English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2018

Kinh tế - xã hội nước ta quý III năm 2018 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường. Tăng trưởng thương mại toàn cầu đạt thấp do nhu cầu nhập khẩu của các quốc gia phát triển và hoạt động xuất khẩu của khu vực châu Á giảm[1]. Giá dầu tăng cao, đồng đô la Mỹ biến động mạnh dẫn đến giá một số mặt hàng thiết yếu có xu hướng tăng trở lại. Căng thẳng thương mại giữa các nền kinh tế lớn, nhất là chiến tranh thương mại giữa Mỹ - Trung ngày càng diễn biến phức tạp,  cùng với sự gia tăng xu hướng bảo hộ mậu dịch của các nước lớn, đặc biệt là những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ đã tác động đến sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam và các nước trong khu vực. Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tích cực trong 6 tháng đầu năm 2018 với mức tăng trưởng GDP cao nhất kể từ năm 2011, nền kinh tế cũng đối mặt không ít khó khăn, thách thức: Lạm phát luôn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp; công nghiệp chế biến, chế tạo và thu hút khách quốc tế có xu hướng tăng chậm hơn những tháng đầu năm; diễn biến thời tiết và tình trạng cháy nổ, tai nạn giao thông còn phức tạp.

Trước tình hình đó, với phương châm hành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả”, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành và địa phương tiếp tục tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, trọng tâm là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2018. Đồng thời chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tiếp tục cắt giảm điều kiện kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho thành lập và hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức nhiều Hội nghị chuyên đề để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất của các ngành, các địa phương; đẩy mạnh triển khai thực hiện các hiệp định thương mại nhằm tìm kiếm thị trường, thúc đẩy sản xuất trong nước. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục chuyển biến tích cực. Kết quả cụ thể các ngành, lĩnh vực trong quý III và 9 tháng năm 2018 như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III năm 2018 ước tính tăng 6,88% so với cùng kỳ năm trước, tuy thấp hơn mức tăng 7,45% của quý I nhưng cao hơn mức tăng 6,73%[2] của quý II, cho thấy nền kinh tế vẫn giữ được đà tăng trưởng. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,46%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,61% và khu vực dịch vụ tăng 6,87%. Tăng trưởng quý III/2018 thấp hơn tốc độ tăng trưởng quý III/2017 nhưng cao hơn tăng trưởng quý III các năm 2011-2016[3]. Xét về góc độ sử dụng GDP quý III năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,02% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 8,61%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 15,13%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,76%.

Tính chung 9 tháng năm 2018, GDP ước tính tăng 6,98% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của 9 tháng kể từ năm 2011 trở về đây[4]. Kết quả tăng trưởng khẳng định tính kịp thời và hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng năm 2018. Trong mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,65%, đóng góp 8,8% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,89%, đóng góp 48,7%; khu vực dịch vụ tăng 6,89%, đóng góp 42,5%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng 9 tháng năm nay cao nhất trong giai đoạn 2012-2018, từng bước khẳng định xu thế chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, mặt khác giá bán sản phẩm ổn định cùng với thị trường xuất khẩu được mở rộng là động lực chính thúc đẩy sản xuất của khu vực này. Trong đó, ngành nông nghiệp tiếp tục khẳng định xu hướng phục hồi rõ nét khi đạt mức tăng 2,78%, là mức tăng cao nhất của 9 tháng giai đoạn 2012-2018, đóng góp 0,36 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành thủy sản đạt kết quả khá tốt với mức tăng 6,37%, cũng là mức tăng trưởng cao nhất 8 năm qua[5], đóng góp 0,22 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,9% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,04 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá với 9 tháng tăng 8,98%, đóng góp 2,91 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là điểm sáng của khu vực này và là động lực chính của tăng trưởng kinh tế với mức tăng cao 12,65%, tuy thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2017 nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng 9 tháng các năm 2012-2016[6], đóng góp 2,56 điểm phần trăm. Ngành công nghiệp khai khoáng vẫn tăng trưởng âm (giảm 1,97%), làm giảm 0,14 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế nhưng mức giảm đã được thu hẹp đáng kể so với mức giảm 8,08% của cùng kỳ năm trước. Ngành xây dựng 9 tháng duy trì được mức tăng trưởng khá với tốc độ 8,46%, đóng góp 0,55 điểm phần trăm.

Khu vực dịch vụ 9 tháng năm nay tăng 6,89%, tuy thấp hơn mức tăng 7,21% của 9 tháng năm trước nhưng cao hơn so với cùng kỳ giai đoạn 2012-2016[7]. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm 9 tháng như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,48% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực dịch vụ, cũng là ngành có đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,9 điểm phần trăm); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,85%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 5,89%, đóng góp 0,27 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,55%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,04%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 13,93% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,49%; khu vực dịch vụ chiếm 42,54%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,04% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2017 là: 14,67%; 32,50%; 42,65%; 10,18%).

Xét về góc độ sử dụng GDP 9 tháng năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,09% so với cùng kỳ năm 2017; tích lũy tài sản tăng 7,71%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 15,52%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,22%.

 

 
 
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp 9 tháng năm 2018 phát triển ổn định và có mức tăng trưởng khá. Cơ cấu cây trồng được chuyển dịch theo hướng tích cực, chuyển dần diện tích trồng lúa sang các loại cây khác và nuôi trồng thủy sản cho giá trị cao hơn. Kết quả vụ đông xuân năm nay đạt khá cả về năng suất và sản lượng. Theo báo cáo của các địa phương, mặc dù diện tích lúa đông xuân cả nước giảm 15 nghìn ha so với vụ đông xuân trước, nhưng với năng suất đạt 66,4 tạ/ha (tăng 4,1 tạ/ha) nên sản lượng toàn vụ vẫn đạt 20,6 triệu tấn, tăng 1.187,2 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm 2017.

Tính đến trung tuần tháng Chín, diện tích gieo cấy lúa mùa cả nước đạt 1.621,6 nghìn ha, bằng 98% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đã kết thúc gieo cấy với diện tích đạt 1.105,6 nghìn ha, bằng 97,5%; các địa phương phía Nam đạt 516 nghìn ha, bằng 98,9%. Diện tích lúa mùa miền Bắc năm nay đạt thấp, trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng đạt 516,5 nghìn ha, giảm 18,7 nghìn ha so với vụ mùa năm trước; Trung du và miền núi phía Bắc đạt 423 nghìn ha, giảm 6,5 nghìn ha; Bắc Trung Bộ đạt 166,2 nghìn ha, giảm 3,1 nghìn ha. Nguyên nhân chủ yếu do các địa phương chuyển một phần diện tích trồng lúa sang sử dụng cho mục đích khác[8]. Một số địa phương có diện tích lúa mùa giảm nhiều: Hà Nội giảm 6,6 nghìn ha; Thanh Hóa giảm 3,4 nghìn ha; Phú Thọ giảm 2,6 nghìn ha; Hải Phòng giảm 2,1 nghìn ha. Đến nay trà lúa mùa sớm ở miền Bắc đang trong giai đoạn vào chắc và chín, đã thu hoạch được gần 115 nghìn ha. Năng suất toàn vụ ước tính đạt 49 tạ/ha, tăng 3 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước.

Vụ lúa hè thu năm nay cả nước gieo cấy được 2.052,8 nghìn ha, giảm 13,7 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước[9], trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.604,6 nghìn ha, giảm 7,1 nghìn ha. Tính đến ngày 15/9/2018, các địa phương đã thu hoạch được 1.806,9 nghìn ha lúa hè thu, chiếm 88% diện tích gieo cấy và bằng 107,8% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1.378 nghìn ha, chiếm 85,9% và bằng 97,4%. Theo báo cáo của các địa phương, năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 54,4 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2017, nhưng do diện tích gieo cấy giảm nên sản lượng chung toàn vụ hè thu 2018 ước tính đạt gần 11,2 triệu tấn, giảm 47,7 nghìn tấn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 8,7 triệu tấn, giảm 30,5 nghìn tấn. Một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa hè thu giảm nhiều: Tiền Giang giảm 4,1 nghìn ha; Ninh Thuận giảm 2,6 nghìn ha; Vĩnh Long giảm 1,9 nghìn ha; Hà Tĩnh giảm 1,4 nghìn ha.

Đến giữa tháng Chín, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 628,7 nghìn ha lúa thu đông, bằng 89,1% cùng kỳ năm trước do lịch xuống giống vụ hè thu năm nay muộn và kéo dài hơn năm trước, đồng thời do ảnh hưởng của mưa bão nên lũ về sớm, lên nhanh làm nhiều diện tích không thể gieo cấy. Một số địa phương có diện tích gieo cấy lúa thu đông giảm so với cùng kỳ năm trước: Long An giảm 29,3 nghìn ha; Đồng Tháp giảm 16,2 nghìn ha; Kiên Giang giảm 12,2 nghìn ha; An Giang giảm 5,4 nghìn ha. Hiện tại lúa thu đông vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển khá tốt.

Gieo trồng cây hoa màu đạt thấp so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của mưa, bão gây ngập úng trên diện rộng. Tính đến giữa tháng Chín, cả nước gieo trồng được 1.025,7 nghìn ha ngô, bằng 96,5% cùng kỳ năm trước; 111,7 nghìn ha khoai lang, bằng 99,6%; 181,3 nghìn ha lạc, bằng 98%; 54 nghìn ha đậu tương, bằng 80,2%; 1.005,8 nghìn ha rau, đậu, bằng 104,9%.

Diện tích trồng cây lâu năm 9 tháng ước tính đạt 3.445 nghìn ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cây công nghiệp đạt 2.228,5 nghìn ha, tăng 0,4%; cây ăn quả đạt 956,1 nghìn ha, tăng 2,9%; cây lấy dầu đạt 171,3 nghìn ha, tăng 0,9%; cây gia vị, dược liệu đạt 51,9 nghìn ha, tăng 3,1%; nhóm cây lâu năm khác đạt 37,2 nghìn ha, tăng 4,9%. Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm 9 tháng tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng điều ước tính đạt 262,3 nghìn tấn, tăng 21,6%; hồ tiêu 255,6 nghìn tấn, tăng 1,2%; cao su 782 nghìn tấn, tăng 4,2%; chè búp 797,1 nghìn tấn, tăng 1,2%. Sản lượng thu hoạch một số cây ăn quả tăng khá do thời tiết thuận lợi, diện tích được mở rộng và thị trường tiêu thụ tốt: Sản lượng vải 9 tháng đạt 372,5 nghìn tấn, tăng 60,1% so với cùng kỳ năm 2017; nhãn đạt 508,1 nghìn tấn, tăng 13,5%; cam đạt 556,3 nghìn tấn, tăng 12,6%; thanh long đạt 519,5 nghìn tấn, tăng 11,9%; bưởi đạt 473,1 nghìn tấn, tăng 9,1%; xoài đạt 709,1 nghìn tấn, tăng 5,5%; chuối đạt 1.779 nghìn tấn, tăng 4,9%.

