English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2018

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa mùa và thu hoạch lúa, hoa màu vụ hè thu. Tính đến ngày 15/8, cả nước đã gieo cấy được 1.567,5 nghìn ha lúa mùa, bằng 99,2% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.103 nghìn ha, bằng 97,8%; các địa phương phía Nam đạt 464,5 nghìn ha, bằng 102,6%. Vụ mùa năm nay các tỉnh miền Bắc chịu ảnh hưởng của thời tiết diễn biến phức tạp, đầu vụ nắng nóng kéo dài gây khó khăn cho việc gieo trồng, tiếp đến là mưa lớn nhiều ngày từ trung tuần tháng Bảy làm ngập úng diện tích mới gieo cấy. Các địa phương đã chủ động khắc phục nhanh hậu quả mưa bão, hiện lúa đang sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy nhiên, hiện tượng sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, rầy lưng trắng đang xuất hiện rải rác trên một số trà lúa. Các địa phương cần tăng cường công tác phòng trừ sâu bệnh, không để lây lan trên diện rộng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất toàn vụ.

Vụ lúa hè thu năm nay cả nước gieo cấy được 2.052,7 nghìn ha, giảm 13,8 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước, chủ yếu do đầu vụ xảy ra nắng hạn ở một số tỉnh phía Nam và ảnh hưởng của cơn bão số 3 gây ngập úng trên diện rộng tại một số địa phương vùng Bắc Trung Bộ[1]. Đến trung tuần tháng Tám cả nước đã thu hoạch được 945,8 nghìn ha lúa hè thu, chiếm 46,1% diện tích xuống giống và bằng 91,9% cùng kỳ năm trước, trong đó tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long với 855,7 nghìn ha, chiếm 53,3% và bằng 92,7%. Tiến độ thu hoạch lúa hè thu năm nay chậm hơn cùng kỳ năm trước do lịch xuống giống muộn và chịu ảnh hưởng của mưa lớn trên diện rộng. Theo báo cáo của các địa phương, năng suất lúa hè thu năm nay ước tính đạt 54,5 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha so với vụ hè thu trước, nhưng do diện tích gieo cấy giảm nên sản lượng chung toàn vụ hè thu 2018 ước tính đạt 11,2 triệu tấn, giảm 23 nghìn tấn so với vụ hè thu năm 2017.

Tính đến giữa tháng Tám, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã xuống giống được 403,3 nghìn ha lúa thu đông, bằng 91,7% cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của thời tiết mưa nhiều và lịch xuống giống vụ hè thu năm nay muộn hơn so với cùng kỳ. Một số địa phương có diện tích gieo cấy giảm so với cùng kỳ năm trước: Long An giảm 12 nghìn ha; Kiên Giang giảm 9 nghìn ha; Đồng Tháp giảm 7,1 nghìn ha. Hiện tại lúa thu đông của vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang phát triển khá tốt.

Gieo trồng hoa màu đạt thấp hơn cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của mưa bão, ngập úng trên diện rộng. Tính đến ngày 15/8, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 930,4 nghìn ha ngô, bằng 95,4% cùng kỳ năm trước; 104,4 nghìn ha khoai lang, bằng 98,2%; 170,8 nghìn ha lạc, bằng 96%; 50 nghìn ha đậu tương, bằng 75,4%;  941,5 nghìn ha rau, đậu, bằng 104,4%.

Chăn nuôi trâu, bò và gia cầm nhìn chung ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Chăn nuôi lợn khởi sắc hơn với các hoạt động tái đàn, quay trở lại nuôi trên khắp cả nước do giá thịt lợn tiếp tục giữ ở mức cao[2]. Đàn trâu của cả nước trong tháng ước tính giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,1%; đàn lợn tăng 0,2%; đàn gia cầm tăng 5,9%. Tính đến thời điểm 26/8/2018, cả nước không còn dịch bệnh trên gia súc, gia cầm.

b) Lâm nghiệp

Trong tháng Tám, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 22,8 nghìn ha, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm trước, số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt gần 6,8 triệu cây, giảm 0,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.220 nghìn m3, tăng 12,9%; sản lượng củi khai thác đạt 1,7 triệu ste, giảm 2,3%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Ngãi đạt 139,7 nghìn m3, tăng 57,4% so với cùng kỳ năm 2017; Tuyên Quang đạt 127,9 nghìn m3, tăng 50%; Hà Tĩnh đạt 32,8 nghìn m3, tăng 130%.

Tính chung 8 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 138,6 nghìn ha, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 49,6 triệu cây, bằng cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 7.736 nghìn m3, tăng 9,6% (chủ yếu phục vụ chế biến gỗ dăm và gỗ xuất khẩu); sản lượng củi khai thác đạt 16,5 triệu ste, giảm 1,7%.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong 8 tháng năm nay là 909,7 ha, giảm 12,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 293,7 ha, giảm 25,8%; diện tích rừng bị chặt phá là 616 ha, giảm 3,8%.

