English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2019

Kinh tế - xã hội nước ta những tháng đầu năm 2019 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại với các yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng. Hoạt động thương mại và đầu tư thế giới giảm, bất đồng giữa các nước lớn về định hình hệ thống thương mại toàn cầu ngày càng sâu sắc. Xu hướng tăng lãi suất, biến động khó lường trên thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế và giá dầu diễn biến phức tạp tác động đến tăng trưởng tín dụng, tâm lý và kỳ vọng thị trường[1]. Xu hướng gia tăng của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ sản xuất, bảo hộ mậu dịch cùng những thay đổi về địa chính trị cũng là thách thức đối với kinh tế thế giới và gây ảnh hưởng tới kinh tế Việt Nam. Trong nước, nhờ những thuận lợi từ kết quả ấn tượng đạt được trong năm 2018, nền kinh tế những tháng đầu năm tiếp tục chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp nhưng cũng đối mặt nhiều khó khăn, thách thức với tăng trưởng chậm lại của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh trên vật nuôi diễn biến phức tạp.

Năm 2019 được Chính phủ xác định là năm “bứt phá” phấn đấu thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 với phương châm hành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, ngày 01/01/2019 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 và Nghị quyết số 02/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021, đồng thời chỉ đạo quyết liệt các ngành, địa phương tập trung thực hiện ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm nhằm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý I năm nay như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2019 ước tính tăng 6,79% so với cùng kỳ năm trước, tuy thấp hơn mức tăng trưởng của quý I/2018 nhưng cao hơn tăng trưởng quý I các năm 2011-2017[2], khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành quyết liệt cùng với sự vào cuộc của các cấp, các ngành, các địa phương trong thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ngay từ những tháng đầu năm 2019. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 4,9% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,63%, đóng góp 51,2%; khu vực dịch vụ tăng 6,5%, đóng góp 43,9%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp tăng 1,84% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng 3,97% của quý I/2018, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 4,2%, do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 5,1%, đạt mức tăng trưởng cao nhất của quý I trong 9 năm trở lại đây[3], đóng góp 0,14 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 8,95% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,14 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế trong quý I/2019 là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 12,35%, tuy thấp hơn mức tăng 14,3% của quý I/2018 nhưng cao hơn mức tăng quý I các năm 2012-2017[4], đóng góp lớn vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm với 2,72 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng quý I năm nay tăng trưởng âm (giảm 2,2%), làm giảm 0,15 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế do sản lượng dầu thô khai thác giảm 10,3% và khí đốt tự nhiên giảm 2,4%. Ngành xây dựng 3 tháng đầu năm nay duy trì mức tăng trưởng khá với 6,68%, đóng góp 0,39 điểm phần trăm.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung với 0,95 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,22%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,71%, đóng góp 0,36 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,75%, đóng góp 0,32 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,16%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 35,25%; khu vực dịch vụ chiếm 44,04%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,55% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2018 là: 10,35%; 35,31%; 43,72%; 10,62%).

Trên góc độ sử dụng GDP quý I, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,09% so với cùng kỳ năm 2018; tích lũy tài sản tăng 6,2%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 6,81%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 8,7%.

 

 
   2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2019 duy trì tăng trưởng khá, khẳng định chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, mặt khác giá bản sản phẩm ổn định cùng với mở rộng thị trường xuất khẩu là động lực chính thúc đẩy sản xuất của khu vực này. Tuy nhiên, dịch tả lợn châu Phi đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tới kết quả sản xuất ngành chăn nuôi trong những tháng tiếp theo. Thủy sản mặc dù đạt mức tăng trưởng cao nhất 9 năm qua nhưng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực đang phải đối mặt với cạnh tranh từ các quốc gia khác, nhất là cá tra và tôm nước lợ.

a) Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước đã gieo trồng được 3.087,2 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,8% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Các địa phương phía Bắc đạt 1.088,4 nghìn ha, bằng 99,6%; các địa phương phía Nam đạt 1.998,8 nghìn ha, bằng 101,4%. Gieo cấy lúa đông xuân tại các địa phương phía Bắc cơ bản hoàn thành, thời tiết nắng ấm cùng nguồn nước tưới dồi dào tạo điều kiện thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, dự báo thời gian tới mưa nhiều, độ ẩm cao sẽ khiến sâu bệnh gây hại trên lúa diễn biến phức tạp, nhất là bệnh đạo ôn, sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy các loại…, ngành nông nghiệp cần theo dõi sát diễn biến tình hình sâu bệnh, xử lý kịp thời các ổ bệnh để không ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa. Tại các địa phương phía Nam, diện tích gieo trồng lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nay đạt 1.601,5 nghìn ha, bằng 101,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích lúa tăng chủ yếu ở Cà Mau với 37,9 nghìn ha do chuyển đổi mùa vụ từ lúa mùa sang lúa đông xuân. Đến nay, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 1.042,6 nghìn ha lúa đông xuân cho thu hoạch, chiếm 65,1% diện tích xuống giống, tăng 64,8% so với cùng kỳ năm 2018 do không bị ảnh hưởng bởi mưa lũ và triều cường như năm trước. Tuy nhiên, nắng nóng kéo dài gây ảnh hưởng tới chất lượng và năng suất của những trà lúa sớm. Sản lượng lúa đông xuân toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long ước tính đạt 10,8 triệu tấn, giảm 37,9 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước; năng suất ước tính đạt 67,4 tạ/ha, giảm 1,5 tạ/ha.

Cũng đến trung tuần tháng Ba, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cơ bản hoàn thành thu hoạch lúa vụ mùa 2018-2019. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, diện tích gieo trồng toàn vùng đạt 171,7 nghìn ha, giảm 25,6 nghìn ha so với vụ lúa mùa trước; năng suất ước tính đạt 46,4 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng đạt 797,2 nghìn tấn, giảm 112,3 nghìn tấn. Việc chuyển đổi diện tích từ gieo trồng lúa mùa sang lúa đông xuân tại tỉnh Cà Mau đã ảnh hưởng tới kết quả sản xuất vụ mùa của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời năng suất lúa giảm do mùa mưa kết thúc sớm, một phần diện tích lúa tôm bị nhiễm mặn dẫn đến sản lượng lúa của tỉnh Cà Mau giảm 206,7 nghìn tấn so với vụ mùa năm trước.

