English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2017

 

 

Kinh tế - xã hội nước ta 6 tháng đầu năm 2017 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới chuyển biến tích cực với đà tăng trưởng khả quan từ kinh tế Mỹ và các nước phát triển[1]. Hoạt động thương mại và đầu tư toàn cầu phục hồi trở lại là những yếu tố tác động tích cực đến sản xuất trong nước. Tuy nhiên, việc gia tăng chủ nghĩa bảo hộ cùng với những điều chỉnh chính sách của Mỹ và một số nước lớn đã ảnh hưởng đáng kể tới cơ hội xuất khẩu của Việt Nam và một số nước trong khu vực. Ở trong nước, bên cạnh kết quả nổi bật về cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, xuất khẩu, thu hút khách quốc tế và đầu tư nước ngoài trong những tháng đầu năm, kinh tế nước ta cũng đối mặt với những khó khăn: Tốc độ tăng trưởng quý I có dấu hiệu chững lại, giá nông sản, thực phẩm, nhất là giá thịt lợn giảm mạnh tác động tiêu cực tới chăn nuôi và thách thức tới mục tiêu tăng trưởng năm 2017 của cả nước.

Trước tình hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các ngành, địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017, đồng thời ban hành Chỉ thị số 24/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng các ngành, lĩnh vực nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2017. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội đang chuyển biến tích cực. Kết quả các ngành, lĩnh vực trong 6 tháng đầu năm như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2017 ước tính tăng 5,73% so với cùng kỳ năm trước, trong đó quý I tăng 5,15%; quý II đã khởi sắc hơn quý I với tốc độ tăng 6,17%. Trong mức tăng 5,73% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,65%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,81%, đóng góp 2,0 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,85%, là mức tăng trưởng cao nhất so với cùng kỳ 5 năm gần đây[2], đóng góp 2,59 điểm phần trăm.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành thủy sản có mức tăng cao nhất với 5,08% so với cùng kỳ năm 2016, đóng góp 0,15 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; ngành lâm nghiệp tăng 4,31%, thấp hơn mức tăng 5,75% của 6 tháng năm 2016, đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành nông nghiệp tăng khá ở mức 2,01% so với mức giảm 0,78% của cùng kỳ năm trước, đóng góp 0,25 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 5,33%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,66% và 7,01% của cùng kỳ năm 2015 và năm 2016, chủ yếu do ngành khai khoáng giảm 8,2%, làm giảm 0,61 điểm phần trăm mức tăng trưởng chung, đây là mức giảm sâu nhất so với cùng kỳ các năm từ 2011 trở về đây[3]. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng 10,52%, tương đương mức tăng 10,50% của cùng kỳ năm trước, đóng góp 1,79 điểm phần trăm. Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm tăng trưởng khá với tốc độ 8,50%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 7,10% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có mức đóng góp cao nhất vào mức tăng chung (0,65 điểm phần trăm); dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,90%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,66%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 3,86% (mức tăng cao nhất trong 5 năm gần đây[4]), đóng góp 0,21 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 15,06%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 32,76%; khu vực dịch vụ chiếm 41,84%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,34% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2016 là: 15,72%; 32,98%; 41,0%; 10,30%).

Xét về góc độ sử dụng GDP 6 tháng đầu năm, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,04% so với cùng kỳ năm 2016, đóng góp 8,48 điểm phần trăm; tích lũy tài sản tăng 9,50%, đóng góp 4,26 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu làm giảm 7,01 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

 

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

6 tháng các năm 2015, 2016 và 2017

 

 

 

           Tốc độ tăng so với

cùng kỳ năm trước (%)

Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng 6 tháng
đầu năm 2017
(Điểm phần trăm)

 

6 tháng      năm 2015

6 tháng      năm 2016

6 tháng      năm 2017

        Tổng số

6,32

5,65

5,73

5,73

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

2,22

-0,18

2,65

0,43

Công nghiệp và xây dựng

9,36

7,36

5,81

2,00

Dịch vụ

5,86

6,47

6,85

2,59

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sp

5,50

6,61

6,11

0,71

 

 

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay ước tính đạt 3.077,4 nghìn ha, giảm 5,7 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2016, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.144,1 nghìn ha, giảm 12,1 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 1.933,3 nghìn ha, tăng 6,4 nghìn ha. Diện tích lúa đông xuân thời gian gần đây có xu hướng thu hẹp dần (tập trung chủ yếu tại Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long) do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và một số địa phương chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa sang sử dụng cho mục đích khác. Riêng vụ đông xuân năm nay, diện tích gieo cấy của vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 536,2 nghìn ha, giảm 10,1 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước[5]; vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.539,4 nghìn ha, giảm 16,3 nghìn ha[6].

Tính đến ngày 15/6, các địa phương phía Nam đã kết thúc thu hoạch vụ đông xuân; các địa phương phía Bắc thu hoạch được 981,8 nghìn ha, chiếm 85,8% diện tích gieo cấy. Do ảnh hưởng của tình trạng xâm nhập mặn từ năm trước cùng hiện tượng mưa trái mùa liên tiếp xảy ra tại thời điểm lúa trổ bông và cho thu hoạch đã làm giảm năng suất lúa vụ đông xuân năm nay. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân cả nước ước tính đạt 62,1 tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha so với vụ đông xuân năm 2016; sản lượng đạt 19,1 triệu tấn, giảm 296,6 nghìn tấn[7]. Một số địa phương có sản lượng lúa đông xuân giảm nhiều so với năm trước: Đồng Tháp giảm 165,8 nghìn tấn; Long An giảm 96,5 nghìn tấn; Hà Tĩnh giảm 88,1 nghìn tấn; Cần Thơ giảm 59,1 nghìn tấn.

Cùng với việc thu hoạch vụ đông xuân, các địa phương đã chủ động xuống giống vụ hè thu sớm hơn năm trước. Tính đến trung tuần tháng Sáu, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1.940,5 nghìn ha lúa hè thu, bằng 106,8% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.589,2 nghìn ha, bằng 104,4%. Đến nay đã có 378,7 nghìn ha lúa hè thu sớm tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thu hoạch, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm 2016. Hiện lúa hè thu đang phát triển tốt, các địa phương cần tăng cường công tác kiểm tra, phòng chống sâu bệnh, hướng dẫn người dân chăm sóc lúa đúng kỹ thuật để thu được năng suất cao.

Đến giữa tháng Sáu, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 607,4 nghìn ha ngô, bằng 85,3% cùng kỳ năm trước; 91,6 nghìn ha khoai lang, bằng 103%; 41,4 nghìn ha đậu tương, bằng 94,4%; 149,3 nghìn ha lạc, bằng 95%; 697,6 nghìn ha rau, đậu, bằng 103,7%.

Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm tăng so với cùng kỳ năm trước: Chè đạt 455,6 nghìn tấn, tăng 0,2%; cao su đạt 334,5 nghìn tấn, tăng 4,4%; hồ tiêu đạt 207,7 nghìn tấn, tăng 7,1%; riêng sản lượng điều đạt 222,3 nghìn tấn, giảm 26,8% do ảnh hưởng của thời tiết khô hạn kéo dài. Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá: Cam đạt 304,6 nghìn tấn, tăng 24,8%; thanh long đạt 488 nghìn tấn, tăng 16,4%; xoài đạt 448,3 nghìn tấn, tăng 2,2%.

Chăn nuôi lợn những tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ do tình trạng cung vượt quá cầu, giá thịt lợn giảm sâu so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù cơ quan chức năng thực hiện nhiều giải pháp tăng nhu cầu tiêu thụ trong nước nhưng giá thịt lợn vẫn giảm xuống mức thấp, người chăn nuôi chịu thua lỗ dẫn đến tình trạng giảm đàn, bỏ đàn. Tính đến tháng Sáu, đàn lợn cả nước giảm 3,8% so với cùng kỳ năm trước; đàn trâu giảm 0,8%; đàn bò tăng 2,3% (đàn bò sữa tăng 5,2%); đàn gia cầm tăng 5,2%. Sản lượng thịt trâu hơi đạt 51 nghìn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi đạt 201 nghìn tấn, tăng 5,2%; sản lượng thịt lợn hơi đạt 2,2 triệu tấn, tăng 2,7%; thịt gia cầm đạt 573 nghìn tấn, tăng 6,3%; trứng gia cầm đạt 5,6 tỷ quả, tăng 6,5%; sản lượng sữa tươi đạt 434 nghìn tấn, tăng 13,2%. Trong 6 tháng đầu năm không xảy ra dịch bệnh lớn, đến ngày 26/6/2016 trên phạm vi cả nước không còn dịch cúm gia cầm, dịch lợn tai xanh và dịch lở mồm long móng.

 

 

 

b. Lâm nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm 2017, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 100,5 nghìn ha, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 55,1 triệu cây, tăng 0,7%; sản lượng củi khai thác đạt 14,1 triệu ste, tăng 0,7%. Sản lượng gỗ khai thác đạt khá với 4.835 nghìn m3, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là gỗ rừng trồng đến kỳ khai thác. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác đạt khá: Quảng Nam đạt 431 nghìn m3, tăng 6,4%; Bình Định đạt 368 nghìn m3, tăng 11,4%; Thừa Thiên - Huế đạt 285 nghìn m3, tăng 6,2%; Bắc Giang đạt 259 nghìn m3, tăng 8,8%; Phú Thọ đạt 225 nghìn m3, tăng 7,7%. Việc sản phẩm gỗ từ Trung Quốc bị Mỹ áp thuế chống bán phá giá, cùng với cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết là điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường xuất khẩu gỗ của nước ta trong thời gian tới.

