảm 19,2%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 23,5%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 01/2017 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 13,6%; Hải Phòng tăng 12%; Vĩnh Phúc tăng 7,3%; Hải Dương tăng 5,6%; Bình Dương tăng 5,5%; Cần Thơ tăng 4,9%; Đồng Nai tăng 4,7%; Hà Nội tăng 4,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 3,8%; Quảng Nam tăng 1,4%; Đà Nẵng giảm 1,9%; Quảng Ninh giảm 3,6%; Bắc Ninh giảm 6,1%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 9,6%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2016 tăng 4,4% so với tháng trước tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2016, chỉ số tiêu thụ tăng 8,5% so với năm 2015, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá cao: Sản xuất xe có động cơ tăng 21%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 16,4%; sản xuất đồ uống tăng 13,1%; sản xuất kim loại tăng 12,9%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,5%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 3,2%; sản xuất thuốc lá tăng 2,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu và sản xuất phương tiện vận tải khác cùng tăng 2,5%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 0,7%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/01/2017 tăng 8,3% so với cùng thời điểm năm 2016, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Dệt tăng 5,7%; sản xuất trang phục giảm 5,6%; sản xuất kim loại giảm 7,3%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất giảm 7,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 8,1%; sản xuất thiết bị điện giảm 11%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 13,1%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 15,8%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 119,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 47,1%; sản xuất đồ uống tăng 40,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 35,1%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 20,2%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/01/2017 tăng 1,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 2,4%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 2,5%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 5,6% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,5%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 1%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,8%.

Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/01/2017 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như sau: Hải Phòng tăng 14,3%; Vĩnh Phúc tăng 7,9%; Bình Dương tăng 4,1%; Hà Nội tăng 3%; Hải Dương tăng 2,8%; Đà Nẵng tăng 2,7%; Quảng Nam tăng 1,9%; Cần Thơ tăng 0,9%; Quảng Ninh tăng 0,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,1%; Quảng Ngãi giảm 3,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 7,4%.

 

 
 

Tình hình đăng ký doanh nghiệp[2]

Trong tháng 01/2017, cả nước có 8.990 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký đạt 90,3 nghìn tỷ đồng, tăng 8,1% về số doanh nghiệp và tăng 52,3% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10 tỷ đồng, tăng 40,9%[3]. Nếu tính cả 114,6 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký và bổ sung thêm vào nền kinh tế trong tháng Một là 204,9 nghìn tỷ đồng. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng là 104,1 nghìn người, bằng 83,9% cùng kỳ năm 2016. Trong tháng còn có 5.564 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Một năm nay lên gần 14,6 nghìn doanh nghiệp.

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng ở phần lớn các ngành, lĩnh vực tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành tăng mạnh cả về số doanh nghiệp và số vốn đăng ký: Nghệ thuật vui chơi và giải trí tăng 2,4% về số doanh nghiệp và tăng 658% về số vốn đăng ký; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 57,6% và tăng 455,5%; khai khoáng tăng 3,4% và tăng 401,2%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc, thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác tăng 14,7% và tăng 249,6%; kinh doanh bất động sản tăng 75,3% và tăng 215%; tài chính ngân hàng và bảo hiểm tăng 4,8% và tăng 68,1%...

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong tháng 01/2017 là 1.583 doanh nghiệp, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 1.460 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 92,2% và tăng 16,3%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động có 592 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 37,4%); 487 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 30,8%); 190 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 12%) và 314 công ty cổ phần (chiếm 19,8%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong tháng là 13.289 doanh nghiệp, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 6.822 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 31,7% và 6.467 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 11,1%.

Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, có 2.653 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 38,9%); có 2.274 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 33,3%); có 1.193 công ty cổ phần (chiếm 17,5%); 702 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 10,3%). Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 2.813 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 43,5%); có 1.920 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,7%); có 1.236 công ty cổ phần (chiếm 19,1%) và 498 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 7,7%). Theo lĩnh vực hoạt động, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể trong tháng của hầu hết các ngành đều giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành giảm mạnh: Nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 54,3%; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 38,4%; khai khoáng giảm 37,5%; vận tải, kho bãi giảm 30,8%; xây dựng giảm 28,3%...

Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Một đạt thấp, ước tính 15.203 tỷ đồng, bằng 5,3% kế hoạch năm và tăng 1,9% so với cùng kỳ năm 2016, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 3.325 tỷ đồng, bằng 4,8% kế hoạch năm và giảm 5,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 1.395 tỷ đồng, bằng 4,8% và tăng 21,3%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 355 tỷ đồng, bằng 5,7% và giảm 2,7%; Bộ Y tế 226 tỷ đồng, bằng 4,4% và tăng 19,6%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 55 tỷ đồng, bằng 6% và giảm 55%; Bộ Xây dựng 30 tỷ đồng, bằng 6,5% và giảm 49,1%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 29 tỷ đồng, bằng 3,9% và giảm 39,4%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 25 tỷ đồng, bằng 4,3% và giảm 29,6%; Bộ Công Thương 14 tỷ đồng, bằng 5,8% và giảm 48,4%; Bộ Thông tin và Truyền thông 5 tỷ đồng, bằng 5,2% và giảm 37,5%; Bộ Khoa học và Công nghệ 5 tỷ đồng, bằng 4,7% và giảm 57,1%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 11.878 tỷ đồng, bằng 5,4% kế hoạch năm và tăng 4% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 7.999 tỷ đồng, bằng 4,8% và giảm 2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 3.210 tỷ đồng, bằng 6,9% và tăng 25,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 669 tỷ đồng, bằng 8,8% và giảm 5,3%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 1.896 tỷ đồng, bằng 5,9% kế hoạch năm và giảm 5,2% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 681 tỷ đồng, bằng 2% và tăng 24,1%; Bà Rịa - Vũng Tàu 496 tỷ đồng, bằng 9,5% và giảm 28,6%; Nghệ An 476 tỷ đồng, bằng 9,2% và tăng 10,3%; Vĩnh Phúc 475 tỷ đồng, bằng 7,9% và tăng 50,1%; Kiên Giang 462 tỷ đồng, bằng 11,7% và tăng 14,8%; Thanh Hóa 307 tỷ đồng, bằng 6,4% và giảm 29,1%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/01/2017 thu hút 175 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 1.243,8 triệu USD, tăng 37,8% về số dự án và tăng 23% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 76 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 179,2 triệu USD. Như vậy, tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn bổ sung đạt 1.423 triệu USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tháng 01/2017 ước tính đạt 850 triệu USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2016.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của các dự án cấp mới trong tháng tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với số vốn đăng ký đạt 834,9 triệu USD, chiếm 67,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 297,4 triệu USD, chiếm 23,9%; các ngành còn lại đạt 111,5 triệu USD, chiếm 9%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng 01/2017 đạt 1.013,4 triệu USD, chiếm 71,2% tổng vốn đăng ký; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 297,4 triệu USD[4], chiếm 20,9%; các ngành còn lại đạt 112,2 triệu USD, chiếm 7,9%.

Trong tháng 01/2017, cả nước có 26 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, trong đó Bình Dương có số vốn đăng ký lớn nhất với 666,2 triệu USD, chiếm 53,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bắc Giang 159,5 triệu USD, chiếm 12,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu 108,7 triệu USD, chiếm 8,7%; thành phố Hồ Chí Minh 75,2 triệu USD, chiếm 6%; Hải Dương 61,8 triệu USD, chiếm 5%; Tây Ninh 32 triệu USD, chiếm 2,6%; Hà Nội 30 triệu USD, chiếm 2,4%.

Trong số 31 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong tháng Một năm nay, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 416,7 triệu USD, chiếm 33,5% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 347,8 triệu USD, chiếm 28%; Trung Quốc 310,1 triệu USD, chiếm 24,9%; Nhật Bản 56,8 triệu USD, chiếm 4,6%; Ma-lai-xi-a 44,1 triệu USD, chiếm 3,5%; Xa-moa 20 triệu USD, chiếm 1,6%.