Tính đến giữa tháng Ba, các địa phương trong cả nước đã gieo trồng được 346,8 nghìn ha ngô, bằng 102,9% cùng kỳ năm trước; 62,3 nghìn ha khoai lang, bằng 98,9%; 120,8 nghìn ha lạc, bằng 98,2%; 14,9 nghìn ha đỗ tương, bằng 103,5%; 520,8 nghìn ha rau đậu, bằng 102,8%.

Trong quý I/2019, một số cây công nghiệp lâu năm đã cho thu hoạch, trong đó: sản lượng cao su ước tính đạt 121,5 nghìn tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước; chè búp đạt 86,1 nghìn tấn, tăng 2,6%; hồ tiêu đạt 137,6 nghìn tấn, giảm 1,4%; điều đạt 166,7 nghìn tấn, giảm 8,5%. Sản lượng một số loại cây ăn quả tăng khá: chuối ước tính đạt 528,2 nghìn tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2018; cam đạt 375,3 nghìn tấn, tăng 8,6%; dứa đạt 190,2 nghìn tấn, tăng 6,7%; xoài đạt 185 nghìn tấn, tăng 4,8%.

Đàn trâu cả nước trong tháng Ba tiếp tục giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước do hiệu quả kinh tế không cao, diện tích chăn thả thu hẹp; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng quý I/2019 đạt 26,3 nghìn tấn, tăng 1,8%. Đàn bò phát triển khá với mức tăng trong tháng đạt 3% do thuận lợi về giá cả và thị trường tiêu thụ, người chăn nuôi có lãi ổn định; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng quý I năm nay ước tính đạt 99,2 nghìn tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng sữa bò tươi quý I đạt 252,2 nghìn tấn, tăng 7,3%. Đàn lợn của cả nước tháng Ba tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I đạt 1.012,2 nghìn tấn, tăng 3,2%. Ngành chăn nuôi đang phải đối mặt với diễn biến phức tạp của dịch tả lợn châu Phi đã xâm nhập vào 23 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương[5], người tiêu dùng có xu hướng hạn chế sử dụng thịt lợn làm cho giá thịt lợn hơi giảm trên khắp cả nước. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt, thị trường tiêu thụ ổn định, ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng Ba tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I/2019 đạt 338,3 nghìn tấn, tăng 6,2%; sản lượng trứng gia cầm quý I đạt gần 3,6 tỷ quả, tăng 10,6%.

b) Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào công tác chuẩn bị mặt bằng, cây giống để triển khai trồng rừng theo kế hoạch năm 2019. Trong tháng Ba, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 16,6 nghìn ha, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 996 nghìn m3, tăng 6%.

Tính chung quý I/2019, diện tích rừng trồng tập trung cả nước ước tính đạt 31,9 nghìn ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 15,7 triệu cây, tăng 0,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2.714 nghìn m3, tăng 4,5%, trong đó: Lào Cai tăng 21,7%; Thanh Hóa tăng 7,2%; Quảng Nam tăng 7%. Sản lượng củi khai thác quý I ước tính đạt 3,9 triệu ste, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm 2018.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng 3/2019 là 53,1 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 18,4 ha; diện tích bị chặt phá là 34,7 ha. Tính chung 3 tháng đầu năm, diện tích rừng bị thiệt hại là 98,7 ha, giảm 48,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 22,8 ha, giảm 56,6%; diện tích rừng bị chặt phá là 75,9 ha, giảm 45,4%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý I/2019 ước tính đạt 1.466,7 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.098,7 nghìn tấn, tăng 5,1%; tôm đạt 136,4 nghìn tấn, tăng 5,2%; thủy sản khác đạt 231,6 nghìn tấn, tăng 3,4%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý I ước tính đạt 646,2 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 468,2 nghìn tấn, tăng 5%; tôm đạt 101,9 nghìn tấn, tăng 7,6%. Giá cá tra nguyên liệu trong hai tháng đầu năm duy trì ở mức khá cao nhưng đến tháng Ba có xu hướng giảm[6] do sản lượng cá tra xuất khẩu vào các thị trường chính (Mỹ và Trung Quốc) chậm lại, các doanh nghiệp xuất khẩu hạn chế thu mua, tuy nhiên ở mức giá hiện tại người nuôi vẫn có lãi từ 500-1.000 đồng/kg nên diện tích nuôi mới tiếp tục tăng. Diện tích nuôi cá tra quý I/2019 ước tính đạt 3 nghìn ha, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng cá tra đạt 250,1 nghìn tấn, tăng 7,7%, trong đó Đồng Tháp đạt 98,9 nghìn tấn, tăng 3,9%; An Giang đạt 81,6 nghìn tấn, tăng 11,3%; Cần Thơ đạt 36,4 nghìn tấn, tăng 13%. Nuôi tôm nước lợ đang vào vụ thả nuôi chính trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Sản lượng tôm sú quý I ước tính đạt 43,1 nghìn tấn, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 45,6 nghìn tấn, tăng 8,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác quý I năm nay ước tính đạt 820,5 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 630,5 nghìn tấn, tăng 5,2%; tôm đạt 34,5 nghìn tấn, giảm 1,1%. Thời tiết những tháng đầu năm tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác biển, chi phí hoạt động khai thác ổn định, nhu cầu tiêu thụ hải sản của người dân tăng tạo động lực cho ngư dân vươn khơi bám biển. Ước tính sản lượng thủy sản khai thác biển quý I/2019 đạt 785,1 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 606,1 nghìn tấn, tăng 5,4%; tôm đạt 31,6 nghìn tấn, giảm 0,9%.

 
   3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp quý I/2019 đạt mức tăng trưởng cao, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tuy không bứt phá mạnh mẽ như quý I/2018 nhưng vẫn là điểm sáng, đóng góp chính vào tăng trưởng của khu vực công nghiệp và tăng trưởng của toàn nền kinh tế; riêng ngành khai khoáng tiếp tục xu hướng giảm, khẳng định nền kinh tế đã thoát khỏi sự phụ thuộc vào khai thác khoáng sản và tài nguyên.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 3/2019 ước tính tăng 27,6% so với tháng trước chủ yếu do có số ngày làm việc nhiều hơn (Tháng Hai năm nay trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán). So với cùng kỳ năm trước, IIP tháng Ba tăng 9,1%, trong đó ngành khai khoáng tăng 0,4%; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,8%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 11%.