 

 
      c) Thủy sản

Trong tháng Tám, sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 683,6 nghìn tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 475,3 nghìn tấn, tăng 6%; tôm đạt 106 nghìn tấn, tăng 10,4%; thủy sản khác đạt 102,3 nghìn tấn, tăng 2,6%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 360,8 nghìn tấn, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 231 nghìn tấn, tăng 6%; tôm đạt 91,6 nghìn tấn, tăng 12%. Nuôi cá tra tiếp tục đạt khá, sản lượng cá tra tháng Tám ước tính đạt 114,8 nghìn tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Đồng Tháp đạt 42,4 nghìn tấn, tăng 4,7%; An Giang đạt 36,4 nghìn tấn, tăng 44,2%. Nuôi tôm nước lợ gặp điều kiện thời tiết thuận lợi, cùng với giá tôm có chiều hướng tăng trở lại đã khuyến khích người dân mở rộng diện tích nuôi. Sản lượng tôm sú trong tháng ước tính đạt 30,2 nghìn tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước; tôm thẻ chân trắng đạt 54,1 nghìn tấn, tăng 11,5%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 8/2018 ước tính đạt 322,8 nghìn tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 244,3 nghìn tấn, tăng 5,9%; tôm đạt 14,4 nghìn tấn, tăng 1,4%; thủy sản khác đạt 64,1 nghìn tấn, tăng 3,1%. Thời tiết trong tháng tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác biển, ước tính sản lượng khai thác biển đạt 303,5 nghìn tấn, tăng 5,2%.

Tính chung 8 tháng năm 2018, sản lượng thủy sản ước tính đạt 4.929,1 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2.531 nghìn tấn, tăng 6,6%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.398,1 nghìn tấn, tăng 5% (sản lượng khai thác biển đạt 2276,5 nghìn tấn, tăng 5,2%).

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trong tháng tiếp tục tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tám ước tính tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 2,4%; ngành chế biến, chế tạo tăng 16%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,7%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,1%.

 Tính chung 8 tháng năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,2% của cùng kỳ năm 2017[3]. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 13,3%, đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,4%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,5%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 0,3%, làm giảm 0,04 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 8 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 60,8% (sản xuất than cốc tăng 116,4%; sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 59,2%[4]); hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng tăng 38,6%; sản xuất kim loại tăng 18%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 17,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 17,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 15,8%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 4,2%; sửa chữa bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 3,4%; chế biến gỗ, sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa và sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic cùng tăng 3,1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 4,4% (khai thác dầu thô giảm 10,6%; khai thác khí đốt tự nhiên tăng 2,6%); khai khoáng khác (đá, cát, sỏi...) giảm 3,3%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 8 tháng năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Xăng dầu tăng 50,7%, chủ yếu do đóng góp của Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa); sắt, thép thô tăng 37,6%; linh kiện điện thoại tăng 36,6%; Alumin tăng 25,2%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 24,9%;
ti vi tăng 22%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 21,2%; đường kính và thức ăn cho thủy sản cùng tăng 17,6%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Khí đốt thiên nhiên tăng 2,6%; phân hỗn hợp NPK tăng 1,4%; thức ăn cho gia súc tăng 1,1%; bột ngọt tăng 0,9%; sữa tươi tăng 0,5%; điện thoại di động giảm 2,3% (trong đó điện thoại thông minh giảm 6%); phân u rê giảm 2,8%; dầu thô khai thác giảm 10,6%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2018 của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó Hà Tĩnh là địa phương có mức tăng cao nhất 121,4%, chủ yếu do đóng góp của Tập đoàn Formosa. Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 24,2%; Bắc Ninh tăng 20,2%; Vĩnh Phúc tăng 13,9%; Thái Nguyên tăng 12,1%; Hải Dương và Quảng Ninh cùng tăng 9,3%; Bình Dương tăng 9%; Đà Nẵng tăng 8,6%; Đồng Nai và Quảng Nam cùng tăng 8,5%; Cần Thơ tăng 8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,5%; Hà Nội tăng 7,4%;  Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 2,7%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/8/2018 tăng 3% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 3,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3,5%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 3,2%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 1,2%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,6%.

Lao động trong các doanh nghiệp tại thời điểm 1/8/2018 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Cần Thơ tăng 23,4%; Hải Phòng tăng 15,4%; Hà Nội tăng 4,9%; Quảng Ninh tăng 4,3%; Đồng Nai tăng 3,9%; Hải Dương tăng 3,5%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 3,4%; Quảng Nam tăng 2,9%; Vĩnh Phúc tăng 2,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,4%; Bình Dương tăng 0,3%; Thái Nguyên giảm 1,7%; Bắc Ninh giảm 5%; Đà Nẵng giảm 6,3%.

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[5]

Trong tháng Tám, cả nước có 11.655 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 107,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh nghiệp và giảm 11,9% về số vốn đăng ký so với tháng trước[6]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9,2 tỷ đồng, giảm 14,9%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 111,2 nghìn người, giảm 3,3%. Trong tháng, cả nước còn có 2.912 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, thấp hơn 2% so với tháng trước; có 6.216 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.961 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 4.255 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), giảm 22%; có 1.421 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 31%.

Tính chung 8 tháng, cả nước có 87.448 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 878,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4% về số doanh nghiệp và tăng 6,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017[7]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10 tỷ đồng, tăng 4,3%. Nếu tính cả 1.679,6 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 8 tháng năm 2018 là 2.558,2 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 20.942 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 8 tháng năm nay lên gần 108,4 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới 8 tháng năm 2018 là 734,7 nghìn người, giảm 10,7% so với cùng kỳ năm trước.