Chăn nuôi trâu, bò và gia cầm nhìn chung ổn định. Tính đến tháng Chín, đàn trâu cả nước giảm 1,2% so với cùng kỳ năm 2017; đàn bò tăng 2%; đàn gia cầm tăng 5,5%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 9 tháng ước tính đạt 66,4 nghìn tấn, tăng 0,9% (quý III đạt 17,7 nghìn tấn, tăng 0,6%); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 253,2 nghìn tấn, tăng 2,6% (quý III đạt 67,8 nghìn tấn, tăng 2,2%); sản lượng thịt gia cầm đạt 817,6 nghìn tấn, tăng 5,8% (quý III đạt 209,2 nghìn tấn, tăng 5%); trứng gia cầm đạt 8,4 tỷ quả, tăng 10,8% (quý III đạt 2,1 tỷ quả tăng 9,5%). Chăn nuôi lợn tiếp tục có tín hiệu tích cực, từng bước phục hồi, thị trường tiêu thụ thuận lợi, giá thịt lợn hơi ở mức cao (dao động quanh mức 50.000 đồng/kg), các cơ sở chăn nuôi đang chuẩn bị nguồn hàng phục vụ các dịp lễ, tết cuối năm. Đàn lợn cả nước tính đến tháng 9/2018 tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước tính đạt 2,7 triệu tấn, giảm 0,3%, trong đó quý III đạt 834,2 nghìn tấn, tăng 2,8%. Tính đến thời điểm 26/9/2018, cả nước không còn dịch lở mồm long móng và dịch tai xanh trên lợn; dịch cúm gia cầm còn ở Cao Bằng. Hiện nay bệnh dịch tả lợn Châu Phi đang diễn biến phức tạp tại một số quốc gia, các cấp các ngành cần chủ động có biện pháp ngăn chặn bệnh dịch xâm nhập vào Việt Nam.

b) Lâm nghiệp

Trong quý III/2018, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 59,6 nghìn ha, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 3.609 nghìn m3, tăng 11,6%; sản lượng củi khai thác đạt 5,7 triệu ste, giảm 1,2%.

Tính chung 9 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 161,2 nghìn ha, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 59,2 triệu cây, giảm 0,2%; sản lượng củi khai thác đạt 18,7 triệu ste, giảm 1,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 9.095 nghìn m3, tăng 10,6% do nhu cầu gỗ nguyên liệu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Ngãi đạt 894,4 nghìn m3, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước; Nghệ An 475,5 nghìn m3, tăng 26,4%; Quảng Bình 275 nghìn m3, tăng 22,2%; Phú Yên 80 nghìn m3, tăng 41,2%.

Diện tích rừng bị thiệt hại quý III là 318,1 ha, tăng 29,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 174,6 ha, gấp 3,2 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 143,5 ha, giảm 24,9%. Tính chung 9 tháng năm nay, diện tích rừng bị thiệt hại là 873,1 ha, giảm 22,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 333,1 ha, giảm 18,7%; diện tích rừng bị chặt, phá là 540 ha, giảm 24,2%.

c) Thủy sản

Sản xuất thủy sản tiếp tục đạt khá. Sản lượng thủy sản quý III/2018 ước tính đạt 1.939 nghìn tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.266,2 nghìn tấn, tăng 6,7%; tôm đạt 301,2 nghìn tấn, tăng 5,8%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý III ước tính đạt 1.129,2 nghìn tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 745,6 nghìn tấn, tăng 7%; tôm đạt 252,5 nghìn tấn, tăng 6,6%. Sản lượng thủy sản khai thác quý III ước tính đạt 809,8 nghìn tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ, trong đó cá đạt 520,6 nghìn tấn, tăng 6,2%; tôm đạt 48,7 nghìn tấn, tăng 2,1%.

Tính chung 9 tháng năm nay, tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 5.501,2 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 3.943,4 nghìn tấn, tăng 6,1%; tôm đạt 668,5 nghìn tấn, tăng 7,3%; thủy sản khác đạt 889,3 nghìn tấn, tăng 4,1%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng 9 tháng ước tính đạt 2.922,7 nghìn tấn, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2.055,8 nghìn tấn, tăng 6,4%; tôm đạt 542,1 nghìn tấn, tăng 8,4%. Nuôi cá tra gặp thuận lợi về giá và thị trường tiêu thụ. Giá cá tra hiện ở mức cao, thời điểm trung tuần tháng Chín giá cá tra nguyên liệu đạt mức kỷ lục 33.000 đồng/kg, với mức giá này người nuôi có lãi từ 6.000-9.000 đồng/kg. Xuất khẩu cá tra tăng trưởng khá tốt, đặc biệt là các thị trường lớn và truyền thống như Trung Quốc, Mỹ và EU. Tính chung 9 tháng, diện tích nuôi cá tra của cả nước ước tính đạt 13,9 nghìn ha, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng cá tra ước tính đạt 942,4 nghìn tấn, tăng 9,3%, trong đó An Giang đạt 267,8 nghìn tấn, tăng 21,9%; Cần Thơ 134,8 nghìn tấn, tăng 16,6%; Đồng Tháp đạt 319,9 nghìn tấn, tăng 4,5%. Thời tiết tương đối thuận lợi cho nuôi tôm nước lợ, sản lượng tôm sú 9 tháng  năm nay ước tính đạt 200,5 nghìn tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; tôm thẻ chân trắng đạt 308,9 nghìn tấn, tăng 10,7%.

Sản lượng thủy sản khai thác 9 tháng ước tính đạt 2.578,5 nghìn tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.887,6 nghìn tấn, tăng 5,7%; tôm đạt 126,4 nghìn tấn, tăng 2,8%. Sản lượng thủy sản khai thác biển 9 tháng đạt 2.429,9 nghìn tấn, tăng 5,5%, trong đó cá đạt 1.787,2 nghìn tấn, tăng 6,1%; tôm đạt 115,9 nghìn tấn, tăng 2,8%.

 

Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 9 năm 2018

Sản phẩm chăn nuôi

Kết quả sản xuất lâm nghiệp

Sản lượng thủy sản

 

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Chín ước tính tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 2,7%; ngành chế biến, chế tạo tăng 11,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 5,1%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,4%. Tính chung quý III/2018, IIP ước tính tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 3,4%; ngành chế biến, chế tạo tăng 13,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,6%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%.

Tính chung 9 tháng năm 2018, IIP ước tính tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 12,7%; quý II tăng 8,2%; quý III tăng 10,7%), đạt mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2012 trở lại đây[10]. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng dẫn dắt tăng trưởng chung của toàn ngành với mức tăng 12,9% (quý I tăng 15,7%; quý II tăng 9,6%; quý III tăng 13,2%), đóng góp 9,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung, đây là mức tăng cao nhất của ngành này trong nhiều năm qua[11]; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,7%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2% (chủ yếu do khai thác dầu thô giảm 11,7%), làm giảm 0,3 điểm phần trăm mức tăng chung.

Xét theo công dụng sản phẩm công nghiệp, chỉ số sản xuất của sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) 9 tháng năm 2018 tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 10% (sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 6,2% và sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 11,9%).

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 9 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 53,1%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 25,9%; sản xuất kim loại tăng 18,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 16,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 14,8% (quý I tăng mạnh 34,6% nhưng quý II chỉ tăng 3,2%[12] và quý III tăng 11%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 14,4%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4,1%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 3,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,4% (khai thác dầu thô giảm 11,7% và khai thác khí đốt tự nhiên tăng 1,7%); khai khoáng khác (đá, cát, sỏi…) giảm 3,3%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 9 tháng năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Xăng, dầu tăng 47,6%; sắt, thép thô tăng 36,6%; ti vi tăng 26,5%; linh kiện điện thoại và Alumin cùng tăng 25,7%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 25,3%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 19,9%; thức ăn cho thủy sản tăng 16,9%; đường kính tăng 16,6%; ô tô tăng 16%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Bột ngọt tăng 2,7%; phân hỗn hợp NPK tăng 2%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 1,7%; sữa tươi tăng 1,5%; thức ăn cho gia súc tăng 1,2%; phân u rê giảm 1,6%; điện thoại di động giảm 2,8% (điện thoại thông minh giảm 6,2%); dầu thô khai thác giảm 11,7%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó Hà Tĩnh là địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất với mức tăng 110,4% do có sự đóng góp của Tập đoàn Formosa, tiếp theo là Thanh Hóa tăng 28,6% chủ yếu do Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn mới đi vào sản xuất từ giữa năm 2018. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 25,2%[13]; Bắc Ninh tăng 15,9%; Vĩnh Phúc tăng 15,8%; Thái Nguyên tăng 12,2%; Quảng Nam tăng 10,2%; Bình Dương tăng 9,4%; Hải Dương tăng 9,1%; Đồng Nai và Quảng Ninh cùng tăng 8,7%; Đà Nẵng tăng 8,2%; Cần Thơ tăng 8,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,9%; Hà Nội tăng 7,4%;  Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 2,3%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2018 tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2018, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2017 tăng 12%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 49,6%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 36,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 28,1%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp: Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 3,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 3%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/9/2018 tăng 13,8% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2017 tăng 8,8%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất thuốc lá tăng 4%; sản xuất kim loại tăng 2,4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 1,2%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 6%; sản xuất xe có động cơ giảm 23,5%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng thời điểm năm trước: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 149%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 73,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 63,6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 40%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 9 tháng năm 2018 là 63,8% (cùng kỳ năm trước là 65,6%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Dệt 273,4%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa 109,2%; sản xuất xe có động cơ 77,8%; sản xuất, chế biến thực phẩm 74,5%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/9/2018 tăng 1,1% so cùng thời điểm tháng trước và tăng 3% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,4%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 2,7%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3,7%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 3,2%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,1%.

Lao động trong các doanh nghiệp tại thời điểm 1/9/2018 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 20,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 4,8%; Hà Nội tăng 4,7%; Quảng Nam tăng 3%; Đồng Nai tăng 2,9%; Quảng Ninh và Hải Dương cùng tăng 2,8%; Thái Nguyên tăng 2,1%; Vĩnh Phúc tăng 1%; thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Cần Thơ cùng tăng 0,4%; Đà Nẵng giảm 6%; Bắc Ninh giảm 6,8%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9 và 9 tháng năm 2018

Chỉ số sản xuất công nghiệp các quý năm 2018

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp tháng 9 và 9 tháng năm 2018

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp các quý năm 2018

Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

 4. Hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[14]

Trong tháng Chín, cả nước có 9.163 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 84,8 nghìn tỷ đồng, giảm 21,4% về số doanh nghiệp và giảm 21,2% về số vốn đăng ký so với tháng trước[15]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9,3 tỷ đồng, tăng 0,3%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 85,1 nghìn người, giảm 23,5%. Trong tháng, cả nước còn có 2.695 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, thấp hơn 7,5% so với tháng trước; có 10.313 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.857 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 8.456 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), tăng 65,9%; có 2.401 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 69%.