Mặc dù công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng được quan tâm thực hiện, nhưng do thời tiết hanh khô, nắng nóng kéo dài nên vẫn xảy ra tình trạng cháy rừng, tập trung ở một số tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực miền Trung. Trong tháng Sáu, cả nước có 284,5 ha rừng bị thiệt hại, giảm 17,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 145,5 ha, tăng 58,2%; diện tích rừng bị chặt phá là 139 ha, giảm 44,8%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2017, cả nước có 1.031,4 ha rừng bị thiệt hại, giảm 60,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 373,2 ha, giảm 80,9%; diện tích rừng bị chặt phá là 658,2 ha, tăng 2,2%.

c. Thủy sản

Hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản những tháng đầu năm có nhiều khởi sắc. Ước tính tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm đạt 3.328,8 nghìn tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2.460,7 nghìn tấn, tăng 3,7%; tôm đạt 332,4 nghìn tấn, tăng 7,4%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đạt 1.668,2 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.232,6 nghìn tấn, tăng 2,2%; tôm đạt 252,1 nghìn tấn, tăng 8,9%[8].

Nuôi cá tra từng bước phục hồi, giá cá tra tăng dần trong những tháng đầu năm đã khuyến khích người dân thả nuôi trở lại. Sản lượng cá tra 6 tháng ước tính đạt 543,3 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước (quý I giảm 0,8%; quý II tăng 1,9%), trong đó Đồng Tháp đạt 185,7 nghìn tấn; An Giang đạt 116,9 nghìn tấn.

Nuôi tôm nước lợ gặp thuận lợi về thời tiết và giá cả. Diện tích nuôi tôm nước lợ 6 tháng đầu năm ước tính đạt 605,2 nghìn ha, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước. 6 tháng đầu năm sản lượng tôm sú và tôm thẻ đạt 222,4 nghìn tấn, tăng 9,2%, trong đó Cà Mau đạt 66,9 nghìn tấn, tăng 1%; Bạc Liêu đạt 33,8 nghìn tấn, tăng 3%; Kiên Giang đạt 20,8 nghìn tấn, tăng 12,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1.660,6 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.228,1 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm đạt 80,3 nghìn tấn, tăng 2,9%. Thời tiết tương đối thuận lợi cho hoạt động đánh bắt thủy sản cùng với hoạt động dịch vụ hậu cần nghề cá và công tác dự báo ngư trường được quan tâm thực hiện đã khuyến khích ngư dân ra khơi bám biển, đánh bắt xa bờ. Bên cạnh đó, hoạt động đánh bắt thủy sản tại 4 tỉnh miền Trung bị ảnh hưởng bởi sự cố môi trường biển đã hồi phục và tăng trở lại[9]. Sản lượng thủy sản khai thác biển 6 tháng đạt 1.572,4 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.166,9 nghìn tấn, tăng 5,5% (sản lượng cá ngừ đại dương đạt 13,6 nghìn tấn, tăng 14,9%); sản lượng tôm đạt 74,6 nghìn tấn, tăng 3,8%.

3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tiếp tục có chuyển biến cực. Chỉ sô sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Sáu ước tính tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 5,5%; ngành chế biến, chế tạo tăng 13,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,6%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,4%.

Tính chung 6 tháng đầu năm nay, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 4,3%, quý II tăng 7,8%), tuy thấp hơn mức tăng 7,2% của cùng kỳ năm 2016[10] nhưng cao hơn mức tăng 5,8% của 5 tháng đầu năm. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,5%, đóng góp 7,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8%, đóng góp 0,5 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 8,2% (chủ yếu do khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 11,6%), làm giảm 1,8 điểm phần trăm mức tăng chung.

Xét theo công dụng sản phẩm công nghiệp, chỉ số sản xuất của sản phẩm trung gian dùng cho quá trình sản xuất tiếp theo tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm dùng cho sử dụng cuối cùng tăng 8,1%, trong đó sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 9,8% (công cụ sản xuất tăng 3,5%; tư liệu xây dựng tăng 11%), sản phẩm dùng cho tiêu dùng của dân cư tăng 7,2%.

Trong 6 tháng đầu năm, một số ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 33,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 11,5%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 10,2%Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 5,9%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 5,4%; khai thác than tăng 2,8%; sản xuất thuốc lá tăng 0,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 11,6%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 6 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 39,1%; thép cán tăng 26,1%; sắt, thép thô tăng 25,6%; phân ure tăng 19,4%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 17,5%; sữa bột tăng 10,4%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Thép thanh, thép góc tăng 6,1%; xe máy tăng 4,3%; điện thoại di động và thuốc lá điếu cùng tăng 0,5%; ô tô tăng 0,3%; vải dệt từ sợi tổng hợp, sợi nhân tạo tăng 0,2%; khí đốt thiên nhiên giảm 8,7%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 11,2%; dầu thô khai thác giảm 12,5%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2017 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 21,1%; Thái Nguyên tăng 19%; Bắc Ninh tăng 12,8%; Đà Nẵng tăng 10,9%; Bình Dương tăng 8,4%; Đồng Nai tăng 8%; thành phố Hồ Chí Minh Hải Dương cùng tăng 7,5%; Hà Nội tăng 6,1%; Cần Thơ tăng 6%; Vĩnh Phúc tăng 4,5%; Quảng Ninh tăng 3,5%; Quảng Nam tăng 0,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 4%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 5 tháng đầu năm 2017 tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 8,8%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 13,5%; sản xuất kim loại tăng 12,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 10%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 9,1%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng 1,5%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 1,2%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế và dệt cùng tăng 0,9%; sản xuất thuốc lá tăng 0,3%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/6/2017 tăng 10,2% so với cùng thời điểm năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 9%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,6%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 2,5%; sản xuất trang phục tăng 2,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 0,8%; sản xuất xe có động cơ giảm 0,8%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 1,1%; sản xuất thuốc lá giảm 8,5%; sản xuất phương tiện vận tải khác (chủ yếu là đóng tàu) giảm 34,5%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao: Sản xuất đồ uống tăng 88,8%; sản xuất kim loại tăng 52,4%; sản xuất thiết bị điện tăng 33,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (chủ yếu là xi măng) tăng 31,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 17%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 5 tháng đầu năm 2017 là 71,2%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 113,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) 105,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 99,3%; sản xuất, chế biến thực phẩm 91,3%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/6/2017 tăng 3,5% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,5%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 6,6%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong ngành khai khoáng giảm 0,5% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 3,9%; sản xuất và phân phối điện giảm 0,6%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,5%.

Lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/6/2017 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương như sau: Bắc Ninh tăng 27,5%; Vĩnh Phúc tăng 8,5%; Thái Nguyên tăng 8,2%; Hải Phòng tăng 7,6%; Bình Dương tăng 5,4%; Hải Dương tăng 4,1%; Đồng Nai tăng 3,4%; Đà Nẵng tăng 2,6%; Quảng Ninh tăng 1,5%; Cần Thơ tăng 0,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,5%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 5,3%.

 

 
 

 

 

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[11]

Trong tháng Sáu, cả nước có 10.742 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 110,6 nghìn tỷ đồng, giảm 1,9% về số doanh nghiệp và giảm 7,3% về số vốn đăng ký so với tháng trước[12]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,3 tỷ đồng, giảm 5,5%; tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới là 105,6 nghìn người, tăng 8%.

Trong tháng, cả nước có 1.921 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 0,4% so với tháng trước; có 6.402 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.729 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 4.673 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), tăng 20,1%; có 758 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 20,7%.

Tính chung 6 tháng đầu năm nay, cả nước có 61.276 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 596,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12,4% về số doanh nghiệp và tăng 39,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 9,7 tỷ đồng, tăng 24%[13]. Nếu tính cả 859,2 nghìn tỷ đồng của 18,1 nghìn lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2017 là 1.455,4 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 15.379 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm lên gần 76,7 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong 6 tháng là 627,3 nghìn người, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước.

Theo ngành nghề kinh doanh chính, trong 6 tháng đầu năm 2017 có 21,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bản lẻ (chiếm 35% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước; 8,2 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 13,4%), tăng 10,7%; 8,1 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 13,3%), tăng 9,7%; 4,7 nghìn doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 7,7%), tăng 10,7%; 3,2 nghìn doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 5,3%), tăng 21,9%; 2,9 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 4,8%), tăng 15,1%; 2,3 nghìn doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (chiếm 3,7%), tăng 68,3%; 1,6 nghìn doanh nghiệp giáo dục và đào tạo (chiếm 2,6%), tăng 30,4%...

Trong 6 tháng đầu năm, số doanh nghiệp thành lập mới tại các vùng kinh tế đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vùng Đông Nam Bộ có 25,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 10,9% (vốn đăng ký 303,4 nghìn tỷ đồng, tăng 67,2%); Đồng bằng sông Hồng 18,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 15,4% (vốn đăng ký 141,3 nghìn tỷ đồng, tăng 5%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 8,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 8,2% (vốn đăng ký 78,2 nghìn tỷ đồng, tăng 84,9%); Đồng bằng sông Cửu Long 4,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 10,2% (vốn đăng ký 30,8 nghìn tỷ đồng, giảm 22,7%); Trung du và miền núi phía Bắc 2,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 23,1% (vốn đăng ký 29,1 nghìn tỷ đồng, tăng 32,6%); Tây Nguyên 1,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 17,1% (vốn đăng ký 13,4 nghìn tỷ đồng, tăng 74,6%).