Theo lĩnh vực hoạt động, trong 8 tháng năm nay có 29,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy (chiếm 33,9% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước; 11,5 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 13,1%), tăng 4,4%; 10,9 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,4%), giảm 0,9%; 6,6 nghìn doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 7,6%), tăng 3,5%; 5,1 nghìn doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 5,8%), tăng 13,8%; 4,6 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,2%), tăng 12,4%; 4,5 nghìn doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (chiếm 5,1%), tăng 42%; 3,9 nghìn doanh nghiệp vận tải, kho bãi (chiếm 4,4%), giảm 4,9%...

Trong 8 tháng năm nay, một số vùng kinh tế có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước: Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 12,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 5,9% (vốn đăng ký 111,3 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2%); Đông Nam Bộ 37,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 4,2% (vốn đăng ký 400,7 nghìn tỷ đồng, giảm 4,9%); Đồng bằng sông Cửu Long 6,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 1,2% (vốn đăng ký 59 nghìn tỷ đồng, tăng 33,7%). Các vùng còn lại có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước: Vùng Đồng bằng sông Hồng có 26,1 nghìn doanh nghiệp, giảm 0,2% (vốn đăng ký đạt 262,2 nghìn tỷ đồng, tăng 31,7%); Trung du và miền núi phía Bắc 3,6 nghìn doanh nghiệp, giảm 0,9% (vốn đăng ký 31,8 nghìn tỷ đồng, giảm 16,4%); Tây Nguyên 2,1 nghìn doanh nghiệp, giảm 4,7% (vốn đăng ký 13,6 nghìn tỷ đồng, giảm 17,5%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 8 tháng năm 2018 là 63.235 doanh nghiệp, tăng 38,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 21.575 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 25,2% và 41.660 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 45,9%[8]. Theo lĩnh vực hoạt động, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn ở hầu hết các lĩnh vực đều tăng so với cùng kỳ năm trước: Lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 8,5 nghìn doanh nghiệp (chiếm 39,2%), tăng 24%; 3,3 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 15,1%), tăng 25,3%; 2,7 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,5%), tăng 19,8%; 1,2 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,4%), tăng 29,7%... Đối với các doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 14,8 nghìn doanh nghiệp (chiếm 35,5%), tăng 23,3% so với cùng kỳ năm trước; 5,8 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 14%), tăng 49,4%; 5,1 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,2%), tăng 57,8%; 2,4 nghìn doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 5,7%), tăng 71,5%; 2,4 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,8%), tăng 79,8%...

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 8 tháng năm 2018 là 9.135 doanh nghiệp, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 8.357 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,5% và tăng 16,9%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 3,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 19,9% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo có 1,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 26,7%; xây dựng có 992 doanh nghiệp, tăng 15,1%.

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới theo lĩnh vực hoạt động

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

 4. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Tám ước tính đạt 30,3 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Vốn trung ương 5,6 nghìn tỷ đồng; vốn địa phương 24,7 nghìn tỷ đồng. Tính chung 8 tháng năm nay, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 183,6 nghìn tỷ đồng, bằng 55,2% kế hoạch năm và tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2017 bằng 53,6% kế hoạch năm và tăng 6,4%), gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 33,8 nghìn tỷ đồng, bằng 51,3% kế hoạch năm và giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 11.306 tỷ đồng, bằng 61,4% và giảm 43,7%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 3.706 tỷ đồng, bằng 45,9% và tăng 14,7%; Bộ Y tế 1.339 tỷ đồng, bằng 40,5% và giảm 41,7%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 706 tỷ đồng, bằng 47,6% và tăng 52,6%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 571 tỷ đồng, bằng 42,1% và tăng 29,1%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 349 tỷ đồng, bằng 46,5% và tăng 9,3%; Bộ Xây dựng 148 tỷ đồng, bằng 54,4% và giảm 53%; Bộ Công Thương 119 tỷ đồng, bằng 53,9% và giảm 17,6%; Bộ Khoa học và Công nghệ 116 tỷ đồng, bằng 48% và tăng 60,3%; Bộ Thông tin và Truyền thông 65 tỷ đồng, bằng 49,1% và tăng 15,4%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 149,8 nghìn tỷ đồng, bằng 56,1% kế hoạch năm và tăng 16,7% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 104,3 nghìn tỷ đồng, bằng 53,5% và tăng 17,9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 38 nghìn tỷ đồng, bằng 61% và tăng 14,2%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 7,5 nghìn tỷ đồng, bằng 76,3% và tăng 11,7%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2018 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 21,4 nghìn tỷ đồng, bằng 56,1% kế hoạch năm và tăng 5% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 12,7 nghìn tỷ đồng, bằng 43,9%[9] và tăng 13,8%; Quảng Ninh 5.887 tỷ đồng, bằng 60,8% và tăng 52,3%; Hải Phòng 5.287 tỷ đồng, bằng 58% và tăng 65,8%; Bình Dương 4.156 tỷ đồng, bằng 52,2% và tăng 9,4%; Thanh Hóa 3.970 tỷ đồng, bằng 63,1% và tăng 29,7%; Bà Rịa - Vũng Tàu 3.909 tỷ đồng, bằng 60,1% và tăng 32,8%; Nghệ An 3.697 tỷ đồng, bằng 63,1% và tăng 5,3%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/8/2018 thu hút 1.918 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 13.481,6 triệu USD, tăng 18,1% về số dự án và tăng 0,2% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 736 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 5.584,8 triệu USD, giảm 12,8% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 8 tháng đạt 19.066,4 triệu USD, giảm 4% so với cùng kỳ năm 2017. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 8 tháng năm nay ước tính đạt 11,25 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2017. Trong 8 tháng năm 2018 còn có 4.551 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 5,28 tỷ USD, tăng 50,9% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 669 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 1,76 tỷ USD và 3.882 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 3,52 tỷ USD.