Tính chung quý I/2019, IIP ước tính tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 12,7% của cùng kỳ năm 2018 nhưng vẫn cao hơn mức tăng  7,4% và 4,8% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt, thúc đẩy tăng trưởng chung của toàn ngành với mức tăng 11,1%, đóng góp 8,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung, tuy nhiên tốc độ tăng này thấp hơn khá nhiều so với mức tăng 15,7% của cùng kỳ năm 2018[7]; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,5%, đóng góp 0,2 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2,1% (chủ yếu do khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 6,2%), làm giảm 0,3 điểm phần trăm mức tăng chung.

Xét theo công dụng sản phẩm công nghiệp, chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) quý I năm 2019 tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 10,6% (sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 9,7% và sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 11%).

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất quý I/2019 tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 96,1%; sản xuất kim loại tăng 37,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 20,8%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 13,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,8%; hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng tăng 11,6%; sản xuất đồ uống tăng 11,4%; khai thác quặng kim loại tăng 10,9%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 3,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 2,9% (cùng kỳ năm trước tăng 29,3%); sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 1,3%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 0,4%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 6,2% (khai thác dầu thô giảm 10,3% và khai thác khí đốt tự nhiên giảm 2,4%); khai khoáng khác (đá, cát, sỏi…) giảm 0,2%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu quý I năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Xăng, dầu tăng 73,2%; sắt, thép thô tăng 64,8%; ti vi tăng 49,3%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 37,8%; ô tô tăng 22,3%; phân u rê tăng 13,1%; sơn hóa học tăng 12,9%; vải dệt từ sợi nhân tạo tăng 12,4%; giày, dép da tăng 11,7%; thức ăn cho thủy sản tăng 10,9%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Điện thoại di động tăng 2,1%; xe máy tăng 2%; thuốc lá điếu tăng 0,4%; thép thanh, thép góc giảm 0,5%; phân hỗn hợp NPK giảm 0,6%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 2,4%; đường kính giảm 5,3%; dầu thô khai thác giảm 10,3%; linh kiện điện thoại giảm 26%.

Trong quý I/2019, chỉ số sản xuất công nghiệp của 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó Thanh Hóa có tốc độ tăng cao nhất với mức tăng 51,2% do Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn mới đi vào sản xuất từ giữa năm 2018; Trà Vinh tăng 40,4% do Công ty Nhiệt điện Duyên hải tăng sản lượng điện sản xuất; Hà Tĩnh tăng 33,8% chủ yếu do đóng góp của Tập đoàn Formosa. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 20,1%; Vĩnh Phúc tăng 11,5%; Quảng Ninh tăng 10%; Hải Dương tăng 9,6%; Quảng Nam tăng 9%; Đồng Nai tăng 7,6%; Bình Dương tăng 7,2%; Hà Nội tăng 6,9%; Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh cùng tăng 6,2%; Thái Nguyên tăng 5,5%; Đà Nẵng tăng 5%. Các địa phương có chỉ số sản xuất công nghiệp giảm so với cùng kỳ năm trước: Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 1,9% do khai thác dầu thô tiếp tục giảm; Hòa Bình và Sơn La giảm lần lượt là 8,9% và 16,8% do sản lượng điện sản xuất giảm; Bắc Ninh giảm 10,5% do sản xuất sản phẩm linh kiện điện thoại giảm mạnh.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2019 tăng 25,6% so với tháng trước và tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2019, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8% so với cùng kỳ năm 2018 (cùng kỳ năm trước tăng 14,2%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 115%; sản xuất kim loại tăng 23,9%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 18,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,6%; sản xuất đồ uống tăng 12,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 10%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Dệt tăng 2,8%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 0,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 0,8%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 4,7%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2019 tăng 15,6% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2018 tăng 13,5%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5,1%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 2,7%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 0,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 4,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 21,9%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 58,2%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng thời điểm năm trước: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 105,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 59,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 42,6%; sản xuất kim loại tăng 42,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 39,1%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 38,7%; sản xuất trang phục tăng 35,9%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân quý I năm 2019 là 72,9% (cùng kỳ năm trước là 68,2%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Dệt 292,9%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa 135,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 95,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) 78,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học 76,8%; sản xuất, chế biến thực phẩm 75,3%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic 75%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/3/2019 tăng 1,4% so cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,3% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,5%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,5%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3,1%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,4%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,2%.

Lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/3/2019 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 7,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 7,4%[8]; Quảng Nam tăng 4,3%; Bình Dương và Vĩnh Phúc cùng tăng 4,1%; Hải Dương tăng 3,9%; Hà Nội và Đồng Nai tăng 1,9%; Quảng Ninh tăng 1,3%; Cần Thơ tăng 0,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,3%; Thái Nguyên giảm 2,3%; Bắc Ninh giảm 10,4% và Đà Nẵng giảm 13,2%[9].

 

4. Hoạt động của doanh nghiệp

Trong quý I/2019, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng cao. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2019 cho thấy đa số các doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định, doanh nghiệp lạc quan với tình hình sản xuất kinh doanh trong quý II/2019 sẽ ổn định và tốt hơn.

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[10]

Trong tháng 3/2019, cả nước có 12.472 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 128,1 nghìn tỷ đồng, tăng 111,4% về số doanh nghiệp và tăng 33,1% về số vốn đăng ký so với tháng trước[11]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 10,3 tỷ đồng, giảm 37%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 153,7 nghìn người, tăng 174,1%. Trong tháng, cả nước còn có 4.877 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 179,2% so với tháng trước; 1.373 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 51,4%; có 1.882 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 8,2%; 960 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 29,1%.

Tính chung quý I năm nay, cả nước có 28.451 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 375,5 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2% về số doanh nghiệp và tăng 34,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018[12]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 13,2 tỷ đồng, tăng 26,9%. Nếu tính cả 722,5 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong quý I năm 2019 là 1.098 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 15.050 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 78,1% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong quý I/2019 lên hơn 43,5 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong quý I/2019 là 317,6 nghìn người, tăng 40,9% so với cùng kỳ năm trước.

Theo lĩnh vực hoạt động, trong quý I/2019 hầu hết các lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Có 10,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có (chiếm 37,4% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), tăng 15,4%; 3,8 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 13,4%), tăng 5,6%; 3,6 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,7%), tăng 10,7%; 2,4 nghìn doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 8,3%), tăng 17,3%; 1,7 nghìn doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 5,9%), tăng 3,9%; 1,5 nghìn doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (chiếm 5,4%), tăng 26,3%... Một số lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước: Dịch vụ lưu trú và ăn uống có 1,3 nghìn doanh nghiệp (chiếm 4,5%), giảm 7,7%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có 290 doanh nghiệp (chiếm 1%), giảm 14,2%; khai khoáng có 128 doanh nghiệp (chiếm 0,4%), giảm 8,6% và vận tải, kho bãi có 1 doanh nghiệp, giảm 99%.