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 6 tháng đầu năm 2017 là 5.443 doanh nghiệp, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 17%), trong đó có 5.020 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 92,2%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, có 2.211 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 40,6%); 1.580 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29%); 944 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 17,4%) và 708 công ty cổ phần (chiếm 13%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 6 tháng đầu năm là 37.907 doanh nghiệp, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 14.377 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 17,8% và 23.530 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 24,4%. Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, có 5.887 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 41%); 4.601 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 32%); 2.462 công ty cổ phần (chiếm 17,1%); 1.425 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 9,9%) và 2 công ty hợp danh. Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 10.297 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 43,8%); 6.890 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,3%); 4.715 công ty cổ phần (chiếm 20%) và 1.628 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 6,9%).

 

 

 

b. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2017 cho thấy: Có 43% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm nay tốt hơn quý trước; 19,2% doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 37,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý III so với quý II năm nay, có 52,1% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 12% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 35,9% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý II, có 58,3% doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 45,6% doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 32,5% doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn về tài chính; 31,3% doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu; 26,5% doanh nghiệp cho rằng lãi suất cao và 21,6% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao là yếu tố quan trọng.

Về khối lượng sản xuất, có 45,9% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất quý II năm nay tăng so với quý trước; 18,4% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 35,7% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Về xu hướng quý III so với quý II, có 53,4% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 10,6% số doanh nghiệp dự báo giảm và 36% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

Về đơn đặt hàng, có 39,2% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý II năm nay cao hơn quý trước; 18,3% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 42,5% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quý III khả quan hơn so với quý II với 47,7% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng lên; 11,2% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 41,1% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu quý II năm nay so với quý trước, có 31,8% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 16,7% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 51,5% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý III so với quý II, có 40,3% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 10,3% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 49,4% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

Về chi phí sản xuất, có 27,5% số doanh nghiệp khẳng định chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm quý II năm nay tăng so với quý trước; 7,7% số doanh nghiệp cho biết chi phí giảm và 64,8% số doanh nghiệp cho rằng chi phí tương đương quý trước. Xu hướng trong quý III/2017, có 20,7% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất sẽ tăng so với quý II; 9,6% số doanh nghiệp cho rằng chi phí giảm và 69,7% số doanh nghiệp dự kiến chi phí sản xuất ổn định.

Về giá bán sản phẩm, có 18,2% số doanh nghiệp cho biết có giá bán sản phẩm quý II năm nay tăng so với quý trước; 9,2% số doanh nghiệp cho biết giá bán thấp hơn và 72,6% số doanh nghiệp có giá bán sản phẩm ổn định. Dự kiến giá bán sản phẩm quý III so với quý II, có 18,2% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm sẽ cao hơn; 7,3% số doanh nghiệp dự báo giá bán thấp hơn và 74,5% số doanh nghiệp dự báo giá bán sản phẩm ổn định.

Về tồn kho sản phẩm, có 18,9% số doanh nghiệp có lượng tồn kho quý II năm nay tăng so với quý trước; 30,7% số doanh nghiệp có lượng tồn kho giảm và 50,4% số doanh nghiệp giữ ổn định. Xu hướng quý III so với quý II, có 14,6% số doanh nghiệp dự báo lượng hàng tồn kho sẽ tăng; 31,8% số doanh nghiệp cho rằng lượng hàng tồn kho giảm và 53,6% số doanh nghiệp dự báo giữ ổn định.

Về tồn kho nguyên vật liệu, quý II/2017 so với quý trước, có 17,5% số doanh nghiệp cho biết lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 28,7% số doanh nghiệp cho là giảm và 53,8% số doanh nghiệp trả lời giữ nguyên. Dự kiến quý III so với quý II, có 14,3% số doanh nghiệp dự báo lượng tồn kho nguyên vật liệu tăng; 29,8% dự báo lượng tồn kho giảm và 55,9% số doanh nghiệp cho rằng sẽ không có biến động về tồn kho nguyên vật liệu.

Về sử dụng lao động, quý II năm nay so với quý trước, có 16,5% số doanh nghiệp khẳng định quy mô lao động tăng; 12,3% số doanh nghiệp khẳng định giảm và 71,2% số doanh nghiệp cho biết giữ ổn định. Dự kiến quý III so với quý II, có 20,1% số doanh nghiệp dự báo quy mô lao động tăng; 7,5% số doanh nghiệp dự báo giảm và 72,4% số doanh nghiệp cho rằng sẽ ổn định quy mô lao động.

5. Hoạt động dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại dịch vụ 6 tháng đầu năm khá sôi động, công tác quản lý thị trường được các cấp, các ngành chỉ đạo kịp thời, hiệu quả, hạn chế hàng giả và bình ổn giá góp phần đẩy mạnh hoạt động thương mại trong nước, kích thích sức mua của người tiêu dùng. Mạng lưới siêu thị, trung tâm thương mại cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về mẫu mã, đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người dân.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Sáu ước tính đạt 326,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 243,5 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 41,4 nghìn tỷ đồng, tăng 14,2%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8%; doanh thu dịch vụ khác đạt 38,7 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2%.

Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 1.924,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,4% (cao hơn mức tăng 8,1% của cùng kỳ năm 2016). Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm ước đạt 1.443,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 75% tổng mức và tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 10,6%; may mặc tăng 9,5%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình phương tiện đi lại cùng tăng 8,7%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 5,7%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 6 tháng ước tính đạt 237,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,4% tổng mức và tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có doanh thu tăng khá: Thanh Hóa tăng 20,3%; Long An tăng 17,1%; Bình Thuận tăng 13,2%; Đồng Nai tăng 13,1%; Cần Thơ tăng 13%; Hà Nội tăng 8,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 5,3%.

Doanh thu du lịch lữ hành 6 tháng đầu năm ước tính đạt 16,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,8% tổng mức và tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Hà Nội tăng 13,8%; Cần Thơ tăng 11,5%; Bình Thuận tăng 10,4%; Thái Nguyên tăng 8,9%; Bắc Ninh tăng 5,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,5%. Bên cạnh đó, một số địa phương doanh thu giảm mạnh: An Giang giảm 49,6%; Bình Phước giảm 17,9%; Yên Bái giảm 11,8%.

Doanh thu dịch vụ khác 6 tháng ước tính đạt 226,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% tổng mức và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó doanh thu của Quảng Trị tăng 14,7%; Đồng Nai tăng 13,2%; Bắc Giang tăng 10,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,2%; Lào Cai tăng 7,4%; Thừa Thiên - Huế tăng 5,6%; Cần Thơ tăng 3,9%.

 

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

 

b. Vận tải và viễn thông

Vận tải hành khách tháng Sáu ước tính đạt 339,3 triệu lượt khách, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước và 15 tỷ lượt khách.km, tăng 9,2%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2017, vận tải hành khách đạt 1.977,5 triệu lượt khách, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước và 88,9 tỷ lượt khách.km, tăng 8,5%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 1.863,7 triệu lượt khách, tăng 9,6% và 60,7 tỷ lượt khách.km, tăng 8%; đường biển đạt 3,3 triệu lượt khách, tăng 9,5% và 168,5 triệu lượt khách.km, tăng 10%; đường hàng không đạt khá với 21,2 triệu lượt khách, tăng 9,8% và 24,5 tỷ lượt khách.km, tăng 10,3%; đường sắt đạt 5 triệu lượt khách, giảm 2,9% và 2 tỷ lượt khách.km, tăng 5,1%.

Vận tải hàng hóa tháng Sáu ước tính đạt 119 triệu tấn, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước và 22,1 tỷ tấn.km, tăng 6,6%. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, vận tải hàng hóa đạt 705,2 triệu tấn, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước và 130,6 tỷ tấn.km, tăng 5,8%, trong đó vận tải trong nước đạt 688,8 triệu tấn, tăng 9% và 64,7 tỷ tấn.km, tăng 10,6%; vận tải ngoài nước đạt 16,4 triệu tấn, tăng 0,3% và 65,9 tỷ tấn.km, tăng 1,5%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 547,9 triệu tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước và 34,4 tỷ tấn.km, tăng 11,7%; đường sông đạt 120,5 triệu tấn, tăng 6,7% và 25,6 tỷ tấn.km, tăng 7,3%; đường biển đạt 33,8 triệu tấn, tăng 9,4% và 68,5 tỷ tấn.km, tăng 2,5%; đường sắt đạt 2,8 triệu tấn, tăng 6,3% và 1,7 tỷ tấn.km, tăng 8,1%.

Doanh thu hoạt động viễn thông 6 tháng đầu năm ước tính đạt 189,5 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2016. Tính đến cuối tháng 6/2017, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 126,5 triệu thuê bao, giảm 5,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó số thuê bao di động đạt 119,4 triệu thuê bao, giảm 6,2% do các nhà mạng thực hiện thu hồi sim rác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông. Số thuê bao internet băng rộng cố định ước tính đạt 9,9 triệu thuê bao, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm 2016.

 

Vận tải hành khách và hàng hoá

 

c. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Sáu ước tính đạt 949,4 nghìn lượt người, tăng 33,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ châu Á tăng 38,3%; từ châu Âu tăng 25,9%; từ châu Mỹ tăng 8,8%; từ châu Úc tăng 21%. So với tháng trước, lượng khách quốc tế giảm 2,4% do thời điểm tháng Sáu không phải mùa nghỉ lễ của nhiều quốc gia trên thế giới.