 

 

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng 01/2017 ước tính đạt 18,4 nghìn tỷ đồng, bằng 1,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa 12,5 nghìn tỷ đồng, bằng 1,3%; thu từ dầu thô 470 tỷ đồng, bằng 1,2%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 5,4 nghìn tỷ đồng, bằng 3%. Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất 4,4 nghìn tỷ đồng, bằng 6,9% dự toán năm; thu thuế thu nhập cá nhân 1,1 nghìn tỷ đồng, bằng 1,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 1,9 nghìn tỷ đồng, bằng 1%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 758 tỷ đồng, bằng 0,4%; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 763 tỷ đồng, bằng 0,3%; thu thuế bảo vệ môi trường 91 tỷ đồng, bằng 0,2%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng Một ước tính đạt 37,3 nghìn tỷ đồng, bằng 2,7% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 2 nghìn tỷ đồng, bằng 0,6%; chi trả nợ lãi 3 nghìn tỷ đồng, bằng 3%; chi thường xuyên 32,3 nghìn tỷ đồng, bằng 3,6%.

Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tháng Một năm nay là thời điểm Tết Nguyên đán Đinh Dậu, các doanh nghiệp và hệ thống siêu thị đã chủ động dự trữ hàng hóa, nguyên liệu nhằm đảm bảo phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết. Các cấp, các ngành tích cực triển khai, thực hiện Chỉ thị số 33/CT-TTg ngày 17/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành nhằm bình ổn giá cả thị trường, bảo đảm trật tự an toàn xã hội dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Một ước tính đạt 330,3 nghìn tỷ đồng, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,7%. Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Một đạt 252,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,5% so với tháng trước và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành hàng phục vụ Tết Nguyên đán tăng khá hơn mức trung bình các tháng trong năm, trong đó: Lương thực, thực phẩm tăng 9,5% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước; may mặc tăng 8,2% và tăng 11,5%; phương tiện đi lại tăng 7,8% và tăng 11,2%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 6% và tăng 8,2%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 5,9% và tăng 7,8%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Một ước tính đạt 37,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với tháng trước và tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có doanh thu tăng khá so với cùng kỳ năm trước như Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 12%; Thanh Hóa tăng 8,6%; Kiên Giang tăng 7,4%; Hà Nội tăng 5,7%; Đà Nẵng tăng 5,2%, trong khi doanh thu của Quảng Bình giảm 12,4%; thành phố Hồ Chí Minh và Nam Định cùng giảm 5,3%.

Doanh thu du lịch lữ hành ước tính đạt 3,4 nghìn tỷ đồng, tăng 8% so với tháng trước và tăng 30,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của một số địa phương tăng cao: thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu cùng tăng 33% so với cùng kỳ năm trước; Hà Nội tăng 29,4%; Khánh Hòa tăng 23,3%; Quảng Ninh tăng 22,9%. Doanh thu du lịch lữ hành trong tháng đạt khá chủ yếu do tác động của yếu tố mùa vụ và xu hướng đi du lịch nước ngoài trong dịp Tết ở một bộ phận dân cư.

Doanh thu dịch vụ khác tháng Một ước tính đạt 36,9 nghìn tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số địa phương có doanh thu tăng khá so với cùng kỳ: thành phố Hồ Chí Minh tăng 15,5%; Bình Dương tăng 14,1%; Bình Thuận tăng 12%; Quảng Bình tăng 11,6%; Lâm Đồng tăng 11,5%.

 

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

 

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 12/2016 đạt 16.583 triệu USD, cao hơn 583 triệu USD so với số ước tính, trong đó hàng dệt may cao hơn 297 triệu USD; giày dép cao hơn 86 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 64 triệu USD; hàng thủy sản và nhóm sản phẩm túi xách, ví, va li, mũ, ô dù cùng cao hơn 37 triệu USD; rau quả cao hơn 33 triệu USD; điện thoại và linh kiện thấp hơn 210 triệu USD. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện năm 2016 đạt 176,6 tỷ USD, cao hơn 690 triệu USD so với ước tính.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Một ước tính đạt 14,60 tỷ USD, giảm 12% so với tháng trước[5], trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,31 tỷ USD, giảm 12,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 10,29 tỷ USD, giảm 11,9%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng gia công, lắp ráp giảm so với tháng trước: Điện thoại và linh kiện đạt 2,5 tỷ USD, giảm 14,1%; hàng dệt may đạt 2,1 tỷ USD, giảm 10,8%; giày dép đạt 1,2 tỷ USD, giảm 10,2%.