Trong 8 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 5.766 triệu USD, chiếm 42,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5.007 triệu USD, chiếm 37,1%; các ngành còn lại đạt  2.708,6 triệu USD, chiếm 20,1%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 8 tháng năm nay đạt 9.301,9 triệu USD, chiếm 48,8% tổng vốn đăng ký; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5.496,7 triệu USD, chiếm 28,8%; các ngành còn lại đạt 4.267,8 triệu USD, chiếm 22,4%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1.424,7 triệu USD, chiếm 27% tổng giá trị góp vốn; ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 1.208,5 triệu USD, chiếm 22,9%; các ngành còn lại đạt 2.649,1 triệu USD, chiếm 50,1%.

Cả nước có 52 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 8 tháng đầu năm, trong đó Hà Nội có số vốn đăng ký lớn nhất với 5.101,8 triệu USD, chiếm 37,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bà Rịa - Vũng Tàu 1.771,3 triệu USD, chiếm 13,1%; Bình Dương 661,4 triệu USD, chiếm 4,9%; thành phố Hồ Chí Minh 581,8 triệu USD, chiếm 4,3%; Đồng Nai 580,8 triệu USD, chiếm 4,3%; Hải Phòng 409,4 triệu USD, chiếm 3%; Ninh Thuận 385,1 triệu USD, chiếm 2,9%; Bạc Liêu 365,8 triệu USD, chiếm 2,7%; Kiên Giang 353,5 triệu USD, chiếm 2,6%.

Trong số 66 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 8 tháng năm nay, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 5.848,4 triệu USD, chiếm 43,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là
Hàn Quốc 2.821 triệu USD, chiếm 20,9%; Xin-ga-po 949,7 triệu USD, chiếm 7%; Thái Lan 827,3 triệu USD, chiếm 6,1%; Trung Quốc 521,1 triệu USD, chiếm 3,9%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 512,3 triệu USD, chiếm 3,8%; Pháp 469,7 triệu USD, chiếm 3,5%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 8 tháng năm nay có 93 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 271,5 triệu USD; 22 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 42 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 8 tháng năm 2018 đạt 313,5 triệu USD, trong đó lĩnh vực tài chính, ngân hàng đạt 105,8 triệu USD, chiếm 33,7% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 63,8 triệu USD, chiếm 20,4%; lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 45,9 triệu USD, chiếm 14,6%. Trong 8 tháng có 29 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó dẫn đầu là Lào với 95,2 triệu USD, chiếm 30,4% tổng vốn đầu tư; I-ta-li-a 37,8 triệu USD, chiếm 12%; Xlô-va-ki-a 35,9 triệu USD, chiếm 11,5%.

 

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/8/2018

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/8/2018 ước tính đạt 814,2 nghìn tỷ đồng, bằng 61,7% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 649 nghìn tỷ đồng, bằng 59%; thu từ dầu thô đạt 37,7 nghìn tỷ đồng, bằng 105,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 125,2 nghìn tỷ đồng, bằng 70%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 90,2 nghìn tỷ đồng, bằng 54,2% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 109,6 nghìn tỷ đồng, bằng 49,2%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 128,2 nghìn tỷ đồng, bằng 58,8%; thu thuế thu nhập cá nhân 59,9 nghìn tỷ đồng, bằng 61,9%; thu thuế bảo vệ môi trường 26,7 nghìn tỷ đồng, bằng 54,8%; thu tiền sử dụng đất đạt 74,4 nghìn tỷ đồng, bằng 86,6%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/8/2018 ước tính đạt 820,2 nghìn tỷ đồng, bằng 53,8% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 573 nghìn tỷ đồng, bằng 60,9%; chi đầu tư phát triển đạt 166,3 nghìn tỷ đồng, bằng 41,6%; chi trả nợ lãi 71,9 nghìn tỷ đồng, bằng 63,9%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tám ước tính đạt 370 nghìn tỷ đồng, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 277,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1% và tăng 12,9%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 45,1 nghìn tỷ đồng, giảm 1,9% và tăng 8,6%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,6 nghìn tỷ đồng, giảm 1,6% và tăng 12,2%; doanh thu dịch vụ khác đạt 44,1 nghìn tỷ đồng, giảm 0,3% và tăng 14,7%. Tính chung 8 tháng năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 2.860,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,53% (cùng kỳ năm 2017 tăng 8,36%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 8 tháng năm nay ước tính đạt 2.149,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,2% tổng mức và tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 12,8%; may mặc tăng 12,3%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 11,6%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 10,8%; phương tiện đi lại tăng 10,7%. Một số địa phương có mức tăng khá: Thái Nguyên tăng 13,1%; Thanh Hóa tăng 12,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 12,7%; Bình Định và Bắc Giang cùng tăng 12,5%; Hà Nội tăng 11,9%; Vĩnh Phúc tăng 11,8%; Hải Dương tăng 11,7%; Nam Định tăng 11,6%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 8 tháng ước tính đạt 352 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,3% tổng mức và tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bình Dương tăng 14,1%; Bình Định tăng 12,1%; Tiền Giang tăng 12%; Khánh Hòa tăng 11,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,2%; Nghệ An tăng 10,6%;
Hà Nội tăng 4,1%.