 Tính chung 6 tháng đầu năm, khách quốc tế đến nước ta đạt 6.206,3 nghìn lượt người, tăng 30,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 5.212 nghìn lượt người, tăng 33%; đến bằng đường bộ đạt 823,5 nghìn lượt người, tăng 15,8%; đến bằng đường biển đạt 170,8 nghìn lượt người, tăng 26%.

Trong 6 tháng đầu năm nay, khách đến từ châu Á đạt 4.572,7 nghìn lượt người, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 73,7% trong tổng lượt khách quốc tế đến nước ta, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 1.887,5 nghìn lượt người, tăng 56,7%, chiếm 30,4% trong tổng lượt khách quốc tế đến Việt Nam; Hàn Quốc 1.066,3 nghìn lượt người, tăng 43,9%; Nhật Bản 378,8 nghìn lượt người, tăng 6,5%; Đài Loan 297,9 nghìn lượt người, tăng 22,9%; Ma-lai-xi-a 231,6 nghìn lượt người, tăng 15,9%; Thái Lan 152,4 nghìn lượt người, tăng 12,2%; Xin-ga-po 132,4 nghìn lượt người, tăng 6,2%.

Khách đến từ châu Âu đạt 979,3 nghìn lượt người, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 15,8% trong tổng lượt khách quốc tế đến nước ta, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 313,5 nghìn lượt người, tăng 53,4%; Vương quốc Anh 145 nghìn lượt người, tăng 13%; Pháp 136,1 nghìn lượt người, tăng 9,8%; Đức 103,2 nghìn lượt người, tăng 18,8%; Hà Lan 31,9 nghìn lượt người, tăng 17,2%; I-ta-li-a 28,2 nghìn lượt người, tăng 15,6%; Thụy Điển 28 nghìn lượt người, tăng 21,5%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 434,4 nghìn lượt người, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 320,2 nghìn lượt người, tăng 9,3%. Khách đến từ châu Úc đạt 202,9 nghìn lượt người, tăng 9,5%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 181,5 nghìn lượt người, tăng 10%. Khách đến từ châu Phi đạt 17 nghìn lượt người, tăng 27% so với cùng kỳ năm 2016.

 
 

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/6/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 5,69% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 8,07%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,89% (cùng kỳ năm trước tăng 8,23%); tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2017 đạt 7,54%[14] (mức tăng cao nhất trong vòng 6 năm trở lại đây) cho thấy khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp cùng với thu nhập lãi của các ngân hàng có sự cải thiện đáng kể.

Mặt bằng lãi suất huy động tương đối ổn định, một số ngân hàng đã có động thái tăng lãi suất huy động nhưng mức độ tăng nhỏ, không thể hiện xu hướng tăng của thị trường. Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,8%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5%-5,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,4%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,4%-7,2%/năm. Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến ở mức 6%-9%/năm đối với ngắn hạn; 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn. Đối với nhóm khách hàng có tình hình tài chính minh bạch, lãi suất cho vay ngắn hạn từ 4%-5%/năm. Nhìn chung, cơ cấu tín dụng đang tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, các dự án lớn, trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ.

Thị trường bảo hiểm 6 tháng đầu năm duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 6 tháng ước tính tăng 19% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó: Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 30%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 9%.

2. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng đầu năm 2017 theo giá hiện hành ước tính đạt 674,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,8% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 242,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,9% tổng vốn và tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 260,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,7% và tăng 14,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 171,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,4% và tăng 9,6%.

 

Tốc độ phát triển vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

6 tháng các năm 2015 - 2017 so với cùng kỳ năm trước

(Theo giá hiện hành)

Đơn vị tính: %

 

6 tháng            năm 2015

6 tháng 
năm 2016

6 tháng       năm 2017

Tổng số

109,3

110,3

110,5

Khu vực Nhà nước

107,8

105,4

106,8

Khu vực ngoài Nhà nước

110,5

112,9

114,9

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

109,8

114,3

109,6

 

 

 

 

 

 

 

 

 Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 6 tháng ước tính đạt 115 nghìn tỷ đồng, bằng 38,7% kế hoạch năm và tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 26 nghìn tỷ đồng, bằng 37,1% kế hoạch năm và tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 14 nghìn tỷ đồng, bằng 44,2% và tăng 46,7%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1.863 tỷ đồng, bằng 31,8% và giảm 25,1%; Bộ Y tế 1.711 tỷ đồng, bằng 33,3% và tăng 32,2%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 269 tỷ đồng, bằng 37,8% và giảm 64,5%; Bộ Xây dựng 235 tỷ đồng, bằng 48,6% và giảm 41,3%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 192 tỷ đồng, bằng 32,7% và giảm 15,2%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 189 tỷ đồng, bằng 32,3% và giảm 34,6%; Bộ Công Thương 99 tỷ đồng, bằng 40,7% và giảm 44,5%; Bộ Khoa học và Công nghệ 35 tỷ đồng, bằng 36,6% và giảm 63,4%; Bộ Thông tin và Truyền thông 34 tỷ đồng, bằng 35,1% và giảm 33,9%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 89 nghìn tỷ đồng, bằng 39,3% kế hoạch năm và tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 61,8 nghìn tỷ đồng, bằng 37,1% kế hoạch năm và tăng 4,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 22,7 nghìn tỷ đồng, bằng 44,2% và tăng 15,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 4.524 tỷ đồng, bằng 52,2% và tăng 9%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 14,2 nghìn tỷ đồng, bằng 43,9% kế hoạch năm và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 7.743 tỷ đồng, bằng 22,7% và tăng 3,2%; Nghệ An 2.910 tỷ đồng, bằng 45% và tăng 13,7%; Vĩnh Phúc 2.579 tỷ đồng, bằng 43% và tăng 25,6%; Bình Dương 2.455 tỷ đồng, bằng 34,3% và tăng 12,4%; Quảng Ninh 2.426 tỷ đồng, bằng 33,1% và tăng 15,6%; Thanh Hóa 2.179 tỷ đồng, bằng 45,6% và tăng 5,9%; Kiên Giang 2.123 tỷ đồng, bằng 55% và tăng 12,2%.

Nhìn chung, tình hình thực hiện vốn đầu tư có chuyển biến tích cực trong những tháng gần đây nhưng còn thấp so với kế hoạch năm, nhất là nguồn vốn đầu tư công. Để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng cả năm như kế hoạch đề ra, bên cạnh việc tăng cường thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, trong những tháng cuối năm các bộ, ngành và địa phương cần tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn theo chỉ đạo của Chính phủ.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/6/2017 thu hút 1.183 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 11,84 tỷ USD[15], tăng 56,3% về số dự án và tăng 57,9% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 549 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 5,14 tỷ USD.

Trong 6 tháng đầu năm 2017 có 2.501 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 2,25 tỷ USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 6 tháng đầu năm đạt 19,23 tỷ USD, tăng 54,8% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm ước tính đạt 7,7 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong 6 tháng đầu năm nay, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 5.255,8 triệu USD, chiếm 44,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 3.838,5 triệu USD, chiếm 32,4%; các ngành còn lại đạt 2.743,9 triệu USD, chiếm 23,2%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước và góp vốn, mua cổ phần thì tổng vốn đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 6 tháng đầu năm đạt 9.487,3 triệu USD, chiếm 49,3% tổng vốn đăng ký; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 5.257,1 triệu USD, chiếm 27,4%; các ngành còn lại đạt 4.485 triệu USD, chiếm 23,3%.

Trong 6 tháng đầu năm, cả nước có 52 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, trong đó Thanh Hóa có số vốn đăng ký lớn nhất với 3.054,5 triệu USD, chiếm 25,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Nam Định 2.121,3 triệu USD, chiếm 17,9%; Kiên Giang 1.304,8 triệu USD, chiếm 11%; Bình Dương 1.026,1 triệu USD, chiếm 8,7%; Tây Ninh 635,7 triệu USD, chiếm 5,4%; Bắc Giang 512,3 triệu USD, chiếm 4,3%; thành phố Hồ Chí Minh 395,1 triệu USD, chiếm 3,3%; Bình Phước 282,9 triệu USD, chiếm 2,4%; Đồng Nai 271,2 triệu USD, chiếm 2,3%; Bắc Ninh 204,3 triệu USD, chiếm 1,7%; Quảng Ngãi 169 triệu USD, chiếm 1,4%; Hà Nội 167,6 triệu USD, chiếm 1,4%; Hải Dương 134,4 triệu USD, chiếm 1,1%; Trà Vinh 125,9 triệu USD, chiếm 1,1%.

Trong số 56 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 6 tháng năm nay, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 4.568,1 triệu USD, chiếm 38,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 2.731,7 triệu USD, chiếm 23,1%; Hàn Quốc 1.625 triệu USD, chiếm 13,7%; Trung Quốc 1.100,6 triệu USD, chiếm 9,3%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 550,2 triệu USD, chiếm 4,6%; CHLB Đức 321,9 triệu USD, chiếm 2,7%.

 

 
 

 

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2017 ước tính đạt 500,9 nghìn tỷ đồng, bằng 41,3% dự toán năm, trong đó thu nội địa 399,1 nghìn tỷ đồng, bằng 40,3%; thu từ dầu thô 21,1 nghìn tỷ đồng, bằng 55,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 80,6 nghìn tỷ đồng, bằng 44,8%. Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất đạt 44,5 nghìn tỷ đồng, bằng 69,8% dự toán năm; thu thuế thu nhập cá nhân 39 nghìn tỷ đồng, bằng 48,2%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 79,3 nghìn tỷ đồng, bằng 40,8%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 74,1 nghìn tỷ đồng, bằng 36,9%; thu thuế bảo vệ môi trường 16,6 nghìn tỷ đồng, bằng 36,8%; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 82,5 nghìn tỷ đồng, bằng 28,8%.

