English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế- xã hội 11 tháng năm 2018

 

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào thu hoạch lúa mùa, lúa thu đông trên cả nước và gieo trồng cây màu vụ đông tại các địa phương phía Bắc. Tính đến trung tuần tháng Mười Một, cả nước đã thu hoạch được 1.469,7 nghìn ha lúa mùa, chiếm 87,3% diện tích gieo cấy[1] và bằng 98,1% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc thu hoạch 1.085,5 nghìn ha, chiếm 98,3% và bằng 96,9%; các địa phương phía Nam thu hoạch 384,2 nghìn ha, chiếm 66,3% và bằng 101,7%. Tại các tỉnh phía Bắc, do thời tiết thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển nên năng suất đạt khá. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa mùa năm nay tại các địa phương phía Bắc ước tính đạt 49,4 tạ/ha, tăng 3,2 tạ/ha so với vụ mùa năm trước; sản lượng đạt gần 5,5 triệu tấn, tăng 217,1 nghìn tấn, riêng vùng Đồng bằng sông Hồng tăng 235,9 nghìn tấn, trong đó Thái Bình tăng 91,2 nghìn tấn; Nam Định tăng 51,2 nghìn tấn; Hải Dương tăng 40,1 nghìn tấn; Hà Nam và Ninh Bình đều tăng trên 21 nghìn tấn. Tại các tỉnh phía Nam, năng suất lúa mùa ước tính đạt 48,5 tạ/ha, tăng 3,1 tạ/ha so với vụ  mùa năm trước; sản lượng đạt 2,8 triệu tấn, tăng 185,9 nghìn tấn. Tính chung cả nước, năng suất lúa mùa năm 2018 ước tính đạt 49,1 tạ/ha, tăng 3,2 tạ/ha; sản lượng đạt gần 8,3 triệu tấn, tăng 403 nghìn tấn.

Tính đến thời điểm 15/11/2018, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 732,1 nghìn ha lúa thu đông, bằng 90,4% cùng kỳ năm trước. Đến nay, toàn vùng đã thu hoạch được 383,4 nghìn ha lúa thu đông, chiếm 52,4% diện tích gieo cấy và bằng 89% cùng kỳ năm trước. Tiến độ thu hoạch lúa thu đông chậm hơn so với cùng kỳ năm trước do vụ hè thu năm nay xuống giống muộn và kéo dài, đồng thời do ảnh hưởng của mưa bão nên lũ về sớm làm nhiều diện tích không thể gieo cấy được, ảnh hưởng tới thời gian xuống giống vụ thu đông. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất toàn vụ ước tính đạt 53,2 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ thu đông năm trước; sản lượng ước tính đạt 3,9 triệu tấn, giảm 343,2 nghìn tấn. Một số địa phương có diện tích gieo cấy và sản lượng thu hoạch giảm nhiều: Long An (giảm 16,5 nghìn ha và giảm 48,8 nghìn tấn); Đồng Tháp (giảm 16,1 nghìn ha và giảm 89,8 nghìn tấn); Hậu Giang (giảm 12,1 nghìn ha và giảm 60,2 nghìn tấn); Kiên Giang (giảm 10,9 nghìn ha và giảm 69 nghìn tấn).

Cũng tính đến thời điểm trên, các địa phương phía Nam đã gieo sạ được 171 nghìn ha lúa đông xuân sớm, tương đương cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo sạ được 168,7 nghìn ha, bằng 100,3%.

Tính đến ngày 15/11/2018, cả nước gieo trồng được 100,3 nghìn ha ngô, bằng 101,8% cùng kỳ năm trước; 21,2 nghìn ha khoai lang, bằng 98,6%; 4,7 nghìn ha đậu tương, bằng 102,2%; 4,9 nghìn ha lạc, bằng 96,1%; 144,6 nghìn ha rau đậu, bằng 105,9%. Thời tiết thuận lợi, sâu bệnh ít xuất hiện nên các cây vụ đông đang trong giai đoạn sinh trưởng và phát triển tốt.

Chăn nuôi gia súc và gia cầm nhìn chung ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Đàn trâu cả nước trong tháng ước tính giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,2%; đàn lợn tăng 2,8%; đàn gia cầm tăng 5,8%. Tính đến thời điểm 25/11/2018, cả nước không còn dịch cúm gia cầm và dịch lợn tai xanh; dịch lở mồm long móng chưa qua 21 ngày còn ở Quảng Trị. Đáng lưu ý, bệnh dịch tả lợn châu Phi vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp ở phía Nam Trung Quốc, gần biên giới với các tỉnh Tây Bắc của Việt Nam, do đó các cấp, các ngành cần chủ động có biện pháp ngăn chặn bệnh dịch xâm nhập vào nước ta.

b) Lâm nghiệp

Trong tháng Mười Một, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 26,1 nghìn ha, giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 8,1 triệu cây, giảm 1,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1,2 triệu m3, tăng 9,8%; sản lượng củi khai thác đạt 1,6 triệu ste, tương đương cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Hòa Bình tăng 10,9%; Thanh Hóa tăng 12,9%; Quảng Ngãi tăng 13,9%; Quảng Trị tăng 19,2% và Nghệ An tăng 19,5%.

Tính chung 11 tháng, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 213 nghìn ha, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 76,6 triệu cây, giảm 0,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 11,6 triệu m3, tăng 10,1%; sản lượng củi khai thác đạt 22 triệu ste, giảm 1,3%.