Doanh thu du lịch lữ hành 8 tháng năm nay ước tính đạt 26,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có mức tăng khá: Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 24,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 22,4%; Lào Cai tăng 19,3%; Quảng Ninh tăng 17,2%; Hà Nội tăng 11,2%.

Doanh thu dịch vụ khác 8 tháng ước tính đạt 332,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% tổng mức và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó doanh thu của Bình Định tăng 13,3%; Thanh Hóa tăng 12,9%; Đà Nẵng tăng 11,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,4%; Hà Nội tăng 5,1%.

 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

 

 b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 7/2018 đạt 20.320 triệu USD, cao hơn 820 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 363 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 203 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 195 triệu USD; sắt thép cao hơn 111 triệu USD; hàng dệt may thấp hơn 29 triệu USD; xăng dầu thấp hơn 33 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 8/2018 ước tính đạt 20,90 tỷ USD, tăng 2,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,05 tỷ USD, tăng 2,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 14,85 tỷ USD, tăng 2,8%. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong tháng Tám có kim ngạch tăng: Xăng dầu tăng 41,5%; điện thoại và linh kiện tăng 13,9%; hóa chất tăng 13,1%; cao su tăng 8,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Tám tăng 5,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 9,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 4%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Hàng dệt may tăng 9%; điện thoại và linh kiện tăng 6,7%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 2,9%.

Tính chung 8 tháng năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 155,41 tỷ USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 45,11 tỷ USD, tăng 17,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 110,30 tỷ USD (chiếm 71% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 13,4%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 30,9 tỷ USD, tăng 15,7%; hàng dệt may đạt 19,4 tỷ USD, tăng 14,9%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 18,4 tỷ USD, tăng 14,2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 10,6 tỷ USD, tăng 26,9%; giày dép đạt 10,5 tỷ USD, tăng 9,6%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng nông sản, thủy sản cũng tăng khá: Thủy sản đạt 5,5 tỷ USD, tăng 6,4%; rau quả đạt 2,7 tỷ USD, tăng 14,8%; hạt điều đạt 2,3 tỷ USD, tăng 2,5% (lượng tăng 8%); gạo đạt 2,2 tỷ USD, tăng 23,6% (lượng tăng 8,2%). Một số mặt hàng nông sản tuy có lượng xuất khẩu tăng nhưng kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước do giá xuất khẩu bình quân tiếp tục giảm: Cà phê đạt 2,5 tỷ USD, giảm 3,1% (lượng tăng 14,8%); cao su đạt 1,2 tỷ USD, giảm 12,1% (lượng tăng 7,9%); hạt tiêu đạt 584 triệu USD, giảm 35,2% (lượng tăng 4,7%). Dầu thô tính chung 8 tháng tiếp tục giảm mạnh về cả lượng và kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ năm trước: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 1,5 tỷ USD, giảm 24,6% (lượng giảm 46,6%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 8 tháng, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 30,2 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 27,2%; giày dép tăng 12,9%; hàng dệt may tăng 10,4%. Tiếp đến là EU đạt 27,7 tỷ USD, tăng 10,8%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 23,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 20,8%; điện thoại và linh kiện tăng 13%. Trung Quốc đạt 23,4 tỷ USD, tăng 25,2%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 175,7%; dệt may tăng 43,1%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 23,3%. Thị trường ASEAN đạt 16,5 tỷ USD, tăng 16%, trong đó gạo tăng 145,3%; sắt thép tăng 52,7%; hàng dệt may tăng 33,9%. Nhật Bản đạt 12 tỷ USD, tăng 9,4%, trong đó hàng dệt may tăng 21,9%; giày dép tăng 12,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 4,8%. Hàn Quốc đạt 11,8 tỷ USD, tăng 27,9%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 52,5%; điện thoại và linh kiện tăng 26,4%; hàng dệt may tăng 17,7%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 7/2018 đạt 20.955 triệu USD, cao hơn 1.155 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 504 triệu USD; kim loại thường cao hơn 314 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 85 triệu USD; tân dược cao hơn 31 triệu USD; phương tiện vận tải khác cao hơn 24 triệu USD; xăng dầu thấp hơn 132 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Tám ước tính đạt 21,0 tỷ USD, tăng 0,2% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,0 tỷ USD, tăng 0,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,0 tỷ USD, tăng 0,3%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng so với tháng trước: Điện thoại và linh kiện tăng 35,3%; cao su tăng 14,8%; sợi dệt tăng 12,5%; phân bón tăng 11,1%; ô tô tăng 10,3%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 9,3%; xe máy tăng 8,7%; rau quả tăng 7,6%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng 8/2018 tăng 14,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 9,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện tăng 28,9%; vải tăng 27,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 12,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 8,5%.