Chi ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng Sáu diễn biến bình thường, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ đầu tư phát triển; chi trả nợ; đảm bảo quốc phòng, an ninh và hoạt động của bộ máy Nhà nước. Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2017 ước tính đạt 533,4 nghìn tỷ đồng, bằng 38,4% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 398,9 nghìn tỷ đồng, bằng 44,5%; chi trả nợ lãi 50 nghìn tỷ đồng, bằng 50,5%; riêng chi đầu tư phát triển mới đạt 83,3 nghìn tỷ đồng, bằng 23,3% dự toán năm[16]. Các Bộ, ngành, địa phương vẫn đang tập trung triển khai thực hiện các giải pháp đã đề ra để tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn theo chỉ đạo của Chính phủ. Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2017 ước tính đạt 88,1 nghìn tỷ đồng, bằng 53,8% dự toán năm.

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 5/2017 đạt 17.931 triệu USD, cao hơn 731 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 234 triệu USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác cao hơn 98 triệu USD; giày dép cao hơn 81 triệu USD; thủy sản cao hơn 60 triệu USD; dầu thô cao hơn 57 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng cao hơn 48 triệu USD; hạt điều cao hơn 34 triệu USD; sắt thép cao hơn 31 triệu USD. 

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Sáu ước tính đạt 17,80 tỷ USD, giảm 0,7% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,80 tỷ USD, giảm 2,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 13,00 tỷ USD, xấp xỉ kim ngạch xuất khẩu tháng trước. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch giảm so với tháng trước: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác giảm 8,2%; điện thoại và linh kiện giảm 8,1%; giày dép giảm 2,2%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với tháng trước: Dệt, may tăng 14,1%; dầu thô tăng mạnh tới 46,8%[17]. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Sáu tăng 20,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 11,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 24,7%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng tăng khá: Điện thoại và linh kiện tăng 43,4%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 37,1%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 24%.  

Tính chung 6 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 97,8 tỷ USD, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 27 tỷ USD, tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 70,8 tỷ USD, tăng 21%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2016.  

Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 20,1 tỷ USD, tăng 18,3%; hàng dệt may đạt 11,6 tỷ USD, tăng 7%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 11,3 tỷ USD, tăng 42,3%; giày dép đạt 7 tỷ USD, tăng 11,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 6,1 tỷ USD, tăng 36,3%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,6 tỷ USD, tăng 13,5%; thủy sản đạt 3,6 tỷ USD, tăng 15,6%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 3,3 tỷ USD, tăng 15%; cà phê đạt 1,9 tỷ USD, tăng 9,9% (lượng giảm 15,5%); rau quả đạt 1,7 tỷ USD, tăng 50,4%; dầu thô đạt 1,6 tỷ USD, tăng 39,2% (lượng tăng 10,1%); hạt điều đạt 1,4 tỷ USD, tăng 20,3% (lượng giảm 4,7%). Tuy nhiên, có một số mặt hàng kim ngạch xuất khẩu giảm: Hạt tiêu đạt 724 triệu USD, giảm 15,5% (lượng tăng 20,4%); sắn và sản phẩm của sắn đạt 500 triệu USD, giảm 9,9% (lượng giảm 5,7%); đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt 256 triệu USD, giảm 52%.  

Về cơ cấu hàng xuất khẩu, 6 tháng đầu năm nay nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 47,8 tỷ USD, tăng 26,8% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 48,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 3,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2016), trong đó điện thoại và linh kiện đạt 20,1 tỷ USD, tăng 18,3% và chiếm 20,5%. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 37 tỷ USD, tăng 11% và chiếm 37,8% (giảm 2,7 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 9,5 tỷ USD, tăng 16% và chiếm 9,7% (giảm 0,2 điểm phần trăm). Hàng thủy sản đạt 3,6 tỷ USD, tăng 15,6% và chiếm 3,6% (giảm 0,1 điểm phần trăm). 

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 19,6 tỷ USD, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó: Hàng dệt may tăng 3,6%; giày dép tăng 12,9%; điện thoại và linh kiện tăng 9,1%. Tiếp đến là EU với 18,2 tỷ USD, tăng 12,6%, trong đó: Điện thoại và linh kiện tăng 12,7%; giày dép tăng 5,4%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 25,5%. Trung Quốc đạt 13 tỷ USD, tăng 42,5%, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện tăng 94,5%; rau quả tăng 58,5%; xơ sợi dệt tăng 30,2%. Thị trường ASEAN đạt 10,4 tỷ USD, tăng 26,7%, trong đó: Điện thoại và linh kiện tăng 31,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 95%. Nhật Bản đạt 8 tỷ USD, tăng 19,5%, trong đó: Dệt, may tăng 9,5%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 15,2%. Hàn Quốc đạt 6,6 tỷ USD, tăng 29,1%, trong đó: Điện thoại và linh kiện tăng 29,6%; dệt, may tăng 22,5%. 

b. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 5/2017 đạt 18.459 triệu USD, cao hơn 459 triệu USD so với số ước tính, trong đó: Điện thoại và linh kiện cao hơn 99 triệu USD; xăng dầu cao hơn 71 triệu USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 59 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 57 triệu USD; vải cao hơn 40 triệu USD; tân dược cao hơn 30 triệu USD; sản phẩm chất dẻo cao hơn 26 triệu USD.  

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Sáu ước tính đạt 18,00 tỷ USD, giảm 2,5% so với tháng trước, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước đạt 7,25 tỷ USD, giảm 1,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 10,75 tỷ USD, giảm 3,4%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm: Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác giảm 1,7%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 5,3%; vải giảm 3,5%; sắt thép giảm 4,5%; chất dẻo giảm 2,8%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép giảm 5,4%; sản phẩm chất dẻo giảm 1,2%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Sáu tăng 21,6%, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước tăng 11,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 29,2%. Một số mặt hàng phục vụ sản xuất, gia công lắp ráp trong nước có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 31,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 27,8%; điện thoại và linh kiện tăng 49,8%.  

Tính chung 6 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu đạt 100,5 tỷ USD, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước[18], trong đó: Khu vực kinh tế trong nước đạt 39,9 tỷ USD, tăng 18,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 60,6 tỷ USD, tăng 28,3%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2017 tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước.  

Kim ngạch nhập khẩu của hầu hết mặt hàng trong 6 tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 18,4 tỷ USD, tăng 37,8%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 16,2 tỷ USD, tăng 28,2%; điện thoại và linh kiện đạt 6,2 tỷ USD, tăng 29,5%; vải đạt 5,6 tỷ USD, tăng 10,1%; sắt thép đạt 4,7 tỷ USD, tăng 24,3% (lượng giảm 16,1%); chất dẻo đạt 3,5 tỷ USD, tăng 24,6% (lượng tăng 14,2%); xăng dầu đạt 3,4 tỷ USD, tăng 31,4% (lượng tăng 1,7%); nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 2,7 tỷ USD, tăng 9,5%; kim loại thường khác đạt 2,7 tỷ USD, tăng 19,8% (lượng giảm 13,8%); sản phẩm chất dẻo đạt 2,5 tỷ USD, tăng 20,6%; sản phẩm hóa chất đạt 2,1 tỷ USD, tăng 18,7%; hóa chất đạt 2 tỷ USD, tăng 34,8%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 1,7 tỷ USD, tăng 15,5%; tân dược đạt 1,3 tỷ USD, tăng 4%; bông đạt 1,3 tỷ USD, tăng 58,6% (lượng tăng 33,2%); gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,1 tỷ USD, tăng 21%. 

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 92,2 tỷ USD, tăng 24,6% và chiếm 91,7% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (giảm 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2016), trong đó: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 43,8 tỷ USD, tăng 27% và chiếm 43,6% (tăng 1,0 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 48,4 tỷ USD, tăng 22,6% và chiếm 48,1% (giảm 0,6 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 8,3 tỷ USD, tăng 18,6% và chiếm 8,3% (giảm 0,3 điểm phần trăm). 

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2017, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 27,1 tỷ USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm 2016[19], trong đó kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ sản xuất, gia công lắp ráp tăng: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 28%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 29,2%; điện thoại và linh kiện tăng 13,8%. Thị trường Hàn Quốc đứng ở vị trí thứ hai đạt 22,5 tỷ USD, tăng 51,2%, trong đó: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 123,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 46,1%; điện thoại và linh kiện tăng 37,7%. Tiếp theo là thị trường ASEAN đạt 13,6 tỷ USD, tăng 17,6%, trong đó: Xăng dầu tăng 11,9%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 2,7%. Nhật Bản đạt 7,7 tỷ USD, tăng 10,7%, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện tăng 22,8%; sắt thép tăng 17,9%. EU đạt 5,8 tỷ USD, tăng 16,3%, trong đó: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 12,9%; dược phẩm tăng 2,6%. Hoa Kỳ đạt 4,8 tỷ USD, tăng 27,2%, trong đó: Bông tăng 104,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 38,5%. 