Trong tháng, cả nước có 34,5 ha rừng bị thiệt hại, trong đó diện tích rừng bị chặt, phá là 31,9 ha. Tính chung 11 tháng năm nay, diện tích rừng bị thiệt hại là 1.270,4 ha, giảm 16,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 741,1 ha, tăng 43,3%; diện tích rừng bị chặt, phá là 529,3 ha, giảm 47,7%.

c) Thủy sản

Trong tháng Mười Một, sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 684,4 nghìn tấn, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 510,3 nghìn tấn, tăng 9,6%; tôm đạt 80,5 nghìn tấn, tăng 2,9%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 393,6 nghìn tấn, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước do diện tích cho thu hoạch tăng mạnh, trong đó cá đạt 285,2 nghìn tấn, tăng 12,5%; tôm đạt 69,4 nghìn tấn, tăng 3,1%. Nuôi cá tra trong tháng đạt khá. Giá cá tra tiếp tục ở mức cao, có thời điểm giá cá tra nguyên liệu đạt tới 36.500 đồng/kg (mức giá người nuôi có lãi từ 8.000-10.000 đồng/kg), đồng thời xuất khẩu cá tra đang thuận lợi nên nhiều ao nuôi tận dụng thu hoạch sớm. Sản lượng cá tra trong tháng ước tính đạt 128,7 nghìn tấn, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó An Giang đạt 39,2 nghìn tấn, tăng 74%; Đồng Tháp đạt 42,8 nghìn tấn, tăng 4,6%; Cần Thơ đạt 11,7 nghìn tấn, tăng 10%. Nuôi tôm nước lợ đang thu hoạch cuối vụ để chuẩn bị thả giống cho vụ nuôi mới. Sản lượng tôm sú trong tháng ước tính đạt 22,8 nghìn tấn, giảm 3% so với cùng kỳ năm trước; tôm thẻ chân trắng đạt 43,2 nghìn tấn, tăng 7,2%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng Mười Một ước tính đạt 290,8 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 225,1 nghìn tấn, tăng 6%; tôm đạt 11,1 nghìn tấn, tăng 1,8%. Riêng sản lượng khai thác biển ước tính đạt 270,8 nghìn tấn, tăng 5,3%, trong đó cá đạt 211 nghìn tấn, tăng 6,5%; tôm đạt 10 nghìn tấn, tăng 2%.

Tính chung 11 tháng, sản lượng thủy sản cả nước ước tính đạt 6.873,7 nghìn tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.688,9 nghìn tấn, tăng 6,9%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.184,8 nghìn tấn, tăng 5,3% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 2.997,3 nghìn tấn, tăng 5,6%).

 

 
    2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Mười Một ước tính tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 0,2%; ngành chế biến, chế tạo tăng 11%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,2%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,5%.

Tính chung 11 tháng năm 2018, IIP ước tính tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10,3% của cùng kỳ năm 2017[2], trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 12,2%, đóng góp 9,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2%, làm giảm 0,3 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 11 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 63%; sản xuất kim loại tăng 23,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 22,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 16,3%; sản xuất giấy, sản phẩm từ giấy và sản xuất giường, tủ, bàn, ghế cùng tăng 13,4%; dệt tăng 13%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,8%; sản xuất trang phục tăng 11,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng 11,2%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 3,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su, plastic và khai thác quặng kim loại cùng tăng 3,1%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,5% (khai thác dầu thô giảm 11,9%; khai thác khí đốt tự nhiên tăng 1,7%); khai khoáng khác (đá, cát, sỏi...) giảm 1,6%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 11 tháng năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Xăng, dầu tăng 51,8%; sắt, thép thô tăng 40,9%; ti vi tăng 23,9%; Alumin tăng 22,9%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 22,4%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 21,3%; thức ăn cho thủy sản tăng 17,5%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 16,5%; ô tô tăng 14,4%; đường kính tăng 14,3%; linh kiện điện thoại tăng 12,4%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Xe máy tăng 4,2%; phân u rê tăng 2,8%; phân hỗn hợp (NPK) tăng 2,5%; sữa tươi tăng 1,8%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 1,7%; thức ăn cho gia súc tăng 1%; điện thoại di động giảm 3,3% (điện thoại thông minh giảm 4,7%); dầu thô khai thác giảm 11,9% (cùng kỳ năm 2017 giảm 10,6%).

Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2018 của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó Hà Tĩnh là địa phương có tốc độ tăng cao nhất với mức tăng 93,2% do có sự đóng góp của Tập đoàn Formosa, tiếp theo là Thanh Hóa tăng 33,6% chủ yếu do Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn mới đi vào sản xuất từ giữa năm 2018, Bà Rịa - Vũng Tàu có mức tăng thấp nhất cả nước với 2,1% do khai thác dầu thô giảm. Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 25,7%; Vĩnh Phúc tăng 14,9%; Thái Nguyên tăng 12,3%; Bình Dương tăng 9,5%; Hải Dương tăng 9,2%; Quảng Ninh tăng 9,1%; Đồng Nai tăng 8,9%; Bắc Ninh tăng 8,4%; Cần Thơ tăng 8,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 8%; Hà Nội tăng 7,4%; Đà Nẵng tăng 7,2%; Quảng Nam tăng 6,9%.

Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/11/2018 tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,1%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3,4%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,2% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 3,4%; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 0,1%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,5%.

Lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/11/2018 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 13%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 6,8%; Hà Nội tăng 5,8%; Đồng Nai tăng 4,5%; Hải Dương tăng 2,6%; Quảng Ninh tăng 2,4%; Cần Thơ tăng 1,1%; thành phố Hồ Chí Minh và Thái Nguyên cùng tăng 1%; Bình Dương tăng 0,8%; Quảng Nam tăng 0,5%; Vĩnh Phúc giảm 2,7%; Bắc Ninh giảm 7,9%; Đà Nẵng giảm 12,3%[3].

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

 
    3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[4]

Trong tháng Mười Một, cả nước có 11.637 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 118,4 nghìn tỷ đồng, giảm 10,5% về số doanh nghiệp và giảm 22% về số vốn đăng ký so với tháng trước[5]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,2 tỷ đồng, giảm 13,3%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 92,3 nghìn người, giảm 12,1%. Trong tháng, cả nước còn có 3.404 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, thấp hơn 1,4% so với tháng trước; có 6.353 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.952 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 4.401 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), giảm 5%; có 1.554 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 12,3%.

Tính chung 11 tháng, cả nước có 121.248 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.234,4 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5% về số doanh nghiệp và tăng 9,1% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017[6]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,2 tỷ đồng, tăng 4,1%. Nếu tính cả 2.198,2 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 11 tháng năm 2018 là 3.432,6 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 31.869 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 11 tháng năm nay lên hơn 153,1 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới 11 tháng năm 2018 là 1.107,1 nghìn người, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước.

Theo lĩnh vực hoạt động, trong 11 tháng năm nay có 42,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy (chiếm 35,1% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước; 15,6 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 12,8%), tăng 5,8%; 15 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,3%), tăng 0,6%; 9,2 nghìn doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 7,6%), tăng 6,6%; 7,1 nghìn doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 5,8%), tăng 15,1%; 6,4 nghìn doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (chiếm 5,3%), tăng 41,7%; 6,3 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,2%), tăng 11%; 3,9 nghìn doanh nghiệp vận tải, kho bãi (chiếm 3,2%), giảm 27,7%...

Trong 11 tháng năm nay, một số vùng kinh tế có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước: Vùng Đồng bằng sông Hồng có 35,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 3% (vốn đăng ký đạt 356,7 nghìn tỷ đồng, tăng 31,3%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 17,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 9,6% (vốn đăng ký 149,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1%); Đông Nam Bộ 51,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 5% (vốn đăng ký 567 nghìn tỷ đồng, giảm 2,1%); Đồng bằng sông Cửu Long 8,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 3,1% (vốn đăng ký 98,5 nghìn tỷ đồng, tăng 63,4%). Các vùng còn lại có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước: Trung du và miền núi phía Bắc 4,9 nghìn doanh nghiệp, giảm 0,8% (vốn đăng ký 41,9 nghìn tỷ đồng, giảm 17,5%); Tây Nguyên 2,9 nghìn doanh nghiệp, giảm 1,3% (vốn đăng ký 20,9 nghìn tỷ đồng, giảm 5,3%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 11 tháng năm 2018 là 83.108 doanh nghiệp, tăng 49,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 25.977 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 24,8% và 57.131 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 64%[7]. Theo lĩnh vực hoạt động, có 10,2 nghìn doanh nghiệp trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (chiếm 39,4%), tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước; 3,8 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 14,7%), tăng 24,6%; 3,2 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,3%), tăng 18,8%; 1,5 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,7%), tăng 28,2%... Đối với các doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 20,1 nghìn doanh nghiệp (chiếm 35,2%), tăng 39,8% so với cùng kỳ năm trước; 8,4 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 14,7%), tăng 73,6%; 7,1 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,5%), tăng 79%; 3,1 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,5%), tăng 86,8%...

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 11 tháng năm 2018 là 14.861 doanh nghiệp, tăng 37,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 13.598 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,5% và tăng 37,3%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 5,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 34,2% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo có 2 nghìn doanh nghiệp, tăng 44,6%; xây dựng có 1,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 48,9%.

 

Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động

 
   4. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười Một ước tính đạt 36,7 nghìn tỷ đồng, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn trung ương 6,7 nghìn tỷ đồng, giảm 0,3%; vốn địa phương 30 nghìn tỷ đồng, tăng 19,6%. Tính chung 11 tháng năm nay, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 284,7 nghìn tỷ đồng, bằng 82,1% kế hoạch năm và tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2017 bằng 82% và tăng 7,5%), gồm có:

- Vốn Trung ương quản lý đạt 52,4 nghìn tỷ đồng, bằng 79,6% kế hoạch năm và giảm 5,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 16,4 nghìn tỷ đồng, bằng 88,9% và giảm 42,3%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 5.747 tỷ đồng, bằng 71,2% và tăng 9,3%; Bộ Y tế 2.271 tỷ đồng, bằng 68,7% và giảm 33,5%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 1.105 tỷ đồng, bằng 74,5% và tăng 52,4%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 922 tỷ đồng, bằng 67,9% và tăng 33,7%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 571 tỷ đồng, bằng 76% và tăng 15,8%; Bộ Xây dựng 234 tỷ đồng, bằng 85,8% và giảm 47,3%; Bộ Khoa học và Công nghệ 192 tỷ đồng, bằng 79,4% và tăng 56,6%; Bộ Công Thương 186 tỷ đồng, bằng 84,5% và giảm 13,7%; Bộ Thông tin và Truyền thông 107 tỷ đồng, bằng 80,1% và tăng 18,2%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 232,3 nghìn tỷ đồng, bằng 82,7% kế hoạch năm và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 162,9 nghìn tỷ đồng, bằng 79,4% và tăng 19,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 58,4 nghìn tỷ đồng, bằng 89% và tăng 15,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 11 nghìn tỷ đồng, bằng 107,8% và tăng 9,9%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 11 tháng năm 2018 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 31,9 nghìn tỷ đồng, bằng 83,7% kế hoạch năm và tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 23,2 nghìn tỷ đồng, bằng 64,6% và tăng 23,1%; Quảng Ninh 9,8 nghìn tỷ đồng, bằng 75,8% và tăng 40,5%; Hải Phòng 8,9 nghìn tỷ đồng, bằng 97,3% và tăng 37,1%; Bình Dương 6,9 nghìn tỷ đồng, bằng 86,5% và tăng 11,5%; Đồng Nai 6,1 nghìn tỷ đồng, bằng 84,3% và tăng 26%; Bà Rịa - Vũng Tàu 6 nghìn tỷ đồng, bằng 92% và tăng 42,2%; Thanh Hóa 5,7 nghìn tỷ đồng, bằng 90,7% và tăng 31,7%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/11/2018 thu hút 2.714 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 15.788,4 triệu USD, tăng 18,4% về số dự án và giảm 20,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 1.059 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 7.403,3 triệu USD, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 11 tháng đạt 23.191,7 triệu USD, giảm 16,6% so với cùng kỳ năm 2017. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 11 tháng năm nay ước tính đạt 16,5 tỷ USD, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2017. Trong 11 tháng năm 2018 còn có 5.882 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 7,64 tỷ USD, tăng 44,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 995 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 2,96 tỷ USD và 4.887 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 4,68 tỷ USD.

Trong 11 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 7.433,9 triệu USD, chiếm 47,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5.206,9 triệu USD, chiếm 33%; các ngành còn lại đạt    3.147,6 triệu USD, chiếm 19,9%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 11 tháng năm nay đạt 12.404,5 triệu USD, chiếm 53,5% tổng vốn đăng ký; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5.945,5 triệu USD, chiếm 25,6%; các ngành còn lại đạt 4.841,7 triệu USD, chiếm  20,9%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 2.328 triệu USD, chiếm 30,5% tổng giá trị góp vốn; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1.865,1 triệu USD, chiếm 24,4%; các ngành còn lại đạt 3.451,3 triệu USD, chiếm 45,1%.

Cả nước có 54 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 11 tháng năm nay, trong đó Hà Nội có số vốn đăng ký lớn nhất với 5.020,6 triệu USD, chiếm 31,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bà Rịa - Vũng Tàu 1.796,9 triệu USD, chiếm 11,4%; Bình Dương 952,9 triệu USD, chiếm 6%; Đồng Nai 923,3 triệu USD, chiếm 5,8%; thành phố Hồ Chí Minh 737,7 triệu USD, chiếm 4,7%; Hải Phòng 567,1 triệu USD, chiếm 3,6%; Tây Ninh 448,3 triệu USD, chiếm 2,8%; Ninh Thuận 387,5 triệu USD, chiếm 2,5%; Bắc Ninh 380,2 triệu USD, chiếm 2,4%.

Trong số 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 11 tháng, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 6.055,5 triệu USD, chiếm 38,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 3.418,1 triệu USD, chiếm 21,6%; Xin-ga-po 1.111,1 triệu USD, chiếm 7%; Trung Quốc 892,9 triệu USD, chiếm 5,7%; Thái Lan 857,1 triệu USD, chiếm 5,4%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 711,1 triệu USD, chiếm 4,5%; Pháp 472,5 triệu USD, chiếm 3%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 11 tháng năm nay có 125 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 303,6 triệu USD; 30 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 54 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 11 tháng năm 2018 đạt 357,6 triệu USD, trong đó lĩnh vực tài chính, ngân hàng đạt 105,8 triệu USD, chiếm 29,6% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 68,4 triệu USD, chiếm 19,1%; lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 50,9 triệu USD, chiếm 14,2%. Trong 11 tháng có 35 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là nước dẫn đầu với 97,6 triệu USD, chiếm 27,3% tổng vốn đầu tư; Ô-xtrây-li-a 52,8 triệu USD, chiếm 14,8%; Xlô-va-ki-a 35,9 triệu USD, chiếm 10%.

 

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 11 và 11 tháng năm 2018

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/11/2018

 