Trong quý I năm nay, hầu hết các vùng kinh tế có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng so với cùng kỳ năm trước: Vùng Đồng bằng sông Hồng có 8,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 11,4% (vốn đăng ký đạt 85,7 nghìn tỷ đồng, tăng 14,6%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 4 nghìn doanh nghiệp, tăng 8,7% (vốn đăng ký 37,3 nghìn tỷ đồng, tăng 3,3%); Tây Nguyên 753 doanh nghiệp, tăng 15% (vốn đăng ký 9,4 nghìn tỷ đồng, tăng 129,3%); Đông Nam Bộ 11,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 3,2% (vốn đăng ký 217,1 nghìn tỷ đồng, tăng 64,7%); Đồng bằng sông Cửu Long 2,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 3% (vốn đăng ký 10,4 nghìn tỷ đồng, giảm 46,9%). Riêng vùng Trung du và miền núi phía Bắc có số doanh nghiệp thành lập mới đạt 1,1 nghìn doanh nghiệp, giảm 6,3% so với cùng kỳ năm trước (vốn đăng ký 15,6 nghìn tỷ đồng, tăng 29%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong quý I năm nay là 14.761 doanh nghiệp, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước. Theo lĩnh vực hoạt động, có 5,8 nghìn doanh nghiệp ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (chiếm 39,1%), tăng 22% so với cùng kỳ năm trước; có 2,2 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 14,6%), tăng 15,5%; 1,8 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,3%), tăng 16,7%; có 906 doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 6,1%), tăng 26,9%; có 873 doanh nghiệp vận tải, kho bãi (chiếm 5,9%), tăng 21,1%; có 724 doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 4,9%), tăng 15,7%... Trong quý I năm nay còn có 15.331 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, trong đó có 8.404 doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu năm 2018 để loại bỏ các doanh nghiệp đã thành lập trước đây nhưng trên thực tế không còn hoạt động, chiếm 54,8% tổng số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể; doanh nghiệp thông báo giải thể là 3.378 doanh nghiệp, chiếm 22% và 3.549 doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể, chiếm 23,2%.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong quý I/2019 là 4.116 doanh nghiệp, tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 3.737 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng (chiếm 90,8% tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể), tăng 23%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 1,7 nghìn doanh nghiệp (chiếm 42,4%), tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo có 421 doanh nghiệp (chiếm 10,2%), giảm 2,8%; xây dựng có 401 doanh nghiệp (chiếm 9,7%), tăng 23,4%.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2019 cho thấy: Có 33,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I năm nay tốt hơn quý trước; 25,8% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 40,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định[13]. Dự kiến quý II/2019 có 54,6% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 10,6% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 34,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đánh giá lạc quan nhất khi có tới 91,3% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý II/2019 tốt hơn và giữ ổn định; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước lần lượt là 86,8% và 88,8%.

Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I/2019, có 59,2% số doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 45% số doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 31,5% số doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn về tài chính; 31,1% số doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu; 28,1% số doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao và 22,3% số doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu là yếu tố quan trọng.

Về khối lượng sản xuất, có 35,1% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý I/2019 tăng so với quý trước; 28% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 36,9% số doanh nghiệp cho rằng ổn định[14]. Xu hướng quý II/2019, có 55,7% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 10,3% số doanh nghiệp dự báo giảm và 34% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

Về đơn đặt hàng, có 31,5% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý I/2019 cao hơn quý trước; 25% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 43,5% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định[15]. Xu hướng quý II/2019, có 51% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng lên; 9,6% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 39,4% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, có 29% số doanh nghiệp có số đơn hàng xuất khẩu quý I/2019 cao hơn quý trước; 21,4% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 49,6% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý II/2019 có 43,3% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 10,2% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 46,5% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới

 
   5. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong quý I/2019 đạt tốc độ tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện cầu tiêu dùng trong dân tăng cao vào những tháng đầu năm. Khách quốc tế đến Việt Nam trong quý I vẫn duy trì số lượng lớn nhưng có dấu hiệm giảm tốc so với cùng kỳ năm trước.

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2019 - tháng sau Tết Nguyên đán ước tính đạt 392,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 301 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% và tăng 13,6%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 46,7 nghìn tỷ đồng, tăng 1,5% và tăng 8,9%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,5 nghìn tỷ đồng, tăng 0,6% và tăng 16,7%; doanh thu dịch vụ khác đạt 41 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% và tăng 5,5%. Tính chung quý I/2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.184,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9% (cùng kỳ năm 2018 tăng 8,9%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa quý I năm nay ước tính đạt 910,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 76,8% tổng mức và tăng khá với mức tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lương thực, thực phẩm tăng 13,5%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 12,7%; may mặc tăng 12,1%; phương tiện đi lại tăng 12,9%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 10,8%. Một số địa phương có mức tăng khá: Trà Vinh tăng 18,2%; Phú Thọ tăng 17,2%; Long An tăng 17,1%; Quảng Nam tăng 15,8%; Bình Dương tăng 15,4%; Hải Phòng tăng 14,4%; Hà Tĩnh tăng 13,9%; Bắc Ninh tăng 13,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,5%; Hà Nội tăng 12,8%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống quý I/2019 ước tính đạt 140 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% tổng mức và tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Hải Phòng tăng 15,6%; Cần Thơ tăng 13,7%; Khánh Hòa tăng 12,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,1%; Hà Nội tăng 9,1%.

Doanh thu du lịch lữ hành quý I/2019 ước tính đạt 11,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% tổng mức và tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bình Định tăng 22,6%; Quảng Ninh tăng 18,4%; Hà Tĩnh và Bình Dương cùng tăng 17,3%; Khánh Hòa tăng 16,1%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 13,8%; Cần Thơ tăng 11%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,6%; Hà Nội tăng 6%.

Doanh thu dịch vụ khác quý I ước tính đạt 123,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,4% tổng mức và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó doanh thu của Quảng Ninh tăng 15,6%; Khánh Hòa tăng 14,3%; Đà Nẵng tăng 13,6%; Hà Nam tăng 9,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,5%; Hà Nội tăng 5,1%.