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Năm nhập siêu 528 triệu USD[20]; tháng Sáu ước tính nhập siêu 200 triệu USD. Tính chung 6 tháng năm 2017 nhập siêu 2,70 tỷ USD, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 12,92 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 10,22 tỷ USD.

c. Xuất, nhập khẩu dịch vụ 

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2017 ước tính đạt 6,4 tỷ USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ du lịch đạt 4,3 tỷ USD, chiếm 67,7% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 6,4%; dịch vụ vận tải đạt 1,2 tỷ USD, chiếm 19,5% và tăng 8,8%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước tính đạt 8,2 tỷ USD, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Dịch vụ vận tải đạt 3,9 tỷ USD, chiếm 47,6% tổng kim ngạch nhập khẩu và giảm 1,8%; dịch vụ du lịch đạt 2,4 tỷ USD, chiếm 29,1% và tăng 15,6%. Nhập siêu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2017 ước tính đạt 1,8 tỷ USD, bằng 27,3% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ. 

 
 

5. Chỉ số giá

a. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2017 tiếp tục giảm 0,17% so với tháng trước, trong đó 3/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có CPI giảm: Nhóm giao thông giảm 0,71% chủ yếu do điều chỉnh giảm giá xăng, dầu tại thời điểm 20/6/2017[21] làm giá nhiên liệu giảm 1,47%, tác động làm CPI giảm 0,06%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,59%, trong đó lương thực giảm 0,51% do lượng cung dồi dào[22]; thực phẩm giảm 0,85% chủ yếu do giá thịt tươi sống giảm[23] (tác động làm CPI giảm 0,19%); bưu chính viễn thông giảm 0,01%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,53%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,19%; giáo dục tăng 0,09%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%; may mặc, giầy dép, mũ nón và hàng hóa và dịch vụ khác cùng tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2017 tăng 4,15% so với bình quân cùng kỳ năm 2016; CPI tháng 6/2017 tăng 0,20% so với tháng 12/2016 và tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước. CPI 6 tháng đầu năm tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Giá dịch vụ y tế tại 27 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh tăng theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính và Thông tư số 02/2017/TT-BYT ngày 15/3/2017 của Bộ Y tế[24]; (ii) Một số địa phương thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ[25]; (iii) Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép tăng trở lại trong 6 tháng đầu năm làm chỉ số giá xuất, nhập khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI trong 6 tháng đầu năm, có một số yếu tố góp phần kiềm chế CPI: (i) Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 1,74% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp mức giảm CPI chung 0,39%. Giá thịt lợn giảm mạnh do nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu thu mua thịt lợn xuất khẩu sang Trung Quốc giảm; (ii) Các cấp, các ngành tăng cường thực hiện tốt Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2017 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017.

Lạm phát cơ bản tháng 6/2017 tăng 0,10% so với tháng trước và tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2017 tăng 1,52% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

b. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 6/2017 tăng 0,25% so với tháng trước; tăng 3,16% so với tháng 12/2016; tăng 4,39% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2017 giảm 0,07% so với tháng trước; giảm 0,11% so với tháng 12/2016 và tăng 1,50% so với cùng kỳ năm 2016.

c. Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II năm nay giảm 3,26% so với quý trước và giảm 0,53% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất nông nghiệp giảm 4,81% và giảm 2,84%; lâm nghiệp tăng 0,94% và tăng 4,84%; thủy sản tăng 1,17% và tăng 6,08%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý II giảm 0,78% so với quý trước và tăng 0,59% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 0,66% và tăng 12,07%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,99% và giảm 0,59%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,94% và tăng 3,67%; nước sạch, nước thải, xử lý nước thải, rác thải tăng 0,45% và tăng 1,46%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 1,02% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý II năm nay tăng 0,41% so với quý trước và tăng 0,75% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 2,43% và giảm 0,97%; sử dụng cho sản xuất công nghiệp tăng 0,19% và tăng 0,32%; sử dụng cho xây dựng tăng 3,17% và tăng 4,72%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 0,57% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá cước vận tải, kho bãi quý II tăng 0,59% so với quý trước và tăng 2,63% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá cước ngành đường sắt giảm 2,73% và giảm 3,62%; vận tải đường bộ và xe buýt tăng 0,37% và tăng 1,41%; đường thủy giảm 0,24% và giảm 0,13%; đường hàng không tăng 3,80% và tăng 6,60%; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 0,05% và tăng 2,26%; dịch vụ bưu chính và chuyển phát tăng 0,01% và giảm 0,36%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá cước vận tải, kho bãi tăng 1,74% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý II năm 2017 tăng 0,71% so với quý trước và tăng 3,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,74% và tăng 2,71%; thông tin và truyền thông tăng 0,01% và tăng 0,30%; giáo dục và đào tạo tăng 0,24% và tăng 6,28%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 6,94% và tăng 25,34%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước.

d. Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý II năm nay giảm 0,47% so với quý trước và tăng 4,55% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,70% và tăng 9,32%; nhóm nhiên liệu tăng 0,46% và tăng 30,64%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,68% và tăng 1,34%. Chỉ số giá xuất khẩu quý II của một số mặt hàng như sau: Hàng rau quả tăng 0,96% so với quý trước và tăng 2,84% so với cùng kỳ năm trước; cà phê tăng 0,74% và tăng 29,80%; dầu thô tăng 0,87% và tăng 33,61%; cao su tăng 5,21% và tăng 49,85%; sắt, thép tăng  4,88% và giảm 5,99%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá tăng 5,27% so với cùng kỳ năm 2016.

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý II tăng 0,06% so với quý trước và tăng 3,20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,63% và tăng 4,66%; nhóm nhiên liệu giảm 1,73% và tăng 22,52%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo tăng 0,10% và tăng 1,41%. Chỉ số giá nhập khẩu quý II của một số mặt hàng như sau: Khí đốt hóa lỏng giảm 9,77% so với quý trước và tăng 6,57% so với cùng kỳ năm trước; xăng dầu giảm 0,80% và tăng 26,11%; cao su tăng 6,43% và tăng 36,11%; gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 0,81% và giảm 3,20%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 3,30% và tăng 3,65%. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 3,30% so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ giá thương mại hàng hóa[26] quý II năm nay giảm 0,52% so với quý trước và tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tỷ giá thương mại của xăng dầu giảm 0,94% và tăng 5,80%; cao su giảm 1,14% và tăng 10,09%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 3,49% và giảm 5,56%; điện thoại và linh kiện tăng 10,72% và tăng 17,44%. Tính chung 6 tháng đầu năm, tỷ giá thương mại hàng hoá tăng 1,90% so với cùng kỳ năm 2016.

 

 
 
 
  
 
 
 
 
 

 

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2017 của cả nước ước tính 93,7 triệu người, bao gồm dân số thành thị 32,9 triệu người, chiếm 35,1%; dân số nông thôn 60,8 triệu người, chiếm 64,9%; dân số nam 46,2 triệu người, chiếm 49,3%; dân số nữ 47,5 triệu người, chiếm 50,7%.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 01/7/2017 ước tính là 54,5 triệu người, tăng 162,2 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2016, bao gồm: Lao động nam 28,3 triệu người, chiếm 52,0%; lao động nữ 26,2 triệu người, chiếm 48,0%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 17,5 triệu người, chiếm 32,1%; khu vực nông thôn là 37,0 triệu người, chiếm 67,9%.

Lực lượng lao động trong độ tuổi tại thời điểm 1/7/2017 ước tính 47,9 triệu người, tăng 405,3 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động nam 26,0 triệu người, chiếm 54,2%; lao động nữ 21,9 triệu người, chiếm 45,8%; lao động khu vực thành thị là 16,0 triệu người, chiếm 33,4%; lao động khu vực nông thôn là 31,9 triệu người, chiếm 66,6%.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong 6 tháng đầu năm nay ước tính 53,4 triệu người, bao gồm 21,6 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 40,4% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 13,6 triệu người, chiếm 25,6%; khu vực dịch vụ 18,2 triệu người, chiếm 34,0%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2017 là 2,30%; quý II ước tính là 2,26%. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,28%, trong đó khu vực thành thị là 3,22%; khu vực nông thôn là 1,81%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) 6 tháng đầu năm là 7,48%, trong đó khu vực thành thị là 11,98%; khu vực nông thôn là 5,79%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I là 1,82%; quý II ước tính 1,63%. Tính chung 6 tháng đầu năm, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 1,72%, trong đó khu vực thành thị là 0,85%; khu vực nông thôn là 2,15%.

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[27] quý I/2017 là 56,9%; quý II ước tính là 57,3%, trong đó khu vực thành thị là 48,7%; khu vực nông thôn là 64,7%. Tính chung 6 tháng đầu năm, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản là 57,1%, trong đó khu vực thành thị là 48,8%; khu vực nông thôn là 64,3%.

2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư 6 tháng đầu năm 2017 nhìn chung ổn định. Tuy nhiên, do giá thịt lợn những tháng đầu năm giảm mạnh nên đời sống của các hộ chăn nuôi gặp nhiều khó khăn. Các địa phương tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 và công tác an sinh, xã hội. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí huy động từ ngân sách Trung ương, các tỉnh, thành phố và các tổ chức, cá nhân dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 6 tháng đầu năm 2017 4.175 tỷ đồng, bao gồm: 2.132 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1.596 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 447 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có 13 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

Thiếu đói trong nông dân giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng Sáu 16 nghìn hộ thiếu đói, giảm 37,7% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 64,6 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 41%. Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước155,7 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 26,3% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 638,5 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 26,9%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 17,2 nghìn tấn lương thực và khoảng 1,1 tỷ đồng.