Trong quý III năm nay, cả nước có 32.080 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký là 314,4 nghìn tỷ đồng, giảm 15% về số doanh nghiệp và giảm 15,1% về số vốn đăng ký so với quý trước; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 9,8 tỷ đồng, giảm 0,1%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 311,2 nghìn người, tăng 9,9%. So với quý III/2017, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm 1,9%; số vốn đăng ký tăng 2,6%; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp tăng 4,5%. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong quý III/2018 là 20.300 doanh nghiệp (bao gồm: 5.069 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 15.231 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), giảm 37,5% so với quý trước và tăng 77,5% so với cùng kỳ năm trước từ quý II năm nay các phòng đăng ký kinh doanh trên cả nước đang rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, loại bỏ các doanh nghiệp không còn hoạt động trong thời gian dài; trong quý III có 4.907 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 48,3% và tăng 49%.

Tính chung 9 tháng, cả nước có 96.611 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 963,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8% về số doanh nghiệp và tăng 6,7% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017[16]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10 tỷ đồng, tăng 3,8%. Nếu tính cả 1.881,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 9 tháng năm 2018 là 2.845,3 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 22.897 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 9 tháng năm nay lên hơn 119,5 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới 9 tháng năm 2018 là 819,7 nghìn người, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm trước.

Theo lĩnh vực hoạt động, trong 9 tháng năm nay có 33,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy (chiếm 34,3% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), giảm 2,1% so với cùng kỳ năm trước; 12,5 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 12,9%), tăng 4,6%; 12 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,4%), giảm 0,03%; 7,3 nghìn doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 7,6%), tăng 4,3%; 5,6 nghìn doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 5,8%), tăng 12,9%; 5,1 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,3%), tăng 12,2%; 5 nghìn doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (chiếm 5,1%), tăng 41,6%; 3,9 nghìn doanh nghiệp vận tải, kho bãi (chiếm 4%), giảm 11,3%...

Trong 9 tháng năm nay, một số vùng kinh tế có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước: Vùng Đồng bằng sông Hồng có 28,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 1,1% (vốn đăng ký đạt 287,5 nghìn tỷ đồng, tăng 33,3%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 13,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 6,1% (vốn đăng ký 119,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8%); Đông Nam Bộ 41,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 4% (vốn đăng ký 437,4 nghìn tỷ đồng, giảm 5,7%); Đồng bằng sông Cửu Long 6,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 1,8% (vốn đăng ký 69 nghìn tỷ đồng, tăng 42,2%). Các vùng còn lại giảm cả về số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước: Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có 3,9 nghìn doanh nghiệp, giảm 1% (vốn đăng ký 34,3 nghìn tỷ đồng, giảm 15%); Tây Nguyên 2,4 nghìn doanh nghiệp, giảm 3,9% (vốn đăng ký 15,4 nghìn tỷ đồng, giảm 14,4%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 9 tháng năm 2018 là 73.103 doanh nghiệp, tăng 48,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 23.053 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 24,6% và 50.050 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 62,3%[17]. Theo lĩnh vực hoạt động, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn ở hầu hết các lĩnh vực đều tăng so với cùng kỳ năm trước: Lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 9,1 nghìn doanh nghiệp (chiếm 39,3%), tăng 23,6%; 3,5 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 15%), tăng 25,8%; 2,9 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,5%), tăng 19,5%; 1,2 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,4%), tăng 26,4%... Đối với các doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 17,7 nghìn doanh nghiệp (chiếm 35,4%), tăng 36,9% so với cùng kỳ năm trước; 7,4 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 14,8%), tăng 74,2%; 6,3 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,6%), tăng 81,9%; 3 nghìn doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 5,9%), tăng 96,9%; 2,7 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,4%), tăng 79,1%...

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 9 tháng năm 2018 là 11.536 doanh nghiệp, tăng 32,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 10.591 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,8% và tăng 32%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 4,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 31,2% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo có 1,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 43%; xây dựng có 1,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 40,4%.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2018 cho thấy: Có 43,1% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III năm nay tốt hơn quý trước; 17,8% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 39,1% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định[18]. Dự kiến quý IV so với quý III năm nay, có 52,5% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 11,7% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 35,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lạc quan nhất khi có tới 92,3% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý IV tốt hơn và giữ ổn định so với quý trước; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước lần lượt là 87,5 % và 86,9%.

Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý III năm nay, có 59,6% số doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 45,1% số doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 31,9% số doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn về tài chính; 29,9% số doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu; 27,1% số doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao và 23,8% số doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao là yếu tố quan trọng.

Về khối lượng sản xuất, có 45,7% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý III/2018 tăng so với quý trước; 17,4% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 36,9% số doanh nghiệp cho rằng ổn định[19]. Về xu hướng quý IV so với quý III năm nay, có 52,7% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 10,8% số doanh nghiệp dự báo giảm và 36,5% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

Về đơn đặt hàng, có 39,1% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý III năm nay cao hơn quý trước; 17,3% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 43,6% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định[20]. Xu hướng quý IV tiếp tục khả quan hơn so với quý III năm 2018, có 47,9% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng lên; 10,9% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 41,2% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý III năm nay so với quý trước, có 34,4% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 15% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 50,6% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý IV so với quý III năm 2018, có 40,7% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 10,9% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 48,4% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

 

Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới

Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn

Doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể

Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể

 

  
   5. Hoạt động dịch vụ

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại dịch vụ trong 9 tháng năm nay tiếp tục xu hướng tăng khá, sức mua tiêu dùng tăng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín ước tính đạt 374,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 283 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9% và tăng 14,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 44,5 nghìn tỷ đồng, giảm 0,2% và tăng 3,9%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,4 nghìn tỷ đồng, giảm 4,4% và tăng 11,8%; doanh thu dịch vụ khác đạt 43,9 nghìn tỷ đồng, giảm 0,2% và tăng 11,7%. Trong quý III năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.113,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,8% so với quý trước và tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 835,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,1% và tăng 13,4%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 135,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9% và tăng 6%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 10,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% và tăng 12,6%; doanh thu dịch vụ khác đạt 132 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% và tăng 13,8%. Tính chung 9 tháng năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 3.235,1 nghìn tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,8% (cùng kỳ năm 2017 tăng 8,76%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng ước tính đạt 2.433,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,2% tổng mức và tăng 12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 13%; may mặc tăng 12,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 11,8%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 11,5%; phương tiện đi lại tăng 11,7%. Một số địa phương có mức tăng khá: Thanh Hóa tăng 13%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 13%; Bình Định tăng 12,6%; Thái Nguyên tăng 12,5%; Bắc Giang tăng 12,5%; Hà Nội tăng 12,1%; Hải Dương tăng 11,9%; Nam Định tăng 11,5%; Lâm Đồng tăng 11%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 9 tháng năm nay ước tính đạt 396 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,3% tổng mức và tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bình Định tăng 13,1%; Lâm Đồng tăng 13%; Quảng Bình tăng 12%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,7%; Lào Cai tăng 8,6%; Phú Yên tăng 6,8%; Hà Nội tăng 5,7%.

Doanh thu du lịch lữ hành 9 tháng ước tính đạt 30,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có mức tăng khá: Hải Phòng tăng 22,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 21,1%; Hà Tĩnh tăng 20%; Lai Châu tăng 19,6%; Quảng Nam tăng 18,6%; Nghệ An tăng 17,4%; Hà Nội tăng 11,1%.

Doanh thu dịch vụ khác 9 tháng ước tính đạt 375,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% tổng mức và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó doanh thu của Bình Thuận tăng 14%; Thanh Hóa tăng 13,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 12,2%; Bắc Ninh tăng 11,3%; Hà Nội tăng 5,2%.

 

 
 
b) Vận tải và bưu chính, viễn thông

 Vận tải hành khách tháng Chín ước tính đạt 398 triệu lượt khách, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước và 18 tỷ lượt khách.km, tăng 9,5%. Vận tải hành khách quý III năm nay đạt 1.183,7 triệu lượt khách, tăng 11,6% so với quý III năm trước và 53,4 tỷ lượt khách.km, tăng 10,5%. Tính chung 9 tháng, vận tải hành khách đạt 3.446,1 triệu lượt khách, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước và 153,5 tỷ lượt khách.km, tăng 10,6%, trong đó vận tải trong nước đạt 3.433,8 triệu tấn, tăng 10,5% và 118,5 tỷ tấn.km, tăng 10,5%; vận tải ngoài nước đạt 12,3 triệu tấn, tăng 10,9% và 35 tỷ tấn.km, tăng 10,6%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hành khách đường bộ 9 tháng đạt 3.251,2 triệu lượt khách, tăng 10,7% và 106,3 tỷ lượt khách.km, tăng 10,9%; đường thủy nội địa đạt 144,6 triệu lượt khách, tăng 6,5% và 2,7 tỷ lượt khách.km, tăng 6,8%; đường biển đạt 5,5 triệu lượt khách, tăng 6,7% và 328,1 triệu lượt khách.km, tăng 7,1%; đường hàng không đạt khá với 37,9 triệu lượt khách, tăng 13% và 41,2 tỷ lượt khách.km, tăng 11,1%. Vận tải đường sắt mặc dù đã cải tiến đảm bảo thời gian chạy tàu, nhưng do giá vé chưa cạnh tranh được với hàng không giá rẻ và vận tải ô tô đường bộ nên 9 tháng năm nay đạt 7 triệu lượt khách, giảm 9,2% so với cùng kỳ năm trước 2,9 tỷ lượt khách.km, giảm 3,2%.

Vận tải hàng hóa tháng Chín ước tính đạt 139,7 triệu tấn, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước và 26,4 tỷ tấn.km, tăng 9,4%. Vận tải hàng hóa quý III ước tính đạt 415 triệu tấn, tăng 11% và 78 tỷ tấn.km, tăng 9,2%, là quý có mức tăng cao nhất kể từ đầu năm[21]. Tính chung 9 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.211,2 triệu tấn, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước và 225,9 tỷ tấn.km, tăng 7,5%, trong đó vận tải trong nước đạt 1.185,8 triệu tấn, tăng 10% và 122,7 tỷ tấn.km, tăng 10,3%; vận tải ngoài nước đạt 25,4 triệu tấn, tăng 3,2% và 103,2 tỷ tấn.km, tăng 4,4%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 934,7 triệu tấn, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và 61,7 tỷ tấn.km, tăng 12,1%; đường thủy nội địa đạt 214,3 triệu tấn, tăng 7,5% và 45,2 tỷ tấn.km, tăng 7,8%; đường biển đạt 57,7 triệu tấn, tăng 5,2% và 115,4 tỷ tấn.km, tăng 4,9%; đường sắt đạt 4,2 triệu tấn, tăng 0,8% và 2,9 tỷ tấn.km, tăng 11,8%; đường hàng không đạt 265,8 nghìn tấn, tăng 18,6% và 702,5 triệu tấn.km, tăng 16,5%;

Doanh thu hoạt động viễn thông quý III/2018 ước tính đạt 96,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 9 tháng đạt 284,7 nghìn tỷ đồng, tăng 5,9%. Tính đến cuối tháng 9/2018, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 126,5 triệu thuê bao, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó số thuê bao di động đạt 121,5 triệu thuê bao, tăng 2,5%; thuê bao internet băng rộng cố định ước tính đạt 13,4 triệu thuê bao, tăng 25,3%.