    5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/11/2018 ước tính đạt 1.160,1 nghìn tỷ đồng, bằng 87,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa 926,9 nghìn tỷ đồng, bằng 84,3%; thu từ dầu thô 54,3 nghìn tỷ đồng, bằng 151,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 174,9 nghìn tỷ đồng, bằng 97,7%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 128,6 nghìn tỷ đồng, bằng 77,2% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 156,6 nghìn tỷ đồng, bằng 70,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 178,7 nghìn tỷ đồng, bằng 82%; thu thuế thu nhập cá nhân 82,5 nghìn tỷ đồng, bằng 85,2%; thu thuế bảo vệ môi trường 38,3 nghìn tỷ đồng, bằng 78,5%; thu tiền sử dụng đất 102,1 nghìn tỷ đồng, bằng 118,8%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/11/2018 ước tính đạt 1.166,2 nghìn tỷ đồng, bằng 76,6% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 806,8 nghìn tỷ đồng, bằng 85,8%; chi đầu tư phát triển 239,8 nghìn tỷ đồng, bằng 60%; chi trả nợ lãi 93,5 nghìn tỷ đồng, bằng 83,1%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Một ước tính đạt 385 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 288,6 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% và tăng 13,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 47 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% và tăng 8,2%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,4 nghìn tỷ đồng, tăng 0,7% và tăng 3%; doanh thu dịch vụ khác đạt 46 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% và tăng 11,7%. Tính chung 11 tháng năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 4.000,1 nghìn tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,34% (cùng kỳ năm 2017 tăng 9,25%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 11 tháng năm nay ước tính đạt 3.007,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,2% tổng mức và tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 12,7%; may mặc tăng 12,3%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 12,1%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 10,8%; phương tiện đi lại tăng 11,3%. Một số địa phương có mức tăng khá: Thanh Hóa tăng 13,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,2%; Bình Định tăng 12,8%; Thái Nguyên tăng 12,7%; Bắc Giang tăng 12,6%; Hải Dương tăng 12,2%; Nam Định tăng 11,5%; Hà Nội  tăng 11,2%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 11 tháng ước tính đạt 488,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,2% tổng mức và tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bình Định tăng 14%; Nghệ An tăng 12,3%; Tiền Giang tăng 12,2%; Bình Dương tăng 11,6%; Khánh Hòa tăng 10,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,4%; Hà Nội tăng 4,9%.

Doanh thu du lịch lữ hành 11 tháng năm nay ước tính đạt 37 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có mức tăng khá: Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 22,9%; Hải Phòng tăng 19,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 18,6%; Nghệ An tăng 16,4%; Hà Nội tăng 8,6%.

Doanh thu dịch vụ khác 11 tháng ước tính đạt 467,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,7% tổng mức và tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó doanh thu của Đà Nẵng tăng 13%; Thanh Hóa tăng 12,7%; Bình Định tăng 11,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,3%; Hà Nội tăng 6,3%.

 

 
   b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 10/2018 đạt 22.531 triệu USD, cao hơn 1.731 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 746 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 135 triệu USD; giày, dép cao hơn 132 triệu USD; sắt thép cao hơn 115 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 103 triệu USD; gỗ, sản phẩm gỗ và dầu thô cùng cao hơn 45 triệu USD; xăng dầu cao hơn 34 triệu USD; dệt may cao hơn 32 triệu USD; sản phẩm chất dẻo cao hơn 30 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười Một ước tính đạt 21,60 tỷ USD, giảm 4,1% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,89 tỷ USD, giảm 4,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 15,71 tỷ USD, giảm 4%. Kim ngạch xuất khẩu phần lớn các mặt hàng trong tháng giảm so với tháng trước, trong đó sắt thép giảm 30,8%; xăng dầu giảm 12,7%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 8,3%; hàng dệt may giảm 4,8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười Một tăng 7,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 10,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 6,7%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Hóa chất tăng 36,4%; hàng dệt may tăng 20,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 20,2%; phương tiện vận tải và phụ tùng twang 18,9%; điện thoại và linh kiện tăng 2,5%.

Tính chung 11 tháng năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 223,63 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 63,24 tỷ USD, tăng 17,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 160,39 tỷ USD (chiếm 71,7% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 13,4%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 46,1 tỷ USD, tăng 11,5%; hàng dệt may đạt 27,8 tỷ USD, tăng 17,4%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 27 tỷ USD, tăng 13,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 15,1 tỷ USD, tăng 28,6%; giày dép đạt 14,5 tỷ USD, tăng 9,9%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng nông sản, thủy sản cũng tăng khá: Thủy sản đạt 8 tỷ USD, tăng 6,1%; rau quả đạt 3,5 tỷ USD, tăng 11,6%; cà phê đạt 3,3 tỷ USD, tăng 2,9% (lượng tăng 23%); gạo đạt 2,9 tỷ USD, tăng 16,8% (lượng tăng 4,8%). Một số mặt hàng nông sản tuy lượng xuất khẩu tăng nhưng do giá xuất khẩu bình quân giảm nên kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Hạt điều đạt 3,1 tỷ USD, giảm 4,2% (lượng tăng 4,5%); cao su đạt 1,9 tỷ USD, giảm 6,1% (lượng tăng 14,8%); hạt tiêu đạt 720 triệu USD, giảm 32,3% (lượng tăng 9,1%). Riêng dầu thô tính chung 11 tháng tiếp tục giảm mạnh về cả lượng và kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ năm trước: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 2,1 tỷ USD, giảm 20,4% (lượng giảm 42,5%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 11 tháng, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 43,7 tỷ USD, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 49,8%; giày dép tăng 14,6%; hàng dệt may tăng 12,4%. Tiếp đến là EU đạt 38,2 tỷ USD, tăng 8,8%, trong đó hàng dệt may tăng 9,7%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 9,3%; điện thoại và linh kiện tăng 8%. Trung Quốc đạt 38,1 tỷ USD, tăng 23,2%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 57,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 24,8%; rau quả tăng 8,6%. Thị trường ASEAN đạt 22,7 tỷ USD, tăng 14%, trong đó gạo tăng 107,7%; sắt thép tăng 40,7%; hàng dệt may tăng 35,3%. Nhật Bản đạt 17,1 tỷ USD, tăng 11,5%, trong đó hàng dệt may tăng 23,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 13,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 7,7%. Hàn Quốc đạt 16,9 tỷ USD, tăng 24,7%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 40,4%; hàng dệt may tăng 30,4%; điện thoại và linh kiện tăng 14,9%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 10/2018 đạt 21.761 triệu USD, cao hơn 1.061 triệu USD so với số ước tính, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 147 triệu USD; vải cao hơn 103 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 82 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 81 triệu USD; hóa chất cao hơn 67 triệu USD; lúa mỳ cao hơn 64 triệu USD; chất dẻo cao hơn 57 triệu USD; ô tô cao hơn 54 triệu USD; sắt thép cao hơn 36 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Mười Một ước tính đạt 22,0 tỷ USD, tăng 1,1% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,8 tỷ USD, tăng 3,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,2 tỷ USD, giảm nhẹ 0,2%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng so với tháng trước: Xăng dầu tăng 11,6%; xe máy và linh kiện, phụ tùng tăng 4,5%; điện thoại và linh kiện tăng 4%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 3,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 1,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng Mười Một tăng 12,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 13%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,5%. Một số mặt hàng có kim ngạch tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Xe máy và linh kiện, phụ tùng tăng 69,1%; chất dẻo tăng 28,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 14,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 7,2%.