 

 
   b) Vận tải và viễn thông

Vận tải hành khách tháng Ba ước tính đạt 414,3 triệu lượt khách, tăng 0,1% so với tháng trước và 18,8 tỷ lượt khách.km, tăng 0,6%. Tính chung 3 tháng đầu năm, vận tải hành khách đạt 1.237 triệu lượt khách, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước và 55,7 tỷ lượt khách.km, tăng 10%, trong đó vận tải trong nước đạt 1.232,6 triệu lượt khách, tăng 10,8% và 43,7 tỷ lượt khách.km, tăng 10,9%; vận tải ngoài nước đạt 4,4 triệu lượt khách, tăng 7,6% và 12 tỷ lượt khách.km, tăng 6,8%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 1.168,5 triệu lượt khách, tăng 10,9% và 39 tỷ lượt khách.km, tăng 10,4%; đường thủy nội địa đạt 51,6 triệu lượt khách, tăng 9,9% và 997,1 triệu lượt khách.km, tăng 7%; đường biển đạt 1,9 triệu lượt khách, tăng 8,1% và 116,1 triệu lượt khách.km, tăng 9,1%; đường hàng không đạt 12,9 triệu lượt khách, tăng 9% và 14,6 tỷ lượt khách.km, tăng 10,2%. Riêng vận tải đường sắt đạt 2,1 triệu lượt khách, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước 0,9 tỷ lượt khách.km, giảm 4,8%.

Vận tải hàng hóa tháng Ba ước tính đạt 134,3 triệu tấn, tăng 0,5% so với tháng trước và 25,6 tỷ tấn.km, tăng 1,2%. Tính chung 3 tháng, vận tải hàng hóa đạt 412,2 triệu tấn, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước và 78,1 tỷ tấn.km, tăng 6,5%, trong đó vận tải trong nước đạt 404 triệu tấn, tăng 8,7% và 44,2 tỷ tấn.km, tăng 9,7%; vận tải ngoài nước đạt 8,2 triệu tấn, tăng 1,5% và 33,9 tỷ tấn.km, tăng 2,5%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 317,5 triệu tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước và 21,2 tỷ tấn.km, tăng 8,9%; đường thủy nội địa đạt 73,4 triệu tấn, tăng 6,3% và 15,4 tỷ tấn.km, tăng 5,4%; đường biển đạt 19,9 triệu tấn, tăng 6,4% và 40,4 tỷ tấn.km, tăng 6%; đường sắt đạt 1,3 triệu tấn, giảm 7,9% và 0,8 tỷ tấn.km, giảm 9,9%; đường hàng không đạt 80,3 nghìn tấn, tăng 8,5% và 201,7 triệu tấn.km, tăng 9,1%.

Doanh thu hoạt động viễn thông quý I/2019 ước tính đạt 104 nghìn tỷ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến cuối tháng 3/2019, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 135,3 triệu thuê bao, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó số thuê bao di động là 131,1 triệu thuê bao, tăng 6,1%; thuê bao internet băng thông rộng cố định ước tính đạt 13,9 triệu thuê bao, tăng 15,8%.

 

 
   c) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Ba ước tính đạt 1.410,2 nghìn lượt người, giảm 11,2% so với tháng trước và tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ châu Á tăng 3,6%; từ châu Âu tăng 9,4%; từ châu Úc tăng 7%; từ châu Mỹ tăng 10,5%; từ châu Phi tăng 3,4%. Trong tháng có một số hoạt động thu hút được sự quan tâm lớn của khách nước ngoài như lễ hội Hoa ban 2019, hội chợ du lịch quốc tế VITM, tour du lịch miễn phí dành cho các phóng viên quốc tế tác nghiệp tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều, việc tổ chức tốt công tác hậu cần cho Hội nghị này có ý nghĩa rất lớn trong quảng bá hình ảnh Việt Nam đến bạn bè quốc tế.

Tính chung quý I/2019, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 4.500,1 nghìn lượt người, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 3.516,3 nghìn lượt người, tăng 4,5%; đến bằng đường bộ đạt 908,8 nghìn lượt người, tăng 26,2%; đến bằng đường biển đạt 75 nghìn lượt người, giảm 37,4%.

Trong 3 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến nước ta từ châu Á đạt 3.390,4 nghìn lượt người, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Trung Quốc vẫn là quốc gia có lượng khách đến nước ta nhiều nhất với 1.281,1 nghìn lượt người, chiếm 37,8% tổng số khách châu Á nhưng có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm trước (giảm 5,6%); Hàn Quốc 1.107,8 nghìn lượt người, tăng 24,1%; Nhật Bản 233,4 nghìn lượt người, tăng 8,3%; Đài Loan 207,1 nghìn lượt người, tăng 26%; Ma-lai-xi-a 143,6 nghìn lượt người, tăng 11,1%; Thái Lan 124,6 nghìn lượt người, tăng 49,3%; Xin-ga-po 68,3 nghìn lượt người, tăng 0,7%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 685,2 nghìn lượt người, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khách đến từ Liên bang Nga 215,6 nghìn lượt người, tăng 6,2%; Vương quốc Anh 89,9 nghìn lượt người, tăng 4,7%; Pháp 87,3 nghìn lượt người, tăng 4,1%; Đức 72,2 nghìn lượt người, tăng 6,2%; Thụy Điển 28 nghìn lượt người, tăng 10,4%; I-ta-li-a 22,9 nghìn lượt người, tăng 10,3%; Hà Lan 20,7 nghìn lượt người, tăng 5,4%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 293,5 nghìn lượt người, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 219,7 nghìn lượt người, tăng 7,9%. Khách đến từ châu Úc đạt 119,3 nghìn lượt người, tăng 0,2%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 108,5 nghìn lượt người, bằng cùng kỳ năm trước. Khách đến từ châu Phi đạt 11,7 nghìn lượt người, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2018.

 

 

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/3/2019, tổng phương tiện thanh toán tăng 2,54% so với cuối năm 2018 (cùng kỳ năm 2018 tăng 3,23%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 1,72% (cùng kỳ năm 2018 tăng 2,2%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 1,9% (cùng kỳ năm 2018 tăng 2,23%).

Gần đây một số ngân hàng thương mại có động thái tăng lãi suất kỳ trung hạn và dài hạn nhằm cơ cấu lại nguồn vốn huy động theo yêu cầu của Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Hiện mặt bằng lãi suất huy động đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,5%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,5%-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,5%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,6%-7,3%/năm. Lãi suất cho vay đồng Việt Nam phổ biến khoảng 6%-9%/năm đối với ngắn hạn và 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn. Cơ cấu tín dụng tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh được ưu tiên, các dự án lớn trọng tâm, trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.