Tính chung 8 tháng, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 152,66 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 61,85 tỷ USD, tăng 11,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 90,81 tỷ USD, tăng 11,4%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu đạt mức cao: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 26,9 tỷ USD, tăng 13,7%; điện thoại và linh kiện đạt 9,3 tỷ USD, tăng 4,3%; vải đạt 8,5 tỷ USD, tăng 16,1%; sắt thép đạt 6,7 tỷ USD, tăng 10,2%; chất dẻo đạt 5,8 tỷ USD, tăng 17,1%; xăng dầu đạt 5,7 tỷ USD, tăng 26,4%; kim loại thường đạt 5,3 tỷ USD, tăng 35,9%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 3,8 tỷ USD, tăng 4,6%; hóa chất đạt 3,3 tỷ USD, tăng 26,2%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 8 tháng, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 41,4 tỷ USD, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn tăng: Vải tăng 19,7%; điện thoại và linh kiện tăng 14,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng tăng 6,1%. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc với kim ngạch nhập khẩu đạt 30,8 tỷ USD, tăng 1,9%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 17%; vải tăng 12,8%. ASEAN đạt 20,5 tỷ USD, tăng 11,8%, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 18,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 12,5%; xăng dầu tăng 4%. Nhật Bản đạt 12,2 tỷ USD, tăng 14,8%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 34,2%; vải tăng 19%; sắt thép tăng 16%. EU đạt 8,9 tỷ USD, tăng 11,2%, trong đó vải tăng 31,1%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 23,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 13,4%. Hoa Kỳ đạt 8,7 tỷ USD, tăng 39,2%, trong đó thức ăn gia súc tăng 133,4%; bông tăng 25,9%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Bảy nhập siêu 635 triệu USD[10]. Tháng Tám ước tính nhập siêu 100 triệu USD. Tính chung 8 tháng cán cân thương mại hàng hóa vẫn duy trì xuất siêu với 2,8 tỷ USD[11], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 16,7 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 19,5 tỷ USD.

 

Hàng hóa xuất khẩu

Hàng hóa nhập khẩu

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2018 tăng 0,45% so với tháng trước. Có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có mức tăng cao nhất 0,87%, chủ yếu do nhóm thực phẩm tăng 1,12%[12] (làm CPI chung tăng 0,25%); nhóm lương thực tăng nhẹ 0,1%. Nhóm giáo dục tăng 0,46% do trong tháng có 14 địa phương thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ. Nhóm nhà ở vật liệu và xây dựng tăng 0,44% (giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,42%; giá gas tăng 2,8% do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giá gas vào thời điểm 1/8/2018). Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,19%; nhóm giao thông tăng 0,13%[13]; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,11%. Hai nhóm may mặc, mũ nón, giày dép và thiết bị, đồ dùng gia đình cùng tăng 0,1%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,13%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,07%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2018 tăng 3,52% so với bình quân cùng kỳ năm 2017. CPI tháng 8/2018 tăng 2,59% so với tháng 12/2017 và tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 8/2018 tăng 0,22% so với tháng trước và tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 8 tháng năm 2018 tăng 1,38% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số giá vàng tháng 8/2018 giảm 1,41% so với tháng trước; giảm 0,93% so với tháng 12/2017 và tăng 0,33% so với cùng kỳ năm trước. Giá đô la Mỹ biến động khá mạnh trên thị trường thế giới nhưng với sự điều hành linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nên tỷ giá VND/USD vẫn dao động trong biên độ 3%, phù hợp với tình hình thị trường trong nước và quốc tế. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2018 tăng 1,12% so với tháng trước; tăng 2,43% so với tháng 12/2017 và tăng 2,44% so với cùng kỳ năm 2017.

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ và lạm phát cơ bản tháng 8 năm 2018

 

d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng Tám ước tính đạt 395 triệu lượt khách, tăng 1,1% so với tháng trước và 17,8 tỷ lượt khách.km, tăng 1,1%. Tính chung 8 tháng năm 2018, vận tải hành khách đạt 3.047,1 triệu lượt khách, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước và 135,1 tỷ lượt khách.km, tăng 10,4%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 2.875,7 triệu lượt khách, tăng 10,5% và 93,9 tỷ lượt khách.km, tăng 10,7%; đường thủy nội địa đạt 127,8 triệu lượt khách, tăng 6,3% và 2,4 tỷ lượt khách.km, tăng 6,6%; đường biển đạt 4,9 triệu lượt khách, tăng 6,4% và 290,2 triệu lượt khách.km, tăng 6,9%; đường hàng không đạt khá với 33,3 triệu lượt khách, tăng 12,8% và 36,2 tỷ lượt khách.km, tăng 12,2%; riêng vận tải đường sắt đạt 5,4 triệu lượt khách, giảm 22,3% và 2,3 tỷ lượt khách.km, giảm 17,7%.

Vận tải hàng hóa tháng Tám ước tính đạt 137,9 triệu tấn, tăng 0,4% so với tháng trước và 25,9 tỷ tấn.km, tăng 1,2%. Tính chung 8 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.071,1 triệu tấn, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước và 199,2 tỷ tấn.km, tăng 7,1%, trong đó vận tải trong nước đạt 1.048,5 triệu tấn, tăng 9,7% và 107,7 tỷ tấn.km, tăng 9,7%; vận tải ngoài nước đạt 22,5 triệu tấn, tăng 2,8% và 91,5 tỷ tấn.km, tăng 4,1%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 826,9 triệu tấn, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước và 54,5 tỷ tấn.km, tăng 11,8%; đường thủy nội địa đạt 189,5 triệu tấn, tăng 7,3% và 40 tỷ tấn.km, tăng 7,4%; đường biển đạt 51,1 triệu tấn, tăng 4,9% và 101,8 tỷ tấn.km, tăng 4,7%; đường sắt đạt 3,3 triệu tấn, giảm 10% và 2,3 tỷ tấn.km, giảm 1,3%; đường hàng không đạt 235,4 nghìn tấn, tăng 22,1% và 620,8 triệu tấn.km, tăng 19,5%.