So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 01/2017 tăng 7,6%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 2,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 9,7%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 2,5 tỷ USD, tăng 10,2%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 1,6 tỷ USD, tăng 26,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 900 triệu USD, tăng 23,7%; cà phê đạt 316 triệu USD, tăng 3,1%; rau quả đạt 230 triệu USD, tăng 14,4%. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Giày dép đạt 1,2 tỷ USD, giảm 2,3%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 500 triệu USD, giảm 5,7%; gạo đạt 125 triệu USD, giảm 42,6%.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong tháng 01/2017 với kim ngạch đạt 3,3 tỷ USD, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là EU đạt 2,9 tỷ USD, tăng 4,8%; Trung Quốc đạt 1,9 tỷ USD, tăng 38,6%; ASEAN đạt 1,4 tỷ USD, tăng 0,5%; Nhật Bản đạt 1,4 tỷ USD, tăng 13,2%; Hàn Quốc đạt 860 triệu USD, tăng 14,4%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 12/2016 đạt 17.077 triệu USD, cao hơn 777 triệu USD so với số ước tính, trong đó xăng dầu cao hơn 242 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 219 triệu USD; điện tử máy tính và linh kiện cao hơn 59 triệu USD; hóa chất cao hơn 37 triệu USD; bông cao hơn 27 triệu USD. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện năm 2016 đạt 174,1 tỷ USD, cao hơn 849 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 01/2017 ước tính đạt 14,70 tỷ USD, giảm 13,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,20 tỷ USD, giảm 18,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,50 tỷ USD, giảm 10,3%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng giảm mạnh so với tháng trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 2,6 tỷ USD, giảm 15,3%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 2,3 tỷ USD, giảm 10,3%; vải đạt 800 triệu USD, giảm 15,3%; xăng dầu đạt 510 triệu USD, giảm 23,6% (lượng giảm 32,7%).

So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 01/2017 ước tính tăng 15,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 15,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16%.  Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 21,4%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 13,8%; xăng dầu tăng 114,1% (lượng tăng 20,1%); điện thoại và linh kiện tăng 14%.

Về thị trường nhập khẩu trong tháng, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 4,3 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2016; Hàn Quốc đạt 2,5 tỷ USD, tăng 19,3%; ASEAN đạt 2,1 tỷ USD, tăng 15%; Nhật Bản đạt 1,3 tỷ USD, tăng 25,2%; EU đạt 890 triệu USD, tăng 18,3%; Hoa Kỳ đạt 750 triệu USD, tăng 26,6%.

Cán cân thương mại hàng hóa năm 2016 xuất siêu 2,5 tỷ USD, tương đương 1,4% kim ngạch xuất khẩu. Tháng 01/2017 ước tính nhập siêu 100 triệu USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 1,9 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 1,8 tỷ USD.

 

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 01/2017 tăng 0,46% so với tháng trước, trong đó nhóm giao thông tăng cao nhất với 3,21%, chủ yếu do tác động của giá xăng, dầu được điều chỉnh tăng tại thời điểm 20/12/2016 và hai lần điều chỉnh trong tháng 01/2017[6] (làm chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 6,41%, tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,27%). Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,01% (dịch vụ y tế tăng 1,3%)[7]; đồ uống và thuốc lá tăng 0,78% do nhu cầu tiêu dùng cho Tết Nguyên đán tăng lên; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,57% do giá gas điều chỉnh tăng 21.000 đồng/bình từ ngày 01/01/2017 và nhu cầu sửa chữa nhà ở tăng cao trong những tháng cuối năm. Nhóm giáo dục tăng 0,47%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 0,55% do có 6 tỉnh thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính Phủ[8]. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,24%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,2%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,17%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,24%, trong đó lương thực tăng 0,47%, thực phẩm giảm 0,59%[9]; bưu chính viễn thông giảm 0,15%. So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 01/2017 tăng 5,22%.