 

 
 
c) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Chín ước tính đạt 1.212,6 nghìn lượt người, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ châu Á tăng 28,4%, từ châu Âu tăng 10%, từ châu Mỹ tăng 10,8%, từ châu Úc giảm 2,4%, từ châu Phi tăng 11,5%. Mặc dù trong tháng Chín, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới về ASEAN năm 2018 tại Hà Nội nhưng do ảnh hưởng của cơn bão số 5 và số 6, gây mưa lớn ở các tỉnh phía Bắc nên lượng khách quốc tế trong tháng Chín giảm 8,4% so với tháng trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không giảm 7,5%; khách đến bằng đường bộ giảm 13,7%; khách đến bằng đường biển tăng 63,5%. Trong quý III, khách quốc tế đến nước ta đạt 3.725 nghìn lượt người, tăng 14,9% so cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng của quý I (30,9%) và quý II (23,1%).

Tính chung 9 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 11.616,5 nghìn lượt người, tăng 22,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 9.407,4 nghìn lượt người, tăng 17,4%; đến bằng đường bộ đạt 2.018,3 nghìn lượt người, tăng 62,1%; đến bằng đường biển đạt 190,8 nghìn lượt người, tăng 0,5%.

Trong 9 tháng, khách đến từ châu Á đạt 9.029,3 nghìn lượt người, chiếm 77,7% tổng số khách du lịch đến nước ta, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 3.809,4 nghìn lượt người, tăng 29,7%; Hàn Quốc 2.564 nghìn lượt người, tăng 49,6%; Nhật Bản 623,7 nghìn lượt người, tăng 4,2%; Đài Loan 527,7 nghìn lượt người, tăng 15,1%; Ma-lai-xi-a 381,8 nghìn lượt người, tăng 14%; Thái Lan 236,6 nghìn lượt người, tăng 12%; Xin-ga-po 202,8 nghìn lượt người, tăng 5%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 1.531,2 nghìn lượt người, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 455 nghìn lượt người, tăng 8,2%; Vương quốc Anh 226 nghìn lượt người, tăng 6,1%; Pháp 213,5 nghìn lượt người, tăng 10,5%; Đức 155,1 nghìn lượt người, tăng 8%; Hà Lan 59,6 nghìn lượt người, tăng 8,4%; Tây Ban Nha 57,5 nghìn lượt người, tăng 12%; I-ta-li-a 49,6 nghìn lượt người, tăng 14,4%; Thụy Điển 38,4 nghìn lượt người, tăng 14,2%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 690,9 nghìn lượt người, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 528,6 nghìn lượt người, tăng 14,1%. Khách đến từ châu Úc đạt 334 nghìn lượt người, tăng 6,3%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 294,9 nghìn lượt người, tăng 6,9%. Khách đến từ châu Phi đạt 31,1 nghìn lượt người, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm 2017.

 

 
 

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến ngày 20/9/2018, tổng phương tiện thanh toán tăng 8,74% so với cuối năm 2017 (cùng kỳ năm 2017 tăng 9,59%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 9,15% (cùng kỳ năm 2017 tăng 10,08%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 9,52% (cùng kỳ năm 2017 tăng 11,02%).

Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các tổ chức tín dụng nói chung tương đối ổn định, mặc dù một số ngân hàng đã có động thái tăng lãi suất huy động nhưng mức độ tăng nhỏ, không thể hiện xu hướng tăng của thị trường. Hiện mặt bằng lãi suất huy động đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,6%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,3%-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,3%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,5%-7,3%/năm. Lãi suất cho vay đồng Việt Nam phổ biến khoảng 6%-9%/năm đối với ngắn hạn và 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn; đối với khách hàng tốt, lãi suất cho vay ngắn hạn từ 4%-5%/năm. Cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển hướng theo hướng tích cực tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, các dự án lớn, trọng tâm trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ.

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý III năm 2018 tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao, ước tính tăng 18% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực phi nhân thọ tăng 14%, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ tăng 20%. Ước tính doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 9 tháng tăng 22% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực phi nhân thọ tăng 13%, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ tăng 27%.

2. Đầu tư phát triển

Tình hình thực hiện và giải ngân vốn đầu tư trong những tháng vừa qua có chuyển biến tích cực. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện trong quý III/2018 theo giá hiện hành ước tính đạt 507,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn khu vực Nhà nước tăng 8,9%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 17,9%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 8%. Tính chung 9 tháng năm 2018, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành ước tính đạt 1.253,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước và bằng 34% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 420,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,6% tổng vốn và tăng 5% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 533,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 42,5% và tăng 17,7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 299,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,9% và tăng 8,4%.

Tốc độ phát triển vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

9 tháng các năm 2016-2018 so với cùng kỳ năm trước

(Theo giá hiện hành)

%

 

9 tháng            năm 2016

9 tháng 
năm 2017

9 tháng       năm 2018

Tổng số

109,6

112,2

110,9

Khu vực Nhà nước

106,0

106,9

105,0

Khu vực ngoài Nhà nước

110,3

116,6

117,7

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

114,1

113,5

108,4

 

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 9 tháng ước tính đạt 214,5 nghìn tỷ đồng, bằng 63,2% kế hoạch năm và tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2017 bằng 62,4% và tăng 6,6%), gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 39,8 nghìn tỷ đồng, bằng 60,4% kế hoạch năm và giảm 6,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 12,9 nghìn tỷ đồng, bằng 70,2% và giảm 43,5%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 4.255 tỷ đồng, bằng 52,7% và tăng 9,1%; Bộ Y tế 1.639 tỷ đồng, bằng 49,6% và giảm 38,2%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 838 tỷ đồng, bằng 56,5% và tăng 53,7%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 684 tỷ đồng, bằng 50,4% và tăng 31,4%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 420 tỷ đồng, bằng 55,9% và tăng 12,6%; Bộ Xây dựng 176 tỷ đồng, bằng 64,7% và giảm 50,8%; Bộ Công Thương 141 tỷ đồng, bằng 63,9% và giảm 16,4%; Bộ Khoa học và Công nghệ 139 tỷ đồng, bằng 57,5% và tăng 59,8%; Bộ Thông tin và Truyền thông 80 tỷ đồng, bằng 59,8% và tăng 17,2%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 174,7 nghìn tỷ đồng, bằng 63,9% kế hoạch năm và tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 122,1 nghìn tỷ đồng, bằng 61,7% kế hoạch năm và tăng 19,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 44 nghìn tỷ đồng, bằng 67,1% và tăng 13,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 8,6 nghìn tỷ đồng, bằng 84,4% và tăng 10,5%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 24,8 nghìn tỷ đồng, bằng 65,1% kế hoạch năm và tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 14,8 nghìn tỷ đồng, bằng 51,1% và tăng 15,4%; Hải Phòng 6.814 tỷ đồng, bằng 74,8% và tăng 61,6%; Quảng Ninh 6.698 tỷ đồng, bằng 51,6% và tăng 48,9%; Bình Dương 5.003 tỷ đồng, bằng 62,6% và tăng 10,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu 4.595 tỷ đồng, bằng 70,6% và tăng 37,5%; Thanh Hóa 4.508 tỷ đồng, bằng 71,7% và tăng 31,5%; Nghệ An 4.234 tỷ đồng, bằng 72,3% và tăng 6,3%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2018 thu hút 2.182 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 14.124,5 triệu USD, tăng 18,3% về số dự án và giảm 3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 841 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 5.544,2 triệu USD, giảm 17,9% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 9 tháng đạt 19.668,7 triệu USD, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm 2017[22]. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng năm nay ước tính đạt 13,25 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2017. Trong 9 tháng năm 2018 còn có 5.275 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 5,7 tỷ USD, tăng 36,8% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 788 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 1,84 tỷ USD và 5.087 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 3,86 tỷ USD.

Trong 9 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 6.261,8 triệu USD, chiếm 44,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 4.953,7 triệu USD, chiếm 35,1%; các ngành còn lại đạt   2.909 triệu USD, chiếm 20,6%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 9 tháng năm nay đạt 9.670,7 triệu USD, chiếm 49,2% tổng vốn đăng ký; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5.444,2 triệu USD, chiếm 27,7%; các ngành còn lại đạt 4.553,8 triệu USD, chiếm 23,1%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1.656,5 triệu USD, chiếm 29% tổng giá trị góp vốn; ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 1.340,2 triệu USD, chiếm 23,5%; các ngành còn lại đạt 2.707,5 triệu USD, chiếm 47,5%.

Cả nước có 53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 9 tháng năm nay, trong đó Hà Nội có số vốn đăng ký lớn nhất với 4.934,6 triệu USD, chiếm 34,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bà Rịa - Vũng Tàu 1.774,6 triệu USD, chiếm 12,6%; Bình Dương 684,5 triệu USD, chiếm 4,8%; Đồng Nai 682,5 triệu USD, chiếm 4,8%; thành phố Hồ Chí Minh 675,5 triệu USD, chiếm 4,8%; Hải Phòng 499,7 triệu USD, chiếm 3,5%; Ninh Thuận 385,1 triệu USD, chiếm 2,7%; Bạc Liêu 365,8 triệu USD, chiếm 2,6%; Bắc Ninh 361,6 triệu USD, chiếm 2,6%.

Trong số 71 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 9 tháng, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 5.837,5 triệu USD, chiếm 41,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 3.094,7 triệu USD, chiếm 21,9%; Xin-ga-po 1.101,4 triệu USD, chiếm 7,8%; Thái Lan 853,9 triệu USD, chiếm 6%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 603,7 triệu USD, chiếm 4,3%; Trung Quốc 547,9 triệu USD, chiếm 3,9%; Pháp 470,2 triệu USD, chiếm 3,3%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 9 tháng năm nay có 99 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 286 triệu USD; 23 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 44,9 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 9 tháng năm 2018 đạt 330,9 triệu USD, trong đó lĩnh vực tài chính, ngân hàng đạt 105,8 triệu USD, chiếm 32% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 63,8 triệu USD, chiếm 19,3%; lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 45,9 triệu USD, chiếm 13,9%. Trong 9 tháng có 30 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là nước dẫn đầu với 95,2 triệu USD, chiếm 28,8% tổng vốn đầu tư; I-ta-li-a 46,8 triệu USD, chiếm 14,1%; Xlô-va-ki-a 35,9 triệu USD, chiếm 10,9%.  