Tính chung 11 tháng, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 216,82 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 86,63 tỷ USD, tăng 12,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 130,19 tỷ USD, tăng 12,3%. Một số mặt hàng có giá trị kim ngạch nhập khẩu lớn trong 11 tháng: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 38,7 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 30,7 tỷ USD, giảm 0,7%; điện thoại và linh kiện đạt 14,4 tỷ USD, giảm 0,8%; vải đạt 11,8 tỷ USD, tăng 13,6%; sắt thép đạt 9,2 tỷ USD, tăng 10,2%; chất dẻo đạt 8,3 tỷ USD, tăng 20,9%; xăng dầu đạt 7,3 tỷ USD, tăng 15,4%; kim loại thường đạt 6,8 tỷ USD, tăng 28,4%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 5,3 tỷ USD, tăng 6,2%; hóa chất đạt 4,7 tỷ USD, tăng 27,8%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 11 tháng, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 59,7 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó xăng dầu tăng 110%; vải tăng 18,7%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng tăng 9,8%; điện thoại và linh kiện tăng 2,6%. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc với kim ngạch nhập khẩu đạt 43,5 tỷ USD, tăng 1,7%, trong đó sắt thép tăng 17,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 14,3%. ASEAN đạt 29 tỷ USD, tăng 13,5%, trong đó ô tô nguyên chiếc tăng 29,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 16,7%; xăng dầu tăng 10,8%. Thị trường Nhật Bản đạt 17,5 tỷ USD, tăng 15,2%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 37,1%; sắt thép tăng 13%. Thị trường EU đạt 12,6 tỷ USD, tăng 14,3%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 24%; vải tăng 22,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 18,6%. Thị trường Hoa Kỳ đạt 11,8 tỷ USD, tăng 38,7%, trong đó thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu tăng 185,7%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 10%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Mười xuất siêu 770 triệu USD[8]Tháng Mười Một ước tính nhập siêu 400 triệu USD. Tính chung 11 tháng xuất siêu 6,8 tỷ USD[9], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 23,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 30,2 tỷ USD.

 

Hàng hóa xuất khẩu tháng 11 và 11 tháng năm 2018

Hàng hóa nhập khẩu tháng 11 và 11 tháng năm 2018

 

     c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11/2018 giảm 0,29% so với tháng trước, trong đó nhóm giao thông giảm nhiều nhất với 1,81% do ảnh hưởng từ đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 6/11/2018 và 21/11/2018 làm giá xăng, dầu giảm 4,1% (tác động CPI chung giảm 0,17%). Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,64% chủ yếu do giá gas giảm 9,18%, giá điện sinh hoạt giảm 0,64% và giá dầu hỏa giảm 0,97%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,14%, trong đó lương thực tăng 0,27% do giá gạo tăng 0,25%; thực phẩm giảm 0,3%[10]. Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,06%. Có 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có CPI tháng Mười Một tăng so với tháng trước: May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,26% do thời tiết miền Bắc chuyển mùa nên nhu cầu mua sắm tăng nhẹ; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,07%; nhóm giáo dục và nhóm văn hóa, giải trí, du lịch đều tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,15%.

CPI bình quân 11 tháng năm 2018 tăng 3,59% so với bình quân cùng kỳ năm 2017; CPI tháng 11/2018 tăng 3,24% so với tháng 12/2017 và tăng 3,46% so với cùng kỳ năm 2017.

Lạm phát cơ bản tháng 11/2018 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 1,72% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 11 tháng năm 2018 tăng 1,46% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

Chỉ số giá vàng tháng 11/2018 tăng 0,98% so với tháng trước; giảm 0,81% so với tháng 12/2017; giảm 0,93% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 11/2018 giảm 0,03% so với tháng trước; tăng 2,77% so với tháng 12/2017 và tăng 2,79% so với cùng kỳ năm 2017.