Thị trường bảo hiểm 3 tháng đầu năm 2019 duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường quý I/2019 ước tính tăng 17% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 23%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 9%..

2. Đầu tư

Tình hình thực hiện và giải ngân vốn đầu tư trong quý I/2019 chủ yếu tập trung vào hoàn thành công tác phân bổ dự toán đầu năm nguồn vốn đầu tư công, đồng thời đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án chuyển tiếp, công trình trọng điểm. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I/2019 theo giá hiện hành đạt 359,2 nghìn tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,2% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 106,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 29,7% tổng vốn và tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 158 nghìn tỷ đồng, chiếm 44% và tăng 13,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 94,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,3% và tăng 7,5%.

Tốc độ phát triển vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội
quý I các năm 2017-2019 so với cùng kỳ năm trước

(Theo giá hiện hành)

 

%

 

 

Quý I
năm 2017

Quý I      năm 2018

Quý I      năm 2019

Tổng số

109,5

110,0

108,8

Khu vực Nhà nước

105,3

103,0

103,5

Khu vực ngoài Nhà nước

115,0

117,2

113,6

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

107,1

108,1

107,5

 

 

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện quý I/2019 ước tính đạt 50,8 nghìn tỷ đồng, bằng 14,7% kế hoạch năm và tăng 3,2% so với quý I/2018 (cùng kỳ năm trước bằng 14% và tăng 10,3%), gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 6,3 nghìn tỷ đồng, bằng 13,7% kế hoạch năm và giảm 30,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 1.314 tỷ đồng, bằng 17,9% và giảm 58,5%; Bộ Y tế 614 tỷ đồng, bằng 11,6% và tăng 22,9%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 372 tỷ đồng, bằng 11,3% và giảm 55,8%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 159 tỷ đồng, bằng 12,4% và tăng 1,5%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 142 tỷ đồng, bằng 10,8% và giảm 22,6%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 101 tỷ đồng, bằng 13,5% và giảm 11,8%; Bộ Khoa học và Công nghệ 43 tỷ đồng, bằng 14,1% và tăng 46,3%; Bộ Xây dựng 34 tỷ đồng, bằng 13,8% và giảm 1,3%; Bộ Công Thương 30 tỷ đồng, bằng 12,2% và giảm 5,9%; Bộ Thông tin và Truyền thông 20 tỷ đồng, bằng 12,5% và tăng 21,5%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 44,5 nghìn tỷ đồng, bằng 14,9% kế hoạch năm và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 30,2 nghìn tỷ đồng, bằng 14,3% kế hoạch năm và tăng 10,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 11,9 nghìn tỷ đồng, bằng 15,7% và tăng 11,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 2,4 nghìn tỷ đồng, bằng 19,2% và tăng 12,5%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 6.691 tỷ đồng, bằng 13,5% kế hoạch năm và tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 3.012 tỷ đồng, bằng 8,2% và tăng 22,4%; Thanh Hóa 1.649 tỷ đồng, bằng 21,1% và tăng 17,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu 1.479 tỷ đồng, bằng 22,4% và tăng 17,9%; Quảng Ninh 1.373 tỷ đồng, bằng 11,9% và tăng 30,7%; Quảng Nam 1.315 tỷ đồng, bằng 17,7% và tăng 12,6%; Nghệ An 1.291 tỷ đồng, bằng 23,5% và giảm 1%; Vĩnh Phúc 1.265 tỷ đồng, bằng 20,3% và tăng 1,4%; Hải Phòng 1.205 tỷ đồng, bằng 13,3% và tăng 4%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2019 thu hút 785 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 3.821,4 triệu USD, tăng 27% về số dự án và tăng 80,1% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 279 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 1.298,4 triệu USD, giảm 27,5% so với cùng kỳ năm 2018. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 3 tháng đạt 5.119,8 triệu USD, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 3 tháng ước tính đạt 4.120 triệu USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 3 tháng năm 2019 còn có 1.653 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị vốn góp là 5,69 tỷ USD, gấp 3 lần cùng kỳ năm 2018, trong đó có 588 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 4,79 tỷ USD và 1.065 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 0,9 tỷ USD.

Trong 3 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 2.876,5 triệu USD, chiếm 75,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 497,7 triệu USD, chiếm 13%; các ngành còn lại đạt 447,2 triệu USD, chiếm 11,7%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 3 tháng năm nay đạt 4.026,2 triệu USD, chiếm 78,6% tổng vốn đăng ký; ngành hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 505,6 triệu USD, chiếm 9,9%; các ngành còn lại đạt 588 triệu USD, chiếm 11,5%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 4.372,2 triệu USD, chiếm 76,9% tổng giá trị góp vốn; hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 302,7 triệu USD, chiếm 5,3%; các ngành còn lại đạt 1.010,8 triệu USD, chiếm 17,8%.

Cả nước có 39 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 3 tháng đầu năm, trong đó Bắc Ninh có số vốn đăng ký lớn nhất với 455,7 triệu USD, chiếm 11,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bình Dương 329,6 triệu USD, chiếm 8,6%; thành phố Hồ Chí Minh 288,8 triệu USD, chiếm 7,6%; Đà Nẵng 249,8 triệu USD, chiếm 6,5%; Hải Dương 236 triệu USD, chiếm 6,2%; Hải Phòng 223,2 triệu USD, chiếm 5,8%; Tiền Giang 214,4 triệu USD, chiếm 5,6%.

Trong số 42 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong quý I/2019, Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 723,2 triệu USD, chiếm 18,9% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 690,8 triệu USD, chiếm 18,1%[16]; Hàn Quốc 547,3 triệu USD, chiếm 14,3%; Nhật Bản 471,5 triệu USD, chiếm 12,3%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 456,4 triệu USD, chiếm 11,9%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 207,3 triệu USD, chiếm 5,4%; Đài Loan 197,5 triệu USD, chiếm 5,2%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong quý I/2019, cả nước có 24 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đầu tư của phía Việt Nam là 80,4 triệu USD, bên cạnh đó có 8 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 39,6 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) trong quý I năm nay đạt 120 triệu USD, trong đó lĩnh vực hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 67,8 triệu USD, chiếm 56,5% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm đạt 36,1 triệu USD, chiếm 30,1%; lĩnh vực bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 10,7 triệu USD, chiếm 8,9%. Trong quý I/2019 có 18 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, dẫn đầu là Tây Ban Nha với 59,8 triệu USD, chiếm 49,9% tổng vốn đầu tư[17]; tiếp đến là Cam-pu-chia 37,9 triệu USD, chiếm 31,6%; Hoa Kỳ 11 triệu USD, chiếm 9,2%; Trung Quốc 3 triệu USD, chiếm 2,5%; Man-ta 2,3 triệu USD, chiếm 1,9%; Ôx-trây-li-a 1,5 triệu USD, chiếm 1,2%; Nhật Bản 1 triệu USD, chiếm 0,9%...

 

 
    3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2019 ước tính đạt 278,6 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7% dự toán năm, trong đó thu nội địa 221,7 nghìn tỷ đồng, bằng 18,9%; thu từ dầu thô 9,9 nghìn tỷ đồng, bằng 22,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 47 nghìn tỷ đồng, bằng 24,9%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 30 nghìn tỷ đồng, bằng 16,9% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 42,7 nghìn tỷ đồng, bằng 20%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 51 nghìn tỷ đồng, bằng 21,1%; thu thuế thu nhập cá nhân 24,8 nghìn tỷ đồng, bằng 21,9%; thu thuế bảo vệ môi trường 8,3 nghìn tỷ đồng, bằng 12%; thu tiền sử dụng đất 20,5 nghìn tỷ đồng, bằng 22,7%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2019 ước tính đạt 254,5 nghìn tỷ đồng, bằng 15,6% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 192,7 nghìn tỷ đồng, bằng 19,3%; chi đầu tư phát triển 33,5 nghìn tỷ đồng, bằng 7,8%; chi trả nợ lãi 27,7 nghìn tỷ đồng, bằng 22,2%.

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

Xuất khẩu hàng hóa quý I/2019 tuy vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ nhưng tăng thấp (4,7%), trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 9,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,7%. Đáng chú ý, nhiều mặt hàng nông sản, thủy sản chủ lực có kim ngạch xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa quý I/2019 ước tính thặng dư 536 triệu USD nhưng thấp hơn nhiều so với mức 2,7 tỷ USD của cùng kỳ năm 2018.

a) Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 2/2019 đạt 13.905 triệu USD, thấp hơn 695 triệu USD so với số ước tính, trong đó dầu thô thấp hơn 308 triệu USD; hàng dệt may thấp hơn 292 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng thấp hơn 59 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng thấp hơn 55 triệu USD; giày dép thấp hơn 46 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 3/2019 ước tính đạt 22,40 tỷ USD, tăng 61,1% so với tháng trước[18], trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,23 tỷ USD, tăng 69,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 16,17 tỷ USD, tăng 57,9%. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu trong tháng Ba có kim ngạch tăng so với tháng trước: Gỗ và sản phẩm gỗ tăng 124,4%; gạo tăng 119,4%; hàng dệt may tăng 106,4%; thủy sản tăng 69%; giày dép tăng 58,1%; điện thoại và linh kiện tăng 53,1%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 52,6%; dầu thô tăng 51,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba tăng 5,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 7,7%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 4,5%. Một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị tăng: Gỗ và sản phẩm gỗ tăng 23,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 19,9%; hàng dệt may tăng 15,9%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 15,7%; giày dép tăng 13,2%.

Tính chung quý I/2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 58,51 tỷ USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 17,05 tỷ USD, tăng 9,7%, chiếm 29,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 41,46 tỷ USD, tăng 2,7%, chiếm 70,9%.

Trong quý I có 9 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 70,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó một số mặt hàng có giá trị tăng so với cùng kỳ năm trước: Hàng dệt may đạt 7,3 tỷ USD, tăng 13,3%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 6,9 tỷ USD, tăng 9,3%; giày dép đạt 4 tỷ USD, tăng 15,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 3,9 tỷ USD, tăng 5,2%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,3 tỷ USD, tăng 17%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 2,2 tỷ USD, tăng 7,6%; sắt thép đạt 1,1 tỷ USD, tăng 3,6%. Mặc dù, điện thoại và linh kiện có giá trị xuất khẩu lớn nhất đạt 12,1 tỷ USD, chiếm 20,6% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu nhưng giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước; thủy sản đạt 1,7 tỷ USD, giảm 1,4%. Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 97,1%; điện tử, máy tính và linh kiện chiếm 90,8%; giày dép chiếm 77,2%; hàng dệt may 59,3%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản quý I năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước: Rau quả đạt 885 triệu USD, giảm 8,6%; cà phê đạt 830 triệu USD, giảm 23,8% (lượng giảm 15,3%); hạt điều đạt 625 triệu USD, giảm 17,2% (lượng tăng 4,7%); gạo đạt 567 triệu USD, giảm 23,6% (lượng giảm 11,5%); hạt tiêu đạt 189 triệu USD, giảm 14,7% (lượng tăng 18,5%). Riêng cao su đạt kim ngạch xuất khẩu 3 tháng đầu năm 458 triệu USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước (lượng tăng 32%).

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu quý I/2019, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 29,4 tỷ USD, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước; chiếm 50,3% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (giảm 1,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2018), trong đó mặt hàng điện thoại và linh kiện đạt 12,1 tỷ USD, giảm 4,3% và chiếm 20,6%. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 21,2 tỷ USD, tăng 6,7% và chiếm 36,2% (tăng 0,7 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 6,1 tỷ USD, tăng 12,3% và chiếm 10,5% (tăng 0,7 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 1,7 tỷ USD, giảm 1,4% và chiếm 3% (giảm 0,2 điểm phần trăm). 

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu quý I/2019, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 13 tỷ USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 76,9%; hàng dệt may tăng 12,3%; giày dép tăng 8,9%. Tiếp đến là thị trường EU đạt 10,2 tỷ USD, tăng 2,5%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 13,5%; hàng dệt may tăng 9,8%; giày dép tăng 9,7%. Trung Quốc đạt 7,6 tỷ USD, giảm 7,4%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện giảm 2,1%; rau quả giảm 10,8%; điện thoại và linh kiện giảm 69,1%. Thị trường ASEAN đạt 6,3 tỷ USD, tăng 6%, trong đó hàng dệt may tăng 40,5%; sắt thép tăng 8,3%. Nhật Bản đạt 4,7 tỷ USD, tăng 9,4%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 31,9%; hàng dệt may tăng 7,4%. Hàn Quốc đạt 4,7 tỷ USD, tăng 7,7%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 20,1%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 14%; hàng dệt may tăng 6,4%.

b) Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 2/2019 đạt 14.674 triệu USD, thấp hơn 826 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 204 triệu USD; điện thoại và linh kiện thấp hơn 235 triệu USD; vải thấp hơn 270 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba ước tính đạt 21,8 tỷ USD, tăng 48,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 9,1 tỷ USD, tăng 57,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,7 tỷ USD, tăng 42,8%. Kim ngạch nhập khẩu phần lớn các mặt hàng tăng so với tháng trước: Xăng dầu tăng 75,8%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 75,1%; vải tăng 66,8%; sắt thép tăng 66,2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 52,9%; điện thoại và linh kiện tăng 50,3%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 31,5%. So với cùng kỳ năm 2018, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba tăng 14,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 10,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt mức tăng khá 21,7%. Một số mặt hàng có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ô tô tăng 59,2%; sắt thép tăng 23,3%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 19,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 17,5%.

Tính chung quý I/2019, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 57,98 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 24,09 tỷ USD, tăng 13,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,89 tỷ USD, tăng 6%.

Trong quý I có 13 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 69,5% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó một số mặt hàng tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 11,7 tỷ USD (chiếm 20,2% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 8,7 tỷ USD, tăng 15,1%; vải đạt 2,8 tỷ USD, tăng 6,4%; sắt thép đạt 2,3 tỷ USD, tăng 4,1%; chất dẻo đạt 2,2 tỷ USD, tăng 4,1%; ô tô đạt 1,8 tỷ USD, tăng 103,7%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,5 tỷ USD, tăng 7,8%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 1,4 tỷ USD, tăng 8,8%; hóa chất đạt 1,2 tỷ USD, tăng 7%; sản phẩm hóa chất đạt 1,2 tỷ USD, tăng 3,5%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng có giá trị giảm so với cùng kỳ năm 2018: Điện thoại và linh kiện đạt 2,8 tỷ USD, giảm 15,4%; kim loại thường đạt 1,5 tỷ USD, giảm 11%; xăng dầu đạt 1,2 tỷ USD, giảm 47,6%. 

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu quý I, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 53,1 tỷ USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 91,6% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (giảm 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2018), trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 25,6 tỷ USD, tăng 10,5% và chiếm 44,1% (tăng 0,6 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 27,5 tỷ USD, tăng 6,9% và chiếm 47,5% (giảm 0,9 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 4,9 tỷ USD, tăng 12,5% và chiếm 8,4% (tăng 0,3 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu quý I, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 15 tỷ USD, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 49%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 18,4%; vải tăng 7,1%. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 11,8 tỷ USD, tăng 1,1%, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 11,4%; điện thoại và linh kiện tăng 6,2%; sắt thép tăng 5,9%. Thị trường ASEAN đạt 8,2 tỷ USD, tăng 10,1%, trong đó ô tô nguyên chiếc tăng 750,9%; sắt thép tăng 218,7%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 18%. Nhật Bản đạt 4,7 tỷ USD, tăng 5,6%, trong đó vải tăng 29,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 13%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 6,5%. Thị trường EU đạt 3,6 tỷ USD, tăng 18,7%, trong đó ô tô nguyên chiếc tăng 840,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 32,1%. Hoa Kỳ đạt 3 tỷ USD, tăng 11,8%, trong đó thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu tăng 38,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 10,7%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Hai nhập siêu 768 triệu USD[19]; tháng Ba ước tính xuất siêu 600 triệu USD. Tính chung quý I/2019 tiếp tục xuất siêu 536 triệu USD[20] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 2,7 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 7,04 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,57 tỷ USD.

c) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong quý I/2019, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 4,1 tỷ USD, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó dịch vụ du lịch đạt 3 tỷ USD (chiếm 71,2% tổng kim ngạch), tăng 7,3%; dịch vụ vận tải đạt 741 triệu USD (chiếm 17,9%), tăng 1,5%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ quý I ước tính đạt 4,6 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 2,2 tỷ USD (chiếm 47,5% tổng kim ngạch), tăng 8%; dịch vụ du lịch đạt 1,4 tỷ USD (chiếm 31,6%), tăng 6,7%. Nhập siêu dịch vụ trong quý I/2019 là 405 triệu USD, bằng 9,8% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

 

 

5. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2019 giảm 0,21% so với tháng trước, bình quân quý I/2019 CPI tăng 2,63% so với cùng kỳ năm 2018, đây là mức tăng bình quân quý I thấp nhất trong 3 năm gần đây, chủ yếu do tác động của quy luật tiêu dùng sau Tết Nguyên đán, ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại nhiều địa phương trên cả nước, đặc biệt là nhờ sự chủ động điều hành giá xăng dầu, kiên định chính sách tiền tệ linh hoạt giữ vững mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ.

a) Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2019 giảm 0,21% so với tháng trước, trong đó 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm nhiều nhất với 1,42% (lương thực giảm 0,55%[21]; thực phẩm giảm 1,97%[22]), làm CPI chung giảm 0,51%, nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng sau Tết giảm và ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi. Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,17%; văn hóa giải trí và du lịch giảm 0,09%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,08%; bưu chính viễn thông giảm 0,07%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,04%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,03%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng gồm: Giao thông tăng 2,22% do tác động của điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm ngày 2/3/2019 (tác động làm CPI tăng 0,23%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,78% chủ yếu do giá gas trong tháng tăng 4,88%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; giáo dục tăng 0,01%.

CPI bình quân quý I/2019 tăng 2,63% so với bình quân cùng kỳ năm 2018, đây là mức tăng bình quân quý I thấp nhất trong 3 năm trở lại đây[23]; CPI tháng 3/2019 tăng 0,69% so với tháng 12/2018 và tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2018. CPI quý I năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu: (i) Nhu cầu về lương thực, thực phẩm trong những tháng đầu năm tăng lên so với cùng kỳ năm trước[24]; (ii) Giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 3,75%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,85% (tác động làm CPI chung tăng 0,03%); giá nhóm du lịch trọn gói tăng 5,2% và một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt, thép...

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI quý I/2019, có một số yếu tố góp phần kiềm chế CPI: (i) Giá xăng dầu được điều chỉnh giảm làm chỉ số giá xăng dầu giảm 8,22% (tác động làm CPI giảm 0,34%)[25]; (ii) Giá gas