 

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 9 và 9 tháng năm 2018

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước các quý năm 2018

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/9/2018

 

  
 

 

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2018 ước tính đạt 898,3 nghìn tỷ đồng, bằng 68,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 710,1 nghìn tỷ đồng, bằng 64,6%; thu từ dầu thô 43,5 nghìn tỷ đồng, bằng 121,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 140,9 nghìn tỷ đồng, bằng 78,7%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 99,7 nghìn tỷ đồng, bằng 59,9% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 119,8 nghìn tỷ đồng, bằng 53,7%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 139,7 nghìn tỷ đồng, bằng 64,1%; thu thuế thu nhập cá nhân 65,5 nghìn tỷ đồng, bằng 67,7%; thu thuế bảo vệ môi trường 30,5 nghìn tỷ đồng, bằng 62,4%; thu tiền sử dụng đất 81,6 nghìn tỷ đồng, bằng 95,1%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2018 ước tính đạt 936,6 nghìn tỷ đồng, bằng 61,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 651 nghìn tỷ đồng, bằng 69,2%; chi đầu tư phát triển 192,8 nghìn tỷ đồng, bằng 48,2%; chi trả nợ lãi 79,3 nghìn tỷ đồng, bằng 70,5%.

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a) Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 8/2018 đạt 23.481 triệu USD, là tháng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất từ trước đến nay, cao hơn 2.581 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 760 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 395 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 262 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 235 triệu USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện cao hơn 161 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 9/2018 ước tính đạt 20,50 tỷ USD, giảm 12,7% so với tháng trước[23], trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,39 tỷ USD, giảm 16,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 15,11 tỷ USD, giảm 11,3%. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu trong tháng Chín có kim ngạch giảm so với tháng trước: Hàng dệt may giảm 11,4%; điện thoại và linh kiện giảm 12,8%; giày dép giảm 14,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 18%; sắt thép giảm 27,5%; hóa chất giảm 34,9%; gạo giảm 36%; xăng dầu giảm 43,6%; than đá giảm 49,6%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Chín tăng 6,2%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 6,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 6,1%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 19,7%; hàng dệt may tăng 18,3%; giày dép tăng 15,1%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 12,2%.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý III/2018 ước tính đạt 64,73 tỷ USD, tăng 10,4% so với quý II/2018 và tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2017. Trong quý III năm nay có 12 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 80% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó: Điện thoại và linh kiện đạt 13,5 tỷ USD, chiếm 20,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước; hàng dệt may đạt 8,9 tỷ USD, tăng 19,2%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 8,2 tỷ USD, tăng 18,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 4,2 tỷ USD, tăng 23,6%; giày dép đạt 4,1 tỷ USD, tăng 13%; thủy sản đạt 2,4 tỷ USD, tăng 0,5%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,2 tỷ USD, tăng 16,7%.

Tính chung 9 tháng, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 178,91 tỷ USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 51,07 tỷ USD, tăng 17,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 127,84 tỷ USD (chiếm 71,5% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 14,6%. Loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 9 tháng tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong 9 tháng có 26 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 90,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó có 5 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 58,2%.

 Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 36,1 tỷ USD, tăng 14,6%; hàng dệt may đạt 22,6 tỷ USD, tăng 17,1%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 21,6 tỷ USD, tăng 16,7%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 12,1 tỷ USD, tăng 28,7%; giày dép đạt 11,8 tỷ USD, tăng 10,5%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 6,3 tỷ USD, tăng 13,9%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 5,9 tỷ USD, tăng 15,8%. Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực chủ yếu vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 99,7%; điện tử, máy tính và linh kiện chiếm 95,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 89,4%; hàng dệt may 60,1%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng nông sản, thủy sản trong 9 tháng cũng tăng khá: Thủy sản đạt 6,4 tỷ USD, tăng 6,9%; rau quả đạt 3 tỷ USD, tăng 15,2%; gạo đạt 2,5 tỷ USD, tăng 22,1% (lượng tăng 7,6%). Một số mặt hàng nông sản tuy lượng xuất khẩu tăng nhưng do giá xuất khẩu bình quân giảm nên kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Cà phê đạt 2,8 tỷ USD, giảm 0,02% (lượng tăng 19,6%); hạt điều đạt 2,5 tỷ USD, giảm 0,7% (lượng tăng 5,8%); cao su đạt 1,4 tỷ USD, giảm 11,4% (lượng tăng 9,1%); hạt tiêu đạt 636 triệu USD, giảm 34,1% (lượng tăng 7,1%). Riêng dầu thô tính chung 9 tháng tiếp tục giảm mạnh về cả lượng và kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ năm trước mặc dù giá xuất khẩu bình quân tăng 37,5%: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 1,7 tỷ USD, giảm 24,6% (lượng giảm 45,2%).

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 9 tháng năm 2018, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 89,6 tỷ USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước; chiếm 50,1% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 1,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2017), trong đó mặt hàng điện thoại và linh kiện đạt 36,1 tỷ USD, tăng 14,6% và chiếm 20,2%. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 66,6 tỷ USD, tăng 14,4% và chiếm 37,2% (giảm 0,4 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 16,3 tỷ USD, tăng 6,5% và chiếm 9,1% (giảm 0,8 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 6,4 tỷ USD, tăng 6,9% và chiếm 3,6% (giảm 0,2 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 9 tháng năm 2018, trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tiếp tục leo thang, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 34,9 tỷ USD, tăng mạnh 12,5%, cao hơn 2,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, đây là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 46%; giày dép tăng 12,9%; hàng dệt may tăng 11,9%. Tiếp đến là EU đạt 31,1 tỷ USD, tăng 9,6%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 25%; hàng dệt may tăng 13,1%; điện thoại và linh kiện tăng 7,7%. Trung Quốc đạt 28,1 tỷ USD, tăng 26,6%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 121,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 27,7%; rau quả tăng 12,3%. Thị trường ASEAN đạt 18,7 tỷ USD, tăng 16%, trong đó gạo tăng 123,5%; sắt thép tăng 53,1%; hàng dệt may tăng 36,3%. Nhật Bản đạt 13,8 tỷ USD, tăng 12,2%, trong đó hàng dệt may tăng 26,2%; giày dép tăng 17,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 6,6%. Hàn Quốc đạt 13,5 tỷ USD, tăng 26,5%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 49%; hàng dệt may tăng 21,4%; điện thoại và linh kiện tăng 16%.

b) Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 8/2018 đạt 21.284 triệu USD, cao hơn 284 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 303 triệu USD; lúa mỳ cao hơn 56 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu cao hơn 52 triệu USD; chất dẻo cao hơn 42 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng thấp hơn 69 triệu USD; kim loại thường thấp hơn 76 triệu USD; vải thấp hơn 158 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Chín ước tính đạt 19,80 tỷ USD, giảm 7% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,40 tỷ USD, giảm 6,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,40 tỷ USD, giảm 7,4%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng giảm so với tháng trước: Điện tử, máy tính và linh kiện giảm 5,1%; điện thoại và linh kiện giảm 5,2%; thủy sản giảm 5,4%; ô tô giảm 7,4%; sắt thép giảm 8%; hóa chất giảm 11,1%. So với cùng kỳ năm 2017, kim ngạch nhập khẩu tháng Chín tăng 8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 9,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 6,9%. Một số mặt hàng có kim ngạch tăng so với cùng kỳ năm trước: Sắt thép tăng 23%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 5,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 3,6%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu quý III/2018 ước tính đạt 62,70 tỷ USD, tăng 8,2% so với quý II/2018 và tăng 16% so với cùng kỳ năm 2017. Trong quý III năm nay có 14 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 74,8% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 11,3 tỷ USD, chiếm 18% tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 8,7 tỷ USD, tăng 7,1%; điện thoại và linh kiện đạt 5,1 tỷ USD, tăng 10,1%; vải đạt 3,1 tỷ USD, tăng 12,1%; sắt thép đạt 2,6 tỷ USD, tăng 24,9%; kim loại thường đạt 2,3 tỷ USD, tăng 66,8%; chất dẻo đạt 2,3 tỷ USD, tăng 16,5%.

Tính chung 9 tháng, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 173,52 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 69,34 tỷ USD, tăng 11,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 104,18 tỷ USD, tăng 11,9%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 9 tháng tăng 10,3% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong 9 tháng năm nay có 30 mặt hàng ước tính kim ngạch nhập khẩu đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 87,5% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó có 3 mặt hàng trên 10 tỷ USD, chiếm 38,5% tổng kim ngạch nhập khẩu. Một số mặt hàng có giá trị kim ngạch nhập khẩu 9 tháng cao: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 31,1 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 24,6 tỷ USD, giảm 3,5%; điện thoại và linh kiện đạt 11,1 tỷ USD, tăng 2%; vải đạt 9,4 tỷ USD, tăng 13,5%; sắt thép đạt 7,6 tỷ USD, tăng 12,2%; chất dẻo đạt 6,6 tỷ USD, tăng 18,4%; xăng dầu đạt 6,2 tỷ USD, tăng 23,9%; kim loại thường đạt 5,7 tỷ USD, tăng 32,4%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 4,3 tỷ USD, tăng 4,2%; hóa chất đạt 3,8 tỷ USD, tăng 26,5%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 9 tháng năm 2018, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 159,2 tỷ USD, tăng 12,2% và chiếm 91,8% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (tăng 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2017), trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 72,8 tỷ USD, tăng 4,6% và chiếm 42% (giảm 2,9 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 86,4 tỷ USD, tăng 19,5% và chiếm 49,8% (tăng 3,2 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 14,3 tỷ USD, tăng 8,3% và chiếm 8,2% (giảm 0,3 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 9 tháng, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 47,1 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó xăng dầu tăng 98,9%; vải tăng 18,1%; điện thoại và linh kiện tăng 7,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 7,2%. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc với kim ngạch nhập khẩu đạt 35 tỷ USD, tăng 1,4%, trong đó xăng dầu tăng 24,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 14,1%; điện thoại và linh kiện tăng 3,1%. ASEAN đạt 23,2 tỷ USD, tăng 13%, trong đó vải tăng 31,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 13,6%; xăng dầu tăng 13,5%. Nhật Bản đạt 14 tỷ USD, tăng 15,3%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 52,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 35,5%; sắt thép tăng 19,9%. EU đạt 10 tỷ USD, tăng 11,3%, trong đó vải tăng 35,1%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 31,6%; sắt thép tăng 5,3%. Hoa Kỳ đạt 9,7 tỷ USD, tăng 39,6%, trong đó thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu tăng 183,1%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 11,9%.

Do kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh nên cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Tám thặng dư 2,2 tỷ USD[24]; tháng Chín ước tính xuất siêu 700 triệu USD. Tính chung 9 tháng năm 2018 tiếp tục xuất siêu 5,39 tỷ USD[25], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 18,26 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 23,65 tỷ USD.

c) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong quý III năm 2018, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 3,6 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2017 (quý II tăng 15,6%); kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 4,9 tỷ USD, tăng 10,1% (quý II tăng 7,5%). Tính chung 9 tháng, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 11,1 tỷ USD, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó dịch vụ du lịch đạt 7,6 tỷ USD (chiếm 68,3% tổng kim ngạch), tăng 15%; dịch vụ vận tải đạt 2,2 tỷ USD (chiếm 19,4%), tăng 16%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 9 tháng ước tính đạt 13,8 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 6,5 tỷ USD (chiếm 47,3% tổng kim ngạch), tăng 8,9%; dịch vụ du lịch đạt 4,4 tỷ USD (chiếm 31,6%), tăng 11,5%. Nhập siêu dịch vụ trong 9 tháng là 2,7 tỷ USD, bằng 24,2% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ. 