 

Vận tải hành khách và hàng hoá

 

e) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Tám ước tính đạt 1.323,5 nghìn lượt người, tăng 11,3% so với tháng trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không tăng 7,7%; đến bằng đường bộ tăng 29,4%; đến bằng đường biển tăng 21,3%. So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta tăng 7,7%, trong đó khách đến từ Châu Á tăng 8,2%; từ châu Âu tăng 5,8%; từ châu Mỹ tăng 9%, từ châu Úc giảm 0,1%; từ châu Phi tăng 13,7%.

Tính chung 8 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 10.403,9 nghìn lượt người, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 8.422,3 nghìn lượt người, tăng 17,3%; đến bằng đường bộ đạt 1.798,9 nghìn lượt người, tăng 62,1%; đến bằng đường biển đạt 182,7 nghìn lượt người, tăng 1,6%.

Trong 8 tháng, khách đến từ châu Á đạt 8.034,9 nghìn lượt người, chiếm 77,2% tổng số khách du lịch đến nước ta, tăng 27% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 3.402,3 nghìn lượt người, tăng 28,2%; Hàn Quốc 2.286,7 nghìn lượt người, tăng 52,4%; Nhật Bản 545,7 nghìn lượt người, tăng 5,3%; Đài Loan 469,3 nghìn lượt người, tăng 14%; Ma-lai-xi-a 334 nghìn lượt người, tăng 13%; Thái Lan 212,6 nghìn lượt người, tăng 10,9%; Xin-ga-po 180,1 nghìn lượt người, tăng 5,4%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 1.404 nghìn lượt người, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 413,4 nghìn lượt người, tăng 7,5%; Vương quốc Anh 207,4 nghìn lượt người, tăng 6,7%; Pháp 199,2 nghìn lượt người, tăng 10,6%; Đức 141,7 nghìn lượt người, tăng 7,9%; Hà Lan 54,9 nghìn lượt người, tăng 8,4%; Tây Ban Nha 48 nghìn lượt người, tăng 10,9%; I-ta-li-a 45,6 nghìn lượt người, tăng 15,3%; Thụy Điển 37 nghìn lượt người, tăng 14,2%.

 Khách đến từ châu Mỹ đạt 636,4 nghìn lượt người, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 486 nghìn lượt người, tăng 14,5%. Khách đến từ châu Úc đạt 300,7 nghìn lượt người, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 266,5 nghìn lượt người, tăng 8,1%. Khách đến từ châu Phi đạt 27,9 nghìn lượt người, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm 2017.

 

Khách quốc tế đến Việt Nam

 

7. Một số tình hình xã hội

a) Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Tám, cả nước có 3 nghìn hộ thiếu đói, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm 2017, tương ứng với 12,3 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 4,4%. Tính chung 8 tháng năm 2018, cả nước có 99,2 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 38,7% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 395,8 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 40,4%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói hơn 7,4 nghìn tấn lương thực và 1,6 tỷ đồng.

b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Tám, cả nước có 8,9 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 12,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (1 trường hợp tử vong); 73 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 153 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (6 trường hợp tử vong); 3 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu (1 trường hợp tử vong); 144 trường hợp mắc bệnh ho gà (1 trường hợp tử vong); 8 trường hợp mắc bệnh liên cầu lợn ở người (1 trường hợp tử vong), 7 trường hợp tử vong do bệnh dại và 129 người bị ngộ độc thực phẩm.

Tính chung 8 tháng năm 2018, cả nước có 30,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 42,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (9 trường hợp tử vong); 411 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 592 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (13 trường hợp tử vong); 17 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu (1 trường hợp tử vong); 477 trường hợp mắc bệnh ho gà (1 trường hợp tử vong); 71 trường hợp mắc bệnh liên cầu lợn ở người (6 trường hợp tử vong); 43 trường hợp tử vong do bệnh dại và 1.502 người bị ngộ độc thực phẩm (8 người tử vong).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 15/8/2018 là 208,4 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 92,4 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98,03 nghìn người.

c) Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 16/7 đến 15/8), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.432 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 757 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 675 vụ va chạm giao thông, làm 650 người chết, 391 người bị thương và 703 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng 8/2018 giảm 10,7% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 1,3% và số vụ va chạm giao thông giảm 21,1%); số người chết giảm 1,7%; số người bị thương tăng 10,8% và số người bị thương nhẹ giảm 25,6%. Đáng lưu ý, trong thời gian vừa qua đã xảy ra một số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng như: Vụ tai nạn xảy ra ngày 26/7 tại Cai Lậy, Tiền Giang làm 3 người chết và 2 người bị thương; vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng giữa xe khách với xe đầu kéo xảy ra ngày 30/7 tại Điện Bàn, Quảng Nam làm 13 người chết và 4 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 31/7 tại Đồng Nai làm 1 người chết, 11 người bị thương, trong đó 4 người bị thương nặng; vụ tai nạn xảy ra ngày 8/8 trên đường Hồ Chí Minh, đoạn qua Hà Tĩnh làm 2 người chết và 1 người bị thương; vụ tai nạn xe khách xảy ra ngày 15/8 trên cao tốc Hà Nội - Lào Cai, đoạn qua Phú Thọ làm 5 người bị thương.

Tính chung 8 tháng năm 2018, trên địa bàn cả nước xảy ra 11.782 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 6.086 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 5.696 vụ va chạm giao thông, làm 5.366 người chết, 3.249 người bị thương và 5.951 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 8 tháng năm nay giảm 7,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 3,3%; số vụ va chạm giao thông giảm 12,1%); số người chết giảm 1%; số người bị thương tăng 3% và số người bị thương nhẹ giảm 19,4%. Bình quân 1 ngày trong 8 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông, gồm 25 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 24 vụ va chạm giao thông, làm 22 người chết, 13 người bị thương và 25 người bị thương nhẹ.

d) Thiệt hại do thiên tai

Thiệt hại thiên tai trong tháng 8/2018 chủ yếu là ảnh hưởng của bão, mưa lũ, lũ quét, ngập lụt và sạt lở đất. Thiên tai đã làm 35 người chết và mất tích, trong đó Lai Châu là địa phương có số người chết và mất tích nhiều nhất với 12 người; 14 người bị thương; 139 ngôi nhà bị sập đổ, 10,9 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái và ngập nước; hơn 20 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng. Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính hơn 1,3 nghìn tỷ đồng. Riêng thiệt hại do cơn bão số 4 tại các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã làm 13 người chết và mất tích; 40 ngôi nhà bị sập, 6,5 nghìn ngôi nhà bị ngập nước và 797 ngôi nhà phải di dời khẩn cấp; hơn 400 con gia súc và 30,5 nghìn con gia cầm bị chết và cuốn trôi; gần 1,5 nghìn ha thủy sản bị hư hỏng. Tính chung 8 tháng thiên tai đã làm 150 người chết và mất tích, 107 người bị thương; gần 1,2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và cuốn trôi; 44,5 nghìn ngôi nhà bị ngập nước, sạt lở, hư hỏng và tốc mái; 161 nghìn ha lúa hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính hơn 7 nghìn tỷ đồng.

e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng Tám, cơ quan chức năng đã phát hiện 788 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 684 vụ với tổng số tiền phạt 18,5 tỷ đồng. Tính chung 8 tháng đã phát hiện 9.718 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 9.074 vụ với tổng số tiền phạt hơn 135,4 tỷ đồng.

Trong tháng 8/2018, trên địa bàn cả nước xảy ra 278 vụ cháy, nổ, làm 7 người chết và 15 người bị thương, thiệt hại ước tính gần 28 tỷ đồng. Tính chung 8 tháng, cả nước xảy ra 2.738 vụ cháy, nổ, làm 77 người chết và 201 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 1.442 tỷ đồng./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 



[1] Một số địa phương có diện tích lúa hè thu giảm nhiều: Ninh Thuận giảm 2,6 nghìn ha; Hà Tĩnh giảm 1,8 nghìn ha; Bình Thuận giảm 1,3 nghìn ha; Nghệ An giảm 0,7 nghìn ha.

[2] Giá thịt lợn hơi ở miền Bắc khoảng 52.000 đồng/kg - 55.000 đồng/kg.

[3] 8 tháng năm 2017, ngành khai khoáng giảm 7,7% so với cùng kỳ năm trước; chế biến, chế tạo tăng 11,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,7%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,7%.

[4] Nguyên nhân chủ yếu do Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) có quy mô lớn bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 6 năm nay và Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn (Quảng Ngãi) trong tháng Sáu và tháng Bảy năm 2017 không sản xuất để bảo dưỡng định kỳ máy móc, thiết bị nên chỉ số sản xuất công nghiệp ngành sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế tháng Sáu và tháng Bảy năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước, lần lượt là 510,3% và 522,1%.

[5] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[6] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm 6%; số vốn đăng ký giảm 18,1%.         

[7] 8 tháng năm 2017, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 44,8%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 24,5%.

[8] Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể tăng cao trong đó có nguyên nhân thời gian này các phòng đăng ký kinh doanh trên cả nước đang rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, loại bỏ các doanh nghiệp không còn hoạt động trong thời gian dài.

[9] So với kế hoạch vốn mới điều chỉnh (giảm từ 41,5 nghìn tỷ xuống 29 nghìn tỷ đồng).

[10] Ước tính tháng Bảy xuất siêu 300 triệu USD.

[11] Trong đó, 8 tháng xuất siêu sang Hoa Kỳ 21,5 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 18,8 tỷ USD, tăng 10,7%; nhập siêu từ Hàn Quốc 19 tỷ USD, giảm 9,6%; nhập siêu từ Trung Quốc 18 tỷ USD, giảm 0,1%; nhập siêu từ ASEAN 4 tỷ USD, giảm 2,7%.

[12] Do giá thịt lợn tăng 3,41% so với tháng trước nên giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn cũng tăng lên; giá rau xanh tăng 2,87% do ảnh hưởng của mưa bão, lũ quét.

[13] Chủ yếu do ảnh hưởng từ 2 đợt điều chỉnh giá xăng, dầu vào thời điểm 7/8/2018 và thời điểm 22/8/2018, làm chỉ số giá xăng dầu tăng 0,2% so với tháng trước.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2018