3. Giáo dục, đào tạo

Tính đến cuối tháng 6/2017, tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được công nhận đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 1, trong đó 14 tỉnh, thành phố[28] được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 theo Nghị định số 20/2014/NĐ-CP của Chính phủThông tư số 07/2016/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm nay tiếp tục có những đổi mới theo hướng giảm áp lực và tốn kém cho thí sinh, gia đình và xã hội, bảo đảm độ tin cậy trong xét tốt nghiệp trung học phổ thông và là cơ sở để tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng. Theo báo cáo sơ bộ, kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2017 được tổ chức tại 63 cụm thi, tương ứng với 2.364 điểm thi và 36.832 phòng thi. Số thí sinh đăng ký dự thi là 866 nghìn người, trong đó 640 nghìn thí sinh đăng ký xét tuyển đại học, chiếm 75% tổng số thí sinh đăng ký dự thi.

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Sáu, cả nước có 6,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 8,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (1 trường hợp tử vong); 67 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 80 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (4 trường hợp tử vong); 5 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 3 trường hợp nhiễm vi rút Zika; 68 trường hợp mắc bệnh ho gà và 20 trường hợp mắc bệnh do liên cầu lợn (2 trường hợp tử vong). Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước có gần 21,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 36,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (9 trường hợp tử vong); 251 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 275 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (9 trường hợp tử vong); 19 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (3 trường hợp tử vong); 27 trường hợp nhiễm vi rút Zika; 334 trường hợp mắc bệnh ho gà (5 trường hợp tử vong); 80 trường hợp mắc bệnh do liên cầu lợn (6 trường hợp tử vong) và 37 trường hợp mắc bệnh viêm não Nhật Bản.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 17/6/2017 là 218,3 nghìn người, trong đó 89,7 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 91,1 nghìn người.

Trong tháng Sáu đã xảy ra 15 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 340 người bị ngộ độc, trong đó 1 trường hợp tử vong. Tính chung 6 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 59 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng, làm 1.346 người bị ngộ độc, trong đó 17 trường hợp tử vong.

5. Hoạt động văn hóa, thể thao

Hoạt động văn hóa 6 tháng đầu năm tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước và tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân Đinh Dậu. Nhiều sự kiện được tổ chức với quy mô lớn và thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân như: Festival Di sản Quảng Nam lần thứ VI; Triển lãm Telefilm 2017 tại thành phố Hồ Chí Minh; Lễ hội bánh dân gian Nam Bộ lần thứ VI tại Cần Thơ; Lễ hội Trái cây Nam Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh; Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ II tại Bình Dương; Hội thi hợp xướng quốc tế Hội An lần thứ V, Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng; tổ chức thành công Lễ đón Bằng UNESCO ghi danh “Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Công tác quản lý lễ hội được chú trọng nhằm phát huy tính tích cực của lễ hội dân gian và phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc; tăng cường kiểm tra và kiên quyết xử lý những lễ hội có vi phạm, không đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường. Một số địa phương đã vận động, thuyết phục được cộng đồng bãi bỏ các lễ hội có yếu tố bạo lực, không phù hợp với nếp sống văn minh.

Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh, cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” diễn ra sôi nổi khắp các địa phương. Nhiều hoạt động thể dục thể thao đã được thực hiện như: Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân; Đại hội Thể dục thể thao các cấp; ngành Thể thao phối hợp với các Bộ, ngành triển khai các hoạt động thể dục thể thao và kế hoạch Bơi an toàn, phòng chống tai nạn đuối nước trẻ em năm 2017; công tác chuẩn bị tham dự SEA Games 29 và Para Games 9 tại Ma-lai-xi-a và các giải thể thao quần chúng cấp khu vực, châu lục và thế giới khác.

Trong thể thao thành tích cao, 6 tháng đầu năm giành được 335 huy chương các loại (136 huy chương vàng, 104 huy chương bạc và 95 huy chương đồng) trên các đấu trường quốc tế, trong đó có 13 huy chương vàng; 13 huy chương bạc và 16 huy chương đồng cấp thế giới.

6. Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 16/5 đến 15/6), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.569 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 742 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 827 vụ va chạm giao thông, làm 643 người chết, 403 người bị thương và 945 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Sáu giảm 10,6% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 15,3% và số vụ va chạm giao thông giảm 5,9%); số người chết giảm 16,9%; số người bị thương giảm 19,9% và số người bị thương nhẹ giảm 10,3%.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 9.593 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 4.797 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 4.796 vụ va chạm giao thông, làm 4.134 người chết, 2.386 người bị thương và 5.549 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 6 tháng đầu năm nay giảm 6,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 4,8%; số vụ va chạm giao thông giảm 7,6%); số người chết giảm 5,2%; số người bị thương giảm 17,9% và số người bị thương nhẹ giảm 8%. Trong tổng số 4.797 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên 6 tháng vừa qua, có 4.661 vụ (chiếm 97,2%) xảy ra ở đường bộ, làm 4.031 người chết và 2.341 người bị thương; tai nạn giao thông đường sắt có 76 vụ, làm 65 người chết và 30 người bị thương; tai nạn giao thông đường thủy và hàng hải có 60 vụ, làm 38 người chết và 15 người bị thương. Bình quân 1 ngày trong 6 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 52 vụ tai nạn giao thông, gồm 26 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 26 vụ va chạm giao thông, làm 23 người chết, 13 người bị thương và 30 người bị thương nhẹ.

Đáng lưu ý, trong 6 tháng đầu năm đã xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng như: Vụ tai nạn giao thông hàng hải  trên vùng biển Vũng Tàu ngày 27/3 làm 9 người chết và 2 người bị thương; vụ tai nạn giao thông đường sắt tại đoạn giao xã Phước Thành (Bình Định) ngày 24/4 đã làm 4 người chết và 2 người bị thương; vụ tai nạn giao thông đường bộ trên quốc lộ 14 đi qua thị trấn Chư Sê (Gia Lai) ngày 7/5 đã làm 13 người chết, 32 người bị thương; vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra tại Tam Đảo (Vĩnh Phúc) ngày 8/6 làm 2 người chết và 11 người bị thương.

7. Thiệt hại do thiên tai 

Trong 6 tháng đầu năm 2017, thiên tai làm 27 người chết và mất tích, 30 người bị thương; 5,9 nghìn ngôi nhà bị ngập, sạt lở, tốc mái; 7,6 nghìn ha lúa và 3,8 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại trong 6 tháng đầu năm ước tính hơn 433 tỷ đồng. Riêng tháng 6/2017, mưa lớn, lũ, lốc xoáy và sạt lở đất đã làm 17 người chết và mất tích, 13 người bị thương; gần 600 ngôi nhà bị ngập, sạt lở, tốc mái; 2 nghìn ha lúa, 529 ha hoa màu bị ngập, hư hỏng; giá trị thiệt hại ước tính hơn 100 tỷ đồng.

Tình hình sạt lở đất tiếp tục xảy ra ở Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Cà Mau và Cần Thơ. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2017 đã xảy ra 20 vụ sạt lở, ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân và gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng. Dự báo tình hình sạt lở đất vẫn rất phức tạp, chính quyền các địa phương cần theo dõi chặt chẽ diễn biến sạt lở, chủ động di dời các hộ dân ra khỏi khu vực nguy hiểm, có nguy cơ sạt lở cao để đảm bảo an toàn tính mạng, hạn chế thiệt hại về tài sản.

8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng Sáu, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.576 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 1.212 vụ với tổng số tiền phạt gần 18,3 tỷ đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm đã phát hiện 9.520 vụ vi phạm quy định về bảo vệ môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 7.920 vụ với tổng số tiền phạt gần 114 tỷ đồng.

Tháng 6/2017, cả nước xảy ra 328 vụ cháy, nổ, làm 5 người chết và 26 người bị thương, thiệt hại ước tính 65 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ tăng 19,7%, số người chết giảm 58,3%, số người bị thương giảm 31,6% và thiệt hại ước tính giảm 51,2%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 2.359 vụ cháy, nổ, làm 49 người chết và 129 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 1 nghìn tỷ đồng. Các vụ cháy, nổ tập trung chủ yếu ở các khu dân cư, khu công nghiệp, cơ sở cho thuê mặt bằng để kinh doanh, trong đó một số vụ có tính chất nghiêm trọng như: Cháy tại chợ đêm thị xã Đồng Xoài (Bình Phước) ngày 15/2 làm 3 người chết; vụ cháy tại thành phố Thủ Dầu Một (Bình Dương) ngày 26/2 làm 4 người chết; vụ cháy tại quận Bình Tân (thành phố Hồ Chí Minh) ngày 12/3 làm 4 người chết; vụ cháy tại Khu Công nghiệp Trà Nóc (Cần Thơ) ngày 23/3 gây thiệt hại hơn 100 tỷ đồng và vụ cháy nhà dân tại Đà Nẵng ngày 5/4 làm 3 người bị chết.

Khái quát lại, kinh tế - xã hội nước ta trong 6 tháng đầu năm 2017 đã có chuyển biến theo hướng tích cực. Kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, tăng trưởng quý II cao hơn quý trước. Lạm phát được kiểm soát, mặt bằng lãi suất, tỷ giá ổn định; môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; xuất khẩu tăng cao, thu hút khách quốc tế và đầu tư nước ngoài đạt khá. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm giảm so với cùng kỳ năm trước; an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và đạt kết quả nhất định. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn hạn chế: Tốc độ tăng trưởng mới đạt xấp xỉ như dự kiến; tiến độ giải ngân vốn đầu tư chậm; sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn từ các năm trước và giá nông sản, thực phẩm giảm; đời sống một bộ phân dân cư còn gặp khó khăn.