 

Hàng hóa xuất khẩu tháng 9 và 9 tháng năm 2018

Hàng hóa xuất khẩu các quý năm 2018

Hàng hóa nhập khẩu tháng 9 và 9 tháng năm 2018

Hàng hóa nhập khẩu các quý năm 2018

Xuất, nhập khẩu dịch vụ

 

 

5. Chỉ số giá

a) Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2018 tăng 0,59% so với tháng trước. Có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có CPI tháng Chín tăng so với tháng trước, trong đó nhóm giáo dục tăng cao nhất với 5,07% (dịch vụ giáo dục tăng 5,75% làm CPI chung tăng 0,3%) do trong tháng có 49 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện lộ trình tăng học phí và nhu cầu mua sắm cho năm học mới tăng cao. Nhóm giao thông tăng 0,82% do ảnh hưởng từ 2 đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 6/9/2018 và thời điểm 21/9/2018 làm chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 1,77% (tác động làm CPI tăng khoảng 0,08%). Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,44%, trong đó lương thực tăng 0,28% do nhu cầu xuất khẩu gạo tăng; thực phẩm tăng 0,51%[26]. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,2%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,13%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,11%; đồ uống và thuốc lá; văn hóa, giải trí và du lịch đều tăng 0,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04% (dịch vụ y tế tăng 0,01%); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,08%.

Tính chung quý III/2018, CPI tăng 0,72% so với quý trước và tăng 4,14% so với quý III/2017, trong đó nhóm giao thông tăng 9,14% so với cùng kỳ năm trước; giáo dục tăng 6,06%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,99%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 3,93%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,73%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,54%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,46%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,42%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,31%; riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,74%.

CPI bình quân 9 tháng năm 2018 tăng 3,57% so với bình quân cùng kỳ năm 2017; CPI tháng 9/2018 tăng 3,20% so với tháng 12/2017 và tăng 3,98% so với cùng kỳ năm 2017. CPI 9 tháng năm 2018 tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Các địa phương điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế theo Thông tư số 02/2017/TT-BYT ngày 15/3/2017 của Bộ Y tế làm giá các mặt hàng dịch vụ y tế tăng 18,26% (tác động làm CPI chung tăng 0,71%); (ii) Các địa phương thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ làm giá nhóm dịch vụ giáo dục tăng 7,02% (tác động làm CPI chung tăng 0,36%); (iii) Giá các mặt hàng lương thực tăng 4,09% (tác động làm CPI chung tăng 0,18%), giá thịt lợn tăng 5,49% (tác động làm CPI chung tăng 0,23%) và giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép tăng trở lại trong 9 tháng năm 2018 làm chỉ số giá xuất, nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất công nghiệp, nông nghiệp tăng so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI trong 9 tháng năm 2018, có một số yếu tố góp phần kiềm chế CPI: (i) Giá dịch vụ y tế điều chỉnh giảm theo Thông tư số 15/2018/TT-BYT ngày 30/5/2018 của Bộ Y tế làm giá các mặt hàng dịch vụ y tế tháng Bảy giảm 7,58% (tác động làm CPI giảm 0,29%); (ii) Các cấp, các ngành tích cực triển khai các biện pháp bình ổn giá cả thị trường, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán, không để xảy ra hiện tượng tăng giá đột biến; (iii) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Lạm phát cơ bản tháng 9/2018 tăng 0,14% so với tháng trước và tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng năm 2018 tăng 1,41% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 9/2018 giảm 0,97% so với tháng trước; giảm 1,89% so với tháng 12/2017; giảm 3,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 9/2018, tỷ giá giữa VND và USD tiếp tục tăng nhẹ sau khi tăng khá mạnh trong tháng Tám. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2018 tăng 0,16% so với tháng trước; tăng 2,59% so với tháng 12/2017 và tăng 2,57% so với cùng kỳ năm 2017.

c) Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III năm nay tăng 1,13% so với quý trước và tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 1,74% và tăng 4,72%; lâm nghiệp tăng 0,72% và tăng 3,99%; thủy sản giảm 0,68% và tăng 3,49%. Tính chung 9 tháng năm 2018, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý III tăng 1,08% so với quý trước và tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 2,32% và tăng 18,19%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,99% và tăng 2,81%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,54% và tăng 4,51%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,37% và tăng 2,22%. Tính chung 9 tháng năm nay, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 3,19% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý III tăng 1,24% so với quý trước và tăng 3,20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,44% và tăng 2,12%; dịch vụ vận tải kho bãi tăng 1,92% và tăng 4,68%; giáo dục và đào tạo tăng 4,12% và tăng 7,25%; y tế và trợ giúp xã hội giảm 2,42% và tăng 3%. Tính chung 9 tháng năm 2018, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 2,95% so với cùng kỳ năm 2017.

d) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý III năm nay giảm 0,66% so với quý trước và tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tương đương với cùng kỳ và giảm 0,81%; nhóm nhiên liệu tăng 2,87% và tăng 29,59%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo giảm 0,88% và tăng 1,17%. Chỉ số giá xuất khẩu quý III của một số mặt hàng như sau: Hàng thủy sản tăng 1,76% so với quý trước và tăng 2,99% so với cùng kỳ năm trước; dầu thô tăng 2,38% và tăng 29,20%; xăng dầu tăng 5,93% và tăng 38,79%; sắt, thép tăng 1,91% và tăng 10,95%; điện thoại và thiết bị di động giảm 4,56% và giảm 0,93%; hạt điều giảm 1,24% và giảm 3,53%; hạt tiêu giảm 3,59% và giảm 23,59%. Tính chung 9 tháng năm 2018, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá tăng 1,02% so với cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý III tăng 0,39% so với quý trước và tăng 1,99% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,02% và giảm 0,03%; nhóm nhiên liệu tăng 5,43% và tăng 19,86%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo tăng 0,2% và tăng 1,38%. Chỉ số giá nhập khẩu quý III của một số mặt hàng như sau: Khí đốt hóa lỏng tăng 15,37% so với quý trước và tăng 32,99% so với cùng kỳ năm trước; xăng dầu tăng 5,59% và tăng 20,88%; cao su giảm 3,13% và giảm 9,78%. Tính chung 9 tháng năm 2018, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 1,38% so với cùng kỳ năm 2017.

Tỷ giá thương mại hàng hóa[27] quý III năm nay giảm 1,05% so với quý trước và giảm 0,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tỷ giá thương mại của cao su tăng 3,12% và tăng 2,91%; xăng dầu tăng 0,33% và tăng 14,82%; hóa chất giảm 2,36% và giảm 6,54%. Tính chung 9 tháng năm 2018, tỷ giá thương mại hàng hoá giảm 0,36% so với cùng kỳ năm 2017.

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ và lạm phát cơ bản tháng 9 năm 2018

Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất

Chỉ số giá vận tải, kho bãi

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa

Tỷ giá thương mại hàng hóa

 
  
 
    III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2018 của cả nước ước tính 94,66 triệu người, bao gồm dân số thành thị 33,63 triệu người, chiếm 35,5%; dân số nông thôn 61,03 triệu người, chiếm 64,5%; dân số nam 46,75 triệu người, chiếm 49,4%; dân số nữ 47,91 triệu người, chiếm 50,6%.

Theo kết quả Điều tra biến động dân số và Kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2018, tổng tỷ suất sinh ước tính đạt 2,05 con/phụ nữ; tỷ suất sinh thô ước tính đạt 14,29‰; tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh là 114,4 bé trai/100 bé gái; tỷ suất chết thô là 6,82‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là 14,24‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 21,38‰. Tuổi thọ trung bình chung cả nước là 73,5 tuổi, trong đó nam là 70,9 tuổi và nữ là 76,2 tuổi.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý III năm 2018 ước tính là 55,4 triệu người, tăng 307,4 nghìn người so với quý trước và tăng 551,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Lao động nam 29 triệu người, chiếm 52,3%; lao động nữ 26,4 triệu người, chiếm 47,7%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 17,8 triệu người, chiếm 32,1%; khu vực nông thôn là 37,6 triệu người, chiếm 67,9%. Tính chung 9 tháng năm 2018, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,2 triệu người, tăng 581,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý III năm 2018 ước tính là 48,8 triệu người, tăng 314,1 nghìn người so với quý trước và tăng 539,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động nam 26,6 triệu người, chiếm 54,5%; lao động nữ 22,2 triệu người, chiếm 45,5%; lao động khu vực thành thị là 16,4 triệu người, chiếm 33,6%; khu vực nông thôn là 32,4 triệu người, chiếm 66,4%. Tính chung 9 tháng năm 2018, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 48,5 triệu người, tăng 535,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc quý III năm 2018 ước tính 54,3 triệu người, bao gồm 20,7 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 38,1% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 14,4 triệu người, chiếm 26,6%; khu vực dịch vụ 19,2 triệu người, chiếm 35,3%. Tính chung 9 tháng năm nay, lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là 54,1 triệu người, bao gồm 20,7 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 38,3% tổng số (giảm 2,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực công nghiệp và xây dựng 14,4 triệu người, chiếm 26,6% (tăng 1 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ 19 triệu người, chiếm 35,1% (tăng 1,1 điểm phần trăm).

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý III/2018 ước tính là 2,2% (quý I là 2,2%; quý II là 2,19%). Tính chung 9 tháng năm 2018, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,2%, trong đó khu vực thành thị là 3,1%; khu vực nông thôn là 1,74%[28]. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi)
9 tháng năm 2018 ước tính là 7,15%, trong đó khu vực thành thị là 10,71%; khu vực nông thôn là 5,81%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I/2018 là 1,52%; quý II là 1,43%; quý III ước tính là 1,42%. Tính chung 9 tháng năm nay, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 1,46%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,63%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,86% (tỷ lệ thiếu việc làm của 9 tháng năm 2017 tương ứng là 1,67%; 0,87%; 2,07%).

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[29] quý I/2018 là 56,3%; quý II là 56,3%; quý III ước tính là 56,1%, trong đó khu vực thành thị là 48,2%; khu vực nông thôn là 62,4%. Tính chung 9 tháng năm 2018 tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tính là 56,2%, trong đó khu vực thành thị là 48%; khu vực nông thôn là 63% (9 tháng năm 2017 tương ứng là 57,1%; 48,8%; 64,3%).

 

 
 

 

2. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư 9 tháng năm 2018 được cải thiện, nhất là ở khu vực nông thôn nhờ kết quả từ Chương trình xây dựng nông thôn mới cùng với kết quả tích cực trong sản xuất nông nghiệp. Thiếu đói trong nông dân giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng Chín, cả nước 1,5 nghìn hộ thiếu đói, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 5,7 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 18,8%. Tính chung 9 tháng, cả nước100,7 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 38,4% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 401,5 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 40,2%[30]. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 7,4 nghìn tấn lương thực và 1,6 tỷ đồng.

Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng trị giá quà trao tặng cho các đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội trong 9 tháng 4.763 tỷ đồng, bao gồm 2.746 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1.379 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 638 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó có gần 22,6 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

3. Giáo dục, đào tạo

Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2018 tiếp tục tổ chức theo hướng giảm áp lực và tốn kém cho thí sinh, gia đình và xã hội. Tuy vậy tính nghiêm túc trong đánh giá kết quả thi chưa được đảm bảo ở một số địa phương. Theo báo cáo sơ bộ, kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm nay được tổ chức tại 2.144 điểm thi, tương ứng với 39.689 phòng thi. Số thí sinh đăng ký dự thi là 925,8 nghìn người, trong đó 687,9 nghìn thí sinh đăng ký xét tuyển đại học, cao đẳng, chiếm 74,3% tổng số thí sinh đăng ký dự thi.

Tại thời điểm khai giảng năm học 2018-2019, cả nước có 5,3 triệu trẻ em đi học mầm non (0,7 triệu trẻ em đi nhà trẻ và gần 4,6 triệu trẻ em đi học mẫu giáo); 16,6 triệu học sinh phổ thông đến trường, bao gồm 8,4 triệu học sinh tiểu học; 5,6 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,6 triệu học sinh trung học phổ thông.

Hiện nay cả nước có 1.954 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bao gồm 394 trường cao đẳng; 515 trường trung cấp và 1.045 trung tâm giáo dục nghề nghiệp[31]. Đào tạo nghề tính đến cuối tháng 8/2018 đã tuyển mới được 1.492 nghìn người, trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp tuyển sinh được 342 nghìn người; trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác tuyển sinh được 1.150 nghìn người. Bên cạnh đó, trong năm 2018 dự kiến sẽ hỗ trợ đào tạo nghề cho khoảng 800 nghìn lao động nông thôn, trong đó đào tạo cho 19,8 nghìn người khuyết tật theo Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020.

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Chín, cả nước có 12,2 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 13,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (2 trường hợp tử vong); 45 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 38 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (5 trường hợp tử vong); 3 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu; 59 trường hợp mắc bệnh ho gà; 14 trường hợp tử vong do bệnh dại.

Tính chung 9 tháng, cả nước có 42,8 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 56,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (11 trường hợp tử vong); 456 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 630 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (18 trường hợp tử vong); 20 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu (1 trường hợp tử vong); 536 trường hợp mắc bệnh ho gà (2 trường hợp tử vong); 72 trường hợp mắc bệnh liên cầu lợn ở người (6 trường hợp tử vong); 57 trường hợp tử vong do bệnh dại.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/9/2018 là 208,5 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là gần 93,1 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98,07 nghìn người.

Tổng số vụ ngộ độc thực phẩm trong 9 tháng năm nay là 62 vụ, làm 1.557 người bị ngộ độc, trong đó 10 trường hợp tử vong. Riêng tháng Chín đã xảy ra 6 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 55 người bị ngộ độc, 2 trường hợp tử vong.

5. Hoạt động văn hóa, thể thao

Hoạt động văn hóa 9 tháng năm 2018 tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Các sự kiện được tổ chức trang trọng, an toàn, tiết kiệm và hiệu quả; thu hút sự quan tâm và tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Công tác quản lý lễ hội được chú trọng nhằm phát huy tính tích cực của lễ hội dân gian và phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc; tăng cường kiểm tra và kiên quyết xử lý những lễ hội có vi phạm, không đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường.

Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh với nhiều hoạt động được tổ chức như: Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân; tổ chức học bơi phòng chống đuối nước cho trẻ em và Đại hội Thể dục thể thao các cấp tiến tới Đại hội Thể dục, thể thao toàn quốc lần thứ VIII năm 2018.

Trong hoạt động thể thao thành tích cao, từ đầu năm đến nay thể thao Việt Nam giành được 368 huy chương vàng, 281 huy chương bạc và 226 huy chương đồng tại các giải thể thao cấp khu vực và thế giới. Tại Đại hội thể thao Châu Á lần thứ 18 (ASIAD 18), Đoàn Thể thao Việt Nam đã giành được 4 huy chương vàng, 16 huy chương bạc và 18 huy chương đồng, xếp thứ 17/45 quốc gia và vùng lãnh thổ.

6. Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 16/8 đến 15/9), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.460 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 775 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 685 vụ va chạm giao thông, làm 646 người chết, 421 người bị thương và 698 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Chín giảm 7,4% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 7,3% và số vụ va chạm giao thông giảm 19,9%); số người chết tăng 4,2%; số người bị thương tăng 8,2% và số người bị thương nhẹ giảm 21,5%. Đáng lưu ý, trong thời gian vừa qua đã xảy ra một số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng như: Vụ tai nạn giữa tàu hỏa và xe ôtô xảy ra ngày 25/8 tại Nghệ An làm 2 người chết và 2 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 3/9 tại Hòa Bình làm 2 người chết; vụ tai nạn giữa xe tải và 6 xe máy xảy ra ngày 14/9 tại An Giang làm 11 người bị thương; vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng giữa xe bồn với xe khách xảy ra ngày 15/9 tại Tam Đường, Lai Châu làm 13 người chết.

Tính chung 9 tháng năm 2018, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 13.242 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 6.861 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 6.381 vụ va chạm giao thông, làm 6.012 người chết, 3.670 người bị thương và 6.649 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 9 tháng năm nay giảm 7,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,3%; số vụ va chạm giao thông giảm 13,1%); số người chết giảm 1,8%; số người bị thương tăng 3,4% và số người bị thương nhẹ giảm 19,3%. Trong tổng số 6.861 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên 9 tháng vừa qua, có 6.674 vụ (chiếm 97,3%) xảy ra ở đường bộ, làm 5.882 người chết và 3.616 người bị thương; tai nạn giao thông đường sắt có 114 vụ, làm 94 người chết và 49 người bị thương; tai nạn giao thông đường thủy và hàng hải có 73 vụ, làm 36 người chết và 5 người bị thương. Bình quân 1 ngày trong 9 tháng năm 2018, trên địa bàn cả nước xảy ra 48 vụ tai nạn giao thông, gồm 25 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 23 vụ va chạm giao thông, làm 22 người chết, 13 người bị thương và 24 người bị thương nhẹ.

7. Thiệt hại do thiên tai 

Thiệt hại thiên tai trong tháng 9/2018 chủ yếu do ảnh hưởng của bão, mưa lũ, lũ quét, ngập lụt và sạt lở đất. Thiên tai đã làm 27 người chết và mất tích, 12 người bị thương; 544 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; 14,1 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái và ngập nước; 8,7 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính 785 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng, thiên tai đã làm 183 người chết và mất tích, 129 người bị thương; hơn 1,8 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và cuốn trôi; 59,5 nghìn ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái và ngập nước; gần 142 nghìn ha lúa và 29,6 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai trong 9 tháng ước tính hơn 8,8 nghìn tỷ đồng. Các địa phương bị ảnh hưởng nặng nề do thiên tai gây ra như: Lai Châu có 42 người chết và mất tích, 17 người bị thương; Yên Bái 22 người chết và mất tích, 25 người bị thương, 4,8 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; Nam Định 43,6 nghìn ha lúa, Nghệ An 32,2 nghìn ha lúa và 11,3 nghìn ha hoa màu, Thanh Hóa 18,8 nghìn ha lúa và 6,9 nghìn ha hoa màu, Hà Tĩnh 7,6 nghìn ha lúa và 1,9 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng.

8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng 9/2018, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.240 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.155 vụ với tổng số tiền phạt 22,2 tỷ đồng. Tính chung 9 tháng đã phát hiện 10.988 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 10.264 vụ với tổng số tiền phạt hơn 161 tỷ đồng.

Trong tháng Chín, cả nước xảy ra 270 vụ cháy, nổ, làm 5 người chết và 23 người bị thương, thiệt hại ước tính 47 tỷ đồng, trong đó vụ cháy nghiêm trọng xảy ra ngày 17/9 tại Đê La Thành, Hà Nội làm 2 người chết. Tính chung 9 tháng năm 2018, trên địa bàn cả nước xảy ra 3.008 vụ cháy, nổ, làm 82 người chết và 224 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 1,5 nghìn tỷ đồng.

 
Một số chỉ tiêu xã hội - môi trường

 

Khái quát lại, kinh tế - xã hội nước ta trong quý III và 9 tháng năm 2018 đạt nhiều kết quả tích cực. Nền kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới mục tiêu Quốc hội. Sản xuất nông nghiệp, thủy sản đạt khá, chăn nuôi lợn từng bước phục hồi. Công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn đảm bảo vai trò là động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Tình hình thực hiện vốn đầu tư có chuyển biến tích cực với nhiều năng lực sản xuất mới được bổ sung. Môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Tiêu dùng tăng cao, xuất khẩu và thu hút khách du lịch quốc tế đạt khá. Tình hình giải quyết việc làm và an sinh xã hội được quan tâm thực hiện.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, nền kinh tế còn đối diện nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung ngày càng gia tăng, tạo áp lực lớn đến điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá, lãi suất, lạm phát và sản xuất trong nước. Biến đổi khí hậu, thiên tai, bão, lũ..., dịch bệnh diễn biến phức tạp có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân.

Để hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, tạo đà thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, trong thời gian tới, các bộ, ngành và địa phương cần bám sát tình hình thực tiễn, tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP và các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ hoàn thành, trong đó tập trung thực hiện những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt, hỗ trợ thanh khoản hợp lý cho các tổ chức tín dụng. Điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến thị trường, các cân đối vĩ mô và đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ khác. Theo dõi sát tình hình trong nước và thế giới, chủ động có các giải pháp nhằm ổn định thị trường tiền tệ, tỷ giá, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, nhất là tín dụng trong lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng. Chú trọng cho vay các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, kinh doanh hàng xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hai là, tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công trong những tháng cuối năm, trong đó chú trọng các dự án lớn, dự án quan trọng, các chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm thực hiện và giải ngân hết nguồn vốn đầu tư công được giao năm 2018. Chỉ đạo nhà thầu thi công đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án có ý nghĩa nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn đầu tư công đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng; không để xảy ra tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản. Thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, có giải pháp khuyến khích phát triển nhà ở thương mại giá thấp, nhà ở xã hội.

Ba là, rà soát, bổ sung và hoàn thiện thể chế, cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh đang là rào cản đối với hoạt động của doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh cá thể, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực thi hiệu quả thủ tục một cửa tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và phát triển. Chính phủ cần có chính sách và giải pháp phù hợp để khuyến khích các cơ sở kinh doanh cá thể chuyển thành doanh nghiệp, tạo dựng điều kiện kinh doanh thuận lợi cho cơ sở cá thể hoạt động ổn định lâu dài và tuân thủ pháp luật.