 

 

d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng Mười Một ước tính đạt 398,6 triệu lượt khách, tăng 1,1% so với tháng trước và 18,3 tỷ lượt khách.km, tăng 1,4%. Tính chung 11 tháng năm 2018, vận tải hành khách đạt 4.238,6 triệu lượt khách, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước và 189,6 tỷ lượt khách.km, tăng 11%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 4.000,2 triệu lượt khách, tăng 10,8% và 131,2 tỷ lượt khách.km, tăng 11,1%; đường thủy nội địa đạt 178,4 triệu lượt khách, tăng 6,9% và 3,4 tỷ lượt khách.km, tăng 7,3%; đường biển đạt 6,8 triệu lượt khách, tăng 7,2% và 405,2 triệu lượt khách.km, tăng 7,5%; đường hàng không đạt khá với 45,1 triệu lượt khách, tăng 11,9% và 51,3 tỷ lượt khách.km, tăng 12,3%; riêng vận tải đường sắt đạt 8,1 triệu lượt khách, giảm 8,7% và 3,3 tỷ lượt khách.km, giảm 3,1%.

Vận tải hàng hóa tháng Mười Một ước tính đạt 141,3 triệu tấn, tăng 1,2% so với tháng trước và 26,8 tỷ tấn.km, tăng 1%. Tính chung 11 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.491,7 triệu tấn, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước và 279,3 tỷ tấn.km, tăng 7,4%, trong đó vận tải trong nước đạt 1.460,8 triệu tấn, tăng 9,9% và 154,1 tỷ tấn.km, tăng 11%; vận tải ngoài nước đạt 30,8 triệu tấn, tăng 2,2% và 125,2 tỷ tấn.km, tăng 3,4%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 1.151,2 triệu tấn, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước và 76,1 tỷ tấn.km, tăng 11,4%; đường thủy nội địa đạt 263,7 triệu tấn, tăng 7,3% và 55,7 tỷ tấn.km, tăng 7,7%; đường biển đạt 71,2 triệu tấn, tăng 6,4% và 142,9 tỷ tấn.km, tăng 5,2%; đường sắt đạt 5,2 triệu tấn, tăng 2,4% và 3,7 tỷ tấn.km, tăng 13,2%; đường hàng không đạt 369,2 nghìn tấn, tăng 18,6% và 976,5 triệu tấn.km, tăng 17,2%.

 

Vận tải hành khách và hàng hoá

 

e) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười Một ước tính đạt 1.301,9 nghìn lượt người, tăng 8% so với tháng trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không tăng 8,6%; đến bằng đường bộ tăng 8%; riêng khách đến bằng đường biển giảm mạnh 53,2% do ảnh hưởng của cơn bão số 8 và số 9 trên biển Đông. So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta tăng 11%, trong đó khách đến từ châu Á tăng 14,9%; từ châu Âu giảm 0,3%; từ châu Mỹ tăng 2,9%; từ châu Úc giảm 4,1%; từ châu Phi tăng 19,8%.

Tính chung 11 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 14.123,6 nghìn lượt người, tăng 21,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 11.397,3 nghìn lượt người, tăng 15,3%; đến bằng đường bộ đạt 2.521,9 nghìn lượt người, tăng 64,4%; đến bằng đường biển đạt 204,4 nghìn lượt người, giảm 11,3%.

Trong 11 tháng, khách đến từ châu Á đạt 10.983,9 nghìn lượt người, chiếm 77,8% tổng số khách du lịch đến nước ta, tăng 25,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 4.560,9 nghìn lượt người, tăng 26,9%; Hàn Quốc 3.160,9 nghìn lượt người, tăng 46,5%; Nhật Bản 756 nghìn lượt người, tăng 3,7%; Đài Loan 649,7 nghìn lượt người, tăng 15,6%; Ma-lai-xi-a 474,8 nghìn lượt người, tăng 13,4%; Thái Lan 306,7 nghìn lượt người, tăng 14,3%; Xin-ga-po 248,6 nghìn lượt người, tăng 3,7%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 1.867,2 nghìn lượt người, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 552,2 nghìn lượt người, tăng 6,8%; Vương quốc Anh 275,6 nghìn lượt người, tăng 5,2%; Pháp 258,7 nghìn lượt người, tăng 9,9%; Đức 195,7 nghìn lượt người, tăng 6,8%; Tây Ban Nha 72,7 nghìn lượt người, tăng 12,9%; Hà Lan 71,4 nghìn lượt người, tăng 7,4%; I-ta-li-a 60,2 nghìn lượt người, tăng 13,1%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 830,7 nghìn lượt người, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 632,3 nghìn lượt người, tăng 12,8%. Khách đến từ châu Úc đạt 403,7 nghìn lượt người, tăng 4,9%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 355,9 nghìn lượt người, tăng 5,4%. Khách đến từ châu Phi đạt 38,2 nghìn lượt người, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm 2017.

 

Khách quốc tế đến Việt Nam

 

7. Một số tình hình xã hội

a) Thiếu đói trong nông dân

Trong tháng Mười Một, cả nước có gần 1,4 nghìn hộ thiếu đói, giảm 86,6% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 6,1 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 85,7%. Tính chung 11 tháng năm nay, cả nước có 104,1 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 40,7% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 415,9 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 42,3%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 7,4 nghìn tấn lương thực và trên 1,6 tỷ đồng.

b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Từ 19/10 đến 18/11/2018, cả nước có 38,4 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 28,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (2 trường hợp tử vong); 67 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 14 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (1 trường hợp tử vong); 7 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu; 40 trường hợp mắc bệnh ho gà; 4 trường hợp mắc liên cầu lợn ở người.