Để thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, nhiệm vụ trong những tháng cuối năm là rất lớn. Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cả năm là 6,7%, tăng trưởng GDP 6 tháng cuối năm phải đạt trên 7,4%. Điều này đòi hỏi các ngành, các cấp, các địa phương phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017; Chỉ thị số 24/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng các ngành, lĩnh vực nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2017. Đồng thời tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm ổn kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, đảm bảo tăng trưởng tín dụng cả năm 2017 đạt 18%. Tạo điều kiện thông thoáng cho vay vốn sản xuất kinh doanh, vay tiêu dùng hộ gia đình; phấn đấu giảm lãi suất tín dụng cho vay đầu tư sản xuất, kinh doanh. Tập trung vốn tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hỗ trợ khởi nghiệp; hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho các hộ chăn nuôi lợn.

Hai là, có giải pháp phù hợp để thu hút và huy động các nguồn vốn đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tổng vốn đầu tư thực hiện cả năm 2017 đạt 34%-35% GDP. Các bộ, ngành và địa phương cần tập trung đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, trong đó chú trọng các dự án lớn, dự án quan trọng, các chương trình mục tiêu quốc gia, đảm bảo thực hiện và giải ngân hết nguồn vốn đầu tư công được giao năm 2017. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn đầu tư công đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng; không để xảy ra tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản.

Ba là, tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, thân thiện với môi trường. Chủ động bám sát diễn biến thời tiết để hạn chế tối đa ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt. Đẩy mạnh mô hình cánh đồng mẫu lớn để nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm trồng trọt. Tạo cơ chế về vốn, chủ động nắm bắt thông tin thị trường để doanh nghiệp và người sản xuất ký được hợp đồng bao tiêu sản phẩm ổn định giá và ổn định đầu ra cho nông sản. Hỗ trợ tích cực nông dân thực hiện các mô hình chuyển đổi hiệu quả từ đất lúa sang các cây trồng ngắn ngày, cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản. Kiểm soát tốt dịch bệnh, đảm bảo chất lượng thức ăn chăn nuôi và an toàn thực phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi cả trong nước và nước ngoài. Đẩy nhanh lộ trình gỡ bỏ lệnh cấm nhập khẩu của Trung Quốc đối với các loại thịt gia súc của Việt Nam, đồng thời sớm thỏa thuận để xuất khẩu chính ngạch mặt hàng lợn sống và thịt lợn sang Trung Quốc. Chính phủ cần có chính sách phù hợp hỗ trợ người chăn nuôi lợn để phục hồi chăn nuôi trong nước, chuẩn bị nguồn hàng thịt lợn cho các tháng cuối năm. Tập trung phát triển 2 sản phẩm chủ lực là tôm và cá tra trong nuôi trồng thủy sản.

Bốn là, tập trung duy trì và thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp chế biến chế tạo. Có chính sách khuyến khích phát triển các ngành sản xuất tiêu dùng trong nước như sản xuất đường, sản xuất phân bón. Tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu cho sản phẩm giầy dép, dệt may để có mức tăng trưởng tốt hơn, có biện pháp phòng vệ thương mại theo đúng quy định của WTO để bảo vệ ngành thép. Trong công nghiệp khai khoáng, có chính sách và các giải pháp kỹ thuật nâng cao sản lượng khai thác dầu thô và than đá, đảm bảo an toàn khai thác mỏ và bảo vệ môi trường. Huy động một cách hợp lý công suất, điện năng các nhà máy thủy điện, các nguồn điện mua của các nhà máy điện độc lập phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Xử lý dứt điểm các dự án, doanh nghiệp công nghiệp yếu kém, thua lỗ kéo dài gây lãng phí tài sản của Nhà nước.

Năm là, thúc đẩy nhu cầu trong nước, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước đối với hàng nhập khẩu. Tuyên truyền, vận động người Việt Nam dùng hàng Việt Nam. Phát triển hệ thống phân phối và bán lẻ trong nước nhằm hạn chế nước ngoài thâu tóm mạng lưới siêu thị và đưa hàng vào thị trường Việt Nam. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, phát triển thị trường xuất khẩu, bao gồm cả thị trường truyền thống và các thị trường có sức mua tiềm năng cao, các thị trường đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA). Thực hiện tốt công tác dự báo thị trường, nắm rõ các rào cản kỹ thuật và chủ động xây dựng các biện pháp ứng phó và khắc phục.

Sáu là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và các chính sách an sinh xã hội. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 

 



[1] Trong tháng 4/2017 Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã nâng mức dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2017 lên 3,5%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với mức 3,4% đã dự báo trong tháng 1/2017. 

[2]Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành dịch vụ 6 tháng của một số năm: Năm 2012 tăng 6,11%; năm 2013 tăng 6,13%; năm 2014 tăng 5,82%; năm 2015 tăng 5,86%; năm 2016 tăng 6,47%.

[3]Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành khai khoáng 6 tháng của một số năm: Năm 2011 tăng 2,82%; năm 2012 tăng 5,1%; năm 2013 tăng 2,05%; năm 2014 giảm 1,13%; năm 2015 tăng 8,48%; năm 2016 giảm 2,25%.

[4] Mức tăng ngành kinh doanh bất động sản 6 tháng một số năm: Năm 2012 tăng 0,8%; năm 2013 tăng 1,81%; năm 2014 tăng 2,51%; năm 2015 tăng 2,72%; năm 2016 tăng 3,33%.

 

[5] Trong đó: Diện tích chuyển sang đất phi nông nghiệp (xây dựng hạ tầng, đường giao thông...) là 2,8 nghìn ha; chuyển sang trồng cây lâu năm là 2,5 nghìn ha; chuyển sang trồng cây hàng năm khác (rau, đậu) là 1,2 nghìn ha; diện tích đất không sản xuất (bỏ hoang, bị ô nhiễm) là 1,9 nghìn ha...

[6] Diện tích chuyển sang trồng cây lâu năm là 6,3 nghìn ha; chuyển sang nuôi trồng thủy sản là 2,3 nghìn ha; chuyển sang đất phi nông nghiệp là 0,3 nghìn ha; diện tích đất không sản xuất do hạn hán, nhiễm mặn là 7,4 nghìn ha.

[7] Sản lượng lúa đông xuân của các địa phương phía Bắc đạt 7,1 triệu tấn, giảm 146,9 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước; các địa phương phía Nam đạt 12 triệu tấn, giảm 149,7 nghìn tấn.

[8] Diện tích nuôi trồng thủy sản 6 tháng đạt 907,9 nghìn ha, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá đạt 253,2 nghìn ha, tăng 0,7%; diện tích nuôi tôm đạt 611,8 nghìn ha, tăng 3,7%.

[9]Sản lượng thủy sản khai thác biển 6 tháng đầu năm 2017 so với cùng kỳ năm trước của Hà Tĩnh tăng 12,1 nghìn tấn (tăng 18,9%); Quảng Bình tăng 25,5 nghìn tấn (tăng 12,2%); Quảng Trị tăng 8,9 nghìn tấn (tăng 41,8%);  Thừa Thiên - Huế tăng 17 nghìn tấn (tăng 29,2%).

[10]6 tháng đầu năm 2016 ngành khai khoáng giảm 3,8%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,9%.

[11]Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[12]So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 10,1%; số vốn đăng ký tăng 41,2%; vốn bình quân tăng 28,3%.

[13]6 tháng năm 2016, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 20% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 51,5%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 26,2%.

[14]Tăng trưởng tín dụng 6 tháng của một số năm: Năm 2012 giảm 0,2%; năm 2013 tăng 3,31%; năm 2014 tăng 2,02%; năm 2015 tăng 6,28%; năm 2016 tăng 6,2%.

[15] Trong đó: Dự án đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện BOT Nghi Sơn 2 tại Thanh Hoá có tổng vốn đầu tư 2,8 tỷ USD; Dự án nhà máy nhiệt điện BOT Nam Định 1 có tổng vốn đầu tư 2,1 tỷ USD; Dự án đường ống dẫn khí lô B - Ô Môn tại Kiên Giang có tổng vốn đầu tư đăng ký là 1,3 tỷ USD.

[16] Cùng kỳ năm 2016 đạt khoảng 23% dự toán năm.

[17] Do nhà máy Dung Quất tạm ngừng sản xuất để bảo dưỡng định kỳ, sản lượng khai thác đưa hết vào xuất khẩu.

[18] Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2016 giảm 0,2% so với cùng kỳ.

[19] Nhập siêu từ Trung Quốc 6 tháng đầu năm 2017 là 14,2 tỷ USD, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm 2016.

[20] Tháng Năm ước tính nhập siêu 800 triệu USD.

[21] Mặc dù trong tháng Sáu có đợt điều chỉnh tăng giá xăng vào thời điểm 05/6/2017.

[22] Các tỉnh phía Bắc đã thu hoạch lúa đông xuân.

[23] Trong đó: Giá thịt lợn giảm 4,71%; giá thịt gia cầm tươi sống giảm 0,87%.

[24] Giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 23,44% tác động làm CPI 6 tháng đầu năm tăng 0,91%.

[25] Giá dịch vụ giáo dục tăng 1,55%, tác động làm CPI 6 tháng tăng 0,11%.

[26] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[27] Lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản bao gồm những người không làm việc trong khu vực hộ nông nghiệp và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) lao động gia đình không được hưởng công, hưởng lương; (ii) người chủ hoặc xã viên hợp tác xã của cơ sở chưa có đăng ký kinh doanh và (iii) người làm công ăn lương không được ký hợp đồng lao động hoặc được ký hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội theo hình thức bắt buộc.

[28] Bao gồm: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Hòa Bình và Hà Tĩnh.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2017
  Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội 02 tháng đầu năm 2017
  Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2017