Chỉ số giá vàng tháng 01/2017 giảm 0,18% so với tháng trước; tăng 11,04% so với cùng kỳ năm 2016. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 01/2017 giảm 0,07% so với tháng trước; tăng 0,55% so với cùng kỳ năm 2016.

Lạm phát cơ bản tháng 01/2017 tăng 0,28% so với tháng trước và tăng 1,88% so với cùng kỳ năm trước.

 

 

Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng Một ước tính đạt 317 triệu lượt khách, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước và 14,4 tỷ lượt khách.km, tăng 10,2% chủ yếu do nhu cầu đi lại của người dân tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán. Vận tải hành khách đường bộ đạt 297,6 triệu lượt khách, tăng 7,7% và 9,8 tỷ lượt khách.km, tăng 8,4%; đường biển đạt 549,1 nghìn lượt khách, tăng 8,5% và 27,3 triệu lượt khách.km, tăng 4,2%. Vận tải bằng đường hàng không đạt khá với 3,4 triệu lượt khách, tăng 10,7% và 4,1 tỷ lượt khách.km, tăng 17,9% do các hãng hàng không trong nước tăng cường thêm các chuyến bay trong dịp Tết Đinh Dậu. Vận tải đường sắt đạt 0,7 triệu lượt khách, giảm 17,1% và 0,2 tỷ lượt khách.km, giảm 24% so với cùng kỳ năm 2016.

Vận tải hàng hóa tháng Một ước tính đạt 118,9 triệu tấn, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước và 21,7 tỷ tấn.km, tăng 5,2%, trong đó vận tải trong nước đạt 116,1 triệu tấn, tăng 11,7% và 10,5 tỷ tấn.km, tăng 8,1%; vận tải ngoài nước đạt 2,8 triệu tấn, tăng 2,6% và 11,2 tỷ tấn.km, tăng 2,7%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 92,6 triệu tấn, tăng 12,7% và 5,7 tỷ tấn.km, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước; đường sông đạt 20,2 triệu tấn, tăng 7,8% và 4,4 tỷ tấn.km, tăng 10%; đường biển đạt 5,6 triệu tấn, tăng 5,1% và 11,2 tỷ tấn.km, tăng 0,7%; đường sắt đạt 0,5 triệu tấn, tăng 8,4% và 0,3 tỷ tấn.km, tăng 3,8%.

 

 

Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Một ước tính đạt 1.007,2 nghìn lượt người, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến bằng đường hàng không tăng 26,6%; bằng đường bộ tăng 15,5%; bằng đường biển giảm 18,7%. So với tháng trước, khách quốc tế đến nước ta tăng 12,3%, trong đó khách đến từ châu Âu, châu Mỹ, châu Úc tăng mạnh[10] do bà con Việt Kiều về quê ăn Tết Đinh Dậu, đồng thời hiện đang là kỳ nghỉ đông ở các nước châu Âu, châu Mỹ nên nhu cầu đi du lịch nước ngoài của người dân khá lớn.

Trong tháng Một, khách đến nước ta từ châu Á ước tính đạt 680,2 nghìn lượt người, tăng 27,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 247,6 nghìn lượt người, tăng 67,9%; Hàn Quốc 171,9 nghìn lượt người, tăng 15,1%; Nhật Bản 66,4 nghìn lượt người, tăng 4%; Đài Loan 39,5 nghìn lượt người, tăng 17,3%; Ma-lai-xi-a 32,5 nghìn lượt người, tăng 10,8%; Thái Lan 29 nghìn lượt người, tăng 16,7%; Xin-ga-po 22,2 nghìn lượt người, tăng 2,5%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 183,6 nghìn lượt người, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Liên bang Nga đạt 58,6 nghìn lượt người, tăng 36,5%; Vương quốc Anh 24,1 nghìn lượt người, tăng 10,3%; Pháp 21,6 nghìn lượt người, tăng 4,6%; Đức 18,4 nghìn lượt người, tăng 11,7%; Thụy Điển 8,6 nghìn lượt người, tăng 27,3%; I-ta-li-a 6,8 nghìn lượt người, tăng 11,5%; Hà Lan 6,5 nghìn lượt người, tăng 24%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 90,7 nghìn lượt người, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 67,3 nghìn lượt người, tăng 17,2%. Khách đến từ châu Úc đạt 48,7 nghìn lượt người, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 44,1 nghìn lượt người, tăng 4%. Khách đến từ châu Phi đạt 4 nghìn lượt người, tăng 35,6% so với cùng kỳ năm 2016.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Một số tình hình xã hội

Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Một (tính đến ngày 19/01/2017), cả nước có 43,6 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 179,3 nghìn nhân khẩu thiếu đói, trong đó Phú Yên có 11,9 nghìn hộ, tương ứng với 48,8 nghìn nhân khẩu thiếu đói; Yên Bái 8,2 nghìn hộ, tương ứng với 33,6 nghìn nhân khẩu; Tuyên Quang 6,1 nghìn hộ, tương ứng với 25 nghìn nhân khẩu. Theo báo cáo sơ bộ, để khắc phục tình trạng thiếu đói các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 4,1 nghìn tấn lương thực và 224 triệu đồng.

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng 01/2017, cả nước có 3,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, giảm 31,6% so với cùng kỳ năm trước; gần 1,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, tăng 31,6%; 8 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 2 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 7 trường hợp nhiễm vi rút Zika và 28 người bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 4 trường hợp tử vong.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/01/2017 là 232,1 nghìn người, trong đó 88,1 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS. Số người tử vong do AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 89,6 nghìn người.

Tai nạn giao thông

Từ 16/12/2016 đến 15/01/2017, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.702 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 852 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 850 vụ va chạm giao thông, làm 744 người chết; 163 người bị thương và 1.015 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 0,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 0,6%; số vụ va chạm giao thông giảm 2,2%); số người chết tăng 1,2%; số người bị thương giảm 68,7% và số người bị thương nhẹ giảm 1,5%. Bình quân một ngày trong tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 55 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 28 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 27 vụ va chạm giao thông, làm 24 người chết, 5 người bị thương và 33 người bị thương nhẹ.

Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng 01/2017, các cơ quan chức năng đã phát hiện 1.502 vụ vi phạm về bảo vệ môi trường, trong đó xử lý 1.200 vụ với tổng số tiền phạt 190,4 tỷ đồng. Trong tháng, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 446 vụ cháy, nổ, làm 6 người chết và 21 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 73,4 tỷ đồng./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 



[1] Tính đến thời điểm 23/01/2017, cả nước không còn dịch bệnh trên gia súc, gia cầm.

[2] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[3] Trong tháng 01/2016 có 8.320 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký đạt 59,3 nghìn tỷ đồng, vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp đạt 7,1 tỷ đồng.

[4] Trong tháng 01/2017 ngành kinh doanh bất động sản không có dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư.

[5] Do thời gian nghỉ Tết Nguyên đán năm nay chủ yếu vào tháng Một nên số ngày làm việc ít hơn.

[6] Các đợt điều chỉnh vào thời điểm 04/01/2017 và 19/01/2017 tác động không nhiều đến giá xăng dầu.

[7] Do trong tháng có một số quận, huyện ở thành phố Hồ Chí Minh thực hiện điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế bước 2 theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính.

[8] Vĩnh Phúc, Hải Dương, Nghệ An, Quảng Bình, Tây Ninh, Bạc Liêu.

[9] Trong đó giá thịt lợn giảm 2,2% do lượng cung dồi dào, trong khi xuất khẩu thịt lợn sang thị trường Trung Quốc theo đường tiểu ngạch bị hạn chế.

[10] Khách đến từ châu Âu tăng 23,4% so với tháng trước; từ châu Mỹ tăng 43,9%; từ châu Úc tăng 64,1%.

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2017
  Tình hình kinh tế -xã hội 9 tháng đầu năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2017