Tính chung 11 tháng năm 2018, cả nước có gần 110,6 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (6 trường hợp tử vong); 100,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (13 trường hợp tử vong); 574 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 703 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (21 trường hợp tử vong); 35 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do mô cầu (2 trường hợp tử vong); 635 trường hợp mắc bệnh ho gà (2 trường hợp tử vong); 76 trường hợp mắc bệnh liên cầu lợn ở người (6 trường hợp tử vong); 69 trường hợp tử vong do bệnh dại.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/11/2018 là 208,7 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 94,3 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98,13 nghìn người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng đã xảy ra 9 vụ làm 610 người bị ngộ độc (1 trường hợp tử vong), trong đó vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra tại trường mầm non ở Đông Anh, Hà Nội làm hơn 200 học sinh và giáo viên bị ngộ độc. Tính chung 11 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 79 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 2.847 người bị ngộ độc (11 trường hợp tử vong).

c) Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 16/10 đến 15/11), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.974 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 1.009 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 965 vụ va chạm giao thông, làm 821 người chết, 601 người bị thương và 956 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Mười Một giảm 11% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 0,3% và số vụ va chạm giao thông giảm 19,9%); số người chết tăng  5,7%; số người bị thương giảm 0,2% và số người bị thương nhẹ giảm 26,8%.

Tính chung 11 tháng năm 2018, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 16.820 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 8.679 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 8.141 vụ va chạm giao thông, làm 7.495 người chết, 4.701 người bị thương và 8.405 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 11 tháng năm nay giảm 8,5% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 2,5%; số vụ va chạm giao thông giảm 14,1%); số người chết giảm 1,4%; số người bị thương tăng 1% và số người bị thương nhẹ giảm 20,2%. Bình quân 1 ngày trong 11 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 50 vụ tai nạn giao thông, gồm 26 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 24 vụ va chạm giao thông, làm 22 người chết, 14 người bị thương và 25 người bị thương nhẹ.

d) Thiệt hại do thiên tai

Thiệt hại thiên tai trong tháng 11/2018 chủ yếu do ảnh hưởng của mưa lũ, giông lốc và sạt lở. Thiên tai đã làm 4 người chết và mất tích, 6 người bị thương; 67 ngôi nhà bị sập đổ và cuốn trôi, 670 ngôi nhà bị hư hỏng; 650 ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng ước tính khoảng 60 tỷ đồng. Tính chung 11 tháng, thiên tai đã làm 189 người chết và mất tích, 140 người bị thương; hơn 1,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và cuốn trôi; 61,8 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng; hơn 175 nghìn ha lúa, hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai trong 11 tháng ước tính khoảng 9 nghìn tỷ đồng.

e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng Mười Một, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.321 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.188 vụ với tổng số tiền phạt 20,5 tỷ đồng. Tính chung 11 tháng đã phát hiện 13.391 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 12.319 vụ với tổng số tiền phạt hơn 191 tỷ đồng.

Trong tháng 11/2018, cả nước xảy ra 377 vụ cháy, nổ, làm 6 người chết và 11 người bị thương, thiệt hại ước tính 45,7 tỷ đồng. Tính chung 11 tháng, cả nước xảy ra 3.753 vụ cháy, nổ, làm 97 người chết và 246 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 1.638 tỷ đồng. Đáng lưu ý, ngày 22/11 đã xảy ra vụ cháy xe bồn đặc biệt nghiêm trọng tại Bình Phước làm nhiều nhà dân bị bốc cháy và 6 người tử vong./.

 

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ



[1] Diện tích gieo cấy lúa mùa của cả nước năm 2018 ước tính đạt 1.683,3 nghìn ha, giảm 28,1 nghìn ha so với vụ mùa năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.104,2 nghìn ha, giảm 29,8 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 579,1 nghìn ha, tăng 1,7 nghìn ha.

[2] 11 tháng năm 2017, ngành khai khoáng giảm 6,2% so với cùng kỳ năm trước; chế biến, chế tạo tăng 13,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7%.

 

[3] Chủ yếu do một số doanh nghiệp trong ngành sản xuất linh kiện điện tử và sản xuất đồ chơi trẻ em gặp khó khăn về hợp đồng sản xuất nên giảm mạnh lao động so với cùng kỳ năm trước.

[4] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[5] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 6,5%; số vốn đăng ký tăng 7,7%.

[6] 11 tháng năm 2017, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 41,9%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 24,3%.

[7] Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể 11 tháng năm nay tăng cao có nguyên nhân do thời gian này các phòng đăng ký kinh doanh trên cả nước đang rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, loại bỏ các doanh nghiệp không còn hoạt động trong thời gian dài.

[8] Ước tính tháng Mười xuất siêu 100 triệu USD.

[9] Trong đó, 11 tháng nhập siêu từ Hàn Quốc 26,6 tỷ USD, giảm 8,9% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 21,6 tỷ USD, giảm 1,5%; nhập siêu từ ASEAN 6,3 tỷ USD, tăng 11,7%; xuất siêu sang Hoa Kỳ 31,9 tỷ USD, tăng 8,1%; xuất siêu sang EU 25,6 tỷ USD, tăng 6,3%.

[10] Chủ yếu do giá thịt lợn giảm 1,3% (tác động CPI chung giảm 0,05%); giá thịt chế biến giảm 0,32%; giá thịt gia cầm tươi sống giảm 0,19%; giá trứng gia cầm các loại giảm 0,92% và rau giảm 0,68%.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018