Bốn là, đẩy mạnh liên kết sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, ứng dụng khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ bảo quản, chế biến nông sản sau thu hoạch. Có giải pháp kiểm soát việc tăng đàn lợn một cách phù hợp, đảm bảo cân đối cung cầu. Tăng cường quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc sử dụng chất cấm trong nông nghiệp, thủy sản. Thực hiện quyết liệt việc giám sát, ngăn ngừa hoạt động đánh bắt hải sản trái quy định của Liên minh Châu Âu. Chủ động thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, trong đó tập trung ngăn chặn sự xâm nhập của bệnh dịch tả lợn châu Phi.  Tập trung chỉ đạo phát triển các ngành công nghiệp chế biến sâu, chế biến sản phẩm nông sản, thủy hải sản chủ lực; công nghiệp phụ trợ, sản xuất hàng tiêu dùng, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong quá trình sản xuất, chế biến để đạt giá trị gia tăng cao. Đẩy mạnh phát triển sản xuất công nghiệp theo hướng chế biến sâu, ứng dụng công nghệ cao, từng bước tạo ra những sản phẩm thương hiệu quốc gia, có sức cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Năm là, các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát tình hình giá cả, thị trường trong nước và thế giới, diễn biến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, biến động của đồng đô la Mỹ, đồng Nhân dân tệ và giá các mặt hàng như xăng dầu, thịt lợn, vật liệu xây dựng, dịch vụ vận tải… để kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2018 dưới 4%. Sử dụng phù hợp quỹ bình ổn giá xăng dầu để hạn chế tác động tăng giá của mặt hàng này đến CPI. Chủ động chuẩn bị nguồn hàng thiết yếu và hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng gia tăng vào thời điểm cuối năm. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, hạn chế thông tin thất thiệt gây hoang mang cho người tiêu dùng và bất ổn thị trường.

Sáu là, thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, chủ động kết nối, phát triển các kênh phân phối sản phẩm hàng hóa của Việt Nam. Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí, loại bỏ những rào cản đối với xuất khẩu. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu chính ngạch cho sản phẩm nông sản. Kiểm soát chặt chẽ hàng hóa nhập khẩu, nhất là hàng tạm nhập, tái xuất, hàng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất. ng cường nắm bắt thông tin thị trường và các vấn đề phát sinh ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam, chủ động xây dựng các biện pháp ứng phó và khắc phục kịp thời với những biến động bất lợi trên thị trường thế giới. Tăng cường xúc tiến, quảng bá du lịch, có chính sách thu hút hiệu quả khách du lịch quốc tế; quản lý, kiểm soát chặt chẽ chất lượng kinh doanh dịch vụ du lịch, lưu trú.

Bảy là, để nền kinh tế có thể hòa nhập, không bị bỏ lại phía sau trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ cần đổi mới phương thức thu hút đầu tư nước ngoài, tập trung thu hút các nhà đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới, các nước nắm giữ công nghệ nguồn có năng lực quản trị hiện đại, nặng lực cạnh tranh cao đầu tư vào Việt Nam. Đổi mới phương thức và chương trình đào tạo nguồn nhân lực, tập trung đào tạo thực hành kết hợp với lý thuyết để có đội ngũ lao động thực hành giỏi đáp ứng nhu cầu theo xu thế vận hành của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Tám là, theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở nhằm hạn chế tối đa thiệt hại, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm. Triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ



[1] Theo báo cáo ngày 9/8/2018 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chỉ số triển vọng thương mại toàn cầu quý III/2018 ở mức 100,3, thấp hơn so với giá trị 101,8 trong quý II/2018.

[2] Tăng trưởng GDP quý II/2018 điều chỉnh giảm 0,06 điểm phần trăm so với số ước tính 6,79% do điều chỉnh giảm tốc độ tăng của khu vực  nông, lâm nghiệp và thủy sản 0,25 điểm phần trăm (nguyên nhân chủ yếu do số liệu ước tính sản phầm điều, tiêu, tôm thẻ cao hơn số liệu sơ bộ) và khu vực dịch vụ 0,01 điểm phần trăm.

[3] Tăng trưởng GDP quý III một số năm: Năm 2011 tăng 6,21%; năm 2012 tăng 5,39%; năm 2013 tăng 5,54%; năm 2014 tăng 6,07%; năm 2015 tăng 6,87%; năm 2016 tăng 6,56%; năm 2017 tăng 7,38%; năm 2018 tăng 6,88%.

[4] Tăng trưởng GDP 9 tháng của một số năm: Năm 2011 tăng 6,03%; năm 2012 tăng 5,10%; năm 2013 tăng 5,14%; năm 2014 tăng 5,53%; năm 2015 tăng 6,53%; năm 2016 tăng 5,99%; năm 2017 tăng 6,41%; năm 2018 tăng 6,98%.

[5] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành thủy sản 9 tháng của một số năm: Năm 2011 tăng 3,46%; năm 2012 tăng 4,06%; năm 2013 tăng 2,95%; năm 2014 tăng 6,15%; năm 2015 tăng 2,11%; năm 2016 tăng 1,81%; năm 2017 tăng 5,48%; năm 2018 tăng 6,37%.

[6] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng của một số năm: Năm 2012 tăng 8,74%; năm 2013 tăng 6,58%; năm 2014 tăng 7,09%; năm 2015 tăng 10,15%; năm 2016 tăng 11,20%; năm 2017 tăng 12,77%; năm 2018 tăng 12,65%.

[7] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 9 tháng của một số năm: Năm 2012 tăng 6,47%; năm 2013 tăng 6,43%; năm 2014 tăng 5,94%; năm 2015 tăng 6,10%; năm 2016 tăng 6,67%; năm 2017 tăng 7,21%; năm 2018 tăng 6,89%.

 

[8]Tại các tỉnh phía Bắc, chuyển sang cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản là 8,9 nghìn ha; diện tích chuyển sang đất phi nông nghiệp (xây dựng hạ tầng, công trình thủy lợi...) là 4,7 nghìn ha; diện tích đất không sản xuất (bỏ hoang do khó khăn trong khâu tưới tiêu, thiếu lao động và do bị ngập úng, sạt lở) là 15,1 nghìn ha.

[9] Trong đó: Diện tích chuyển sang cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản là 11 nghìn ha; diện tích chuyển sang đất phi nông nghiệp là 0,5 nghìn ha; diện tích đất không sản xuất (bỏ hoang do khó khăn trong khâu tưới tiêu, thiếu lao động và ảnh hưởng của mưa bão) là 3,9 nghìn ha;. Bên cạnh đó, một số địa phương như Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang đã tận dụng được diện tích đất năm trước không thể gieo trồng do thiếu nước tưới hoặc bị nhiễm mặn làm diện tích tăng 1,7 nghìn ha.

 

[10] Tốc độ tăng IIP 9 tháng các năm 2012-2018 lần lượt là: 6,1%; 5,3%; 6,8%; 9,9%; 7,1%; 8,8%; 10,6%.

[11] Tốc độ tăng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng các năm 2012-2018 lần lượt là: 5,5%; 6,7%; 8,3%; 10,2%; 10,5%; 12,2%; 12,9%.

[12] Nguyên nhân chủ yếu do năm nay Công ty TNHH Samsung Electronics tập trung sản xuất các dòng điện thoại cao cấp vào tháng Hai và tháng Ba, trong khi năm 2017 sản xuất chủ yếu vào tháng Tư và tháng Năm.

[13] Do có thêm một số doanh nghiệp ngành điện tử và may mặc đi vào hoạt động.

[14] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[15] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 6,4%; số vốn đăng ký tăng 5,2%.        

[16] 9 tháng năm 2017, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 43,5%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 24,4%.

[17] Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể tăng cao trong đó có nguyên nhân thời gian này các phòng đăng ký kinh doanh trên cả nước đang rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, loại bỏ các doanh nghiệp không còn hoạt động trong thời gian dài.

[18] Chỉ số tương ứng của quý II/2018: Có 45% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn quý trước; 17,4% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 37,6% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định.           

[19] Chỉ số tương ứng của quý II/2018: Có 47,3% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp tăng so với quý trước; 17,4% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 35,3% số doanh nghiệp cho rằng ổn định.  

[20] Chỉ số tương ứng của quý II/2018: Có 39,8% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng cao hơn quý trước; 17,2% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 43% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định.                                                                          

[21] Vận chuyển hàng hóa quý I/2018 tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước, quý II tăng 9,8%; Luân chuyển hàng hóa quý I tăng 5,8%; quý II tăng 7,4%.

 

[22] Trong 9 tháng năm nay có một số dự án lớn được cấp phép là: Dự án Thành phố thông minh tại Đông Anh, Hà Nội với tổng vốn đầu tư 4,1 tỷ USD do Nhật Bản đầu tư; Dự án Nhà máy sản xuất polypropylene (PP) và kho ngầm chứa khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) tại Bà Rịa - Vũng Tàu với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,2 tỷ USD do Hàn Quốc đầu tư; Dự án Công ty TNHH Laguna (Việt Nam) tại Thừa Thiên - Huế điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 1,1 tỷ USD của nhà đầu tư Xin-ga-po; Dự án nhà máy LG Innitek Hải Phòng điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 501 triệu USD với mục tiêu sản xuất mô đun camera do Hàn Quốc đầu tư.

[23] Chủ yếu do số ngày làm việc trong tháng Chín ít hơn tháng Tám, đồng thời trong tháng Tám xuất khẩu sản phẩm mới Note 9 và Note 9+ của Samsung tăng mạnh.

[24] Ước tính tháng Tám nhập siêu 100 triệu USD.

[25] Trong đó, 9 tháng xuất siêu sang Hoa Kỳ 25,1 tỷ USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 21,1 tỷ USD, tăng 8,9%; nhập siêu từ Hàn Quốc 21,5 tỷ USD, giảm 9,8%; nhập siêu từ Trung Quốc 19 tỷ USD, giảm 3,6%; nhập siêu từ ASEAN 4,5 tỷ USD, tăng 1,9%.

[26] Do nhóm giá thịt gia súc tươi sống tăng 0,55% (chủ yếu là giá thịt lợn tăng 0,65%); thủy sản tươi sống tăng 0,49% và rau tăng 1,82%.

[27] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[28] Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 9 tháng năm 2017 là 2,26%, trong đó khu vực thành thị là 3,19%;
 khu vực nông thôn là 1,8%
.

[29] Lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp bao gồm những người không làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) người làm công ăn lương thuộc khu vực chính thức không được ký hợp đồng lao động hoặc có hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực chính thức và thành viên hợp tác xã không có bảo hiểm xã hội bắt buộc; (ii) chủ cơ sở, lao động tự làm, lao động làm công ăn lương và lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực phi chính thức; (iii) lao động tự làm phục vụ nhu cầu tự tiêu dùng của hộ gia đình và lao động làm thuê trong các hộ gia đình.

[30] Trong đó quý III số lượt hộ thiếu đói giảm 14% so với cùng kỳ năm trước; số nhân khẩu thiếu đói giảm 14,8%.

[31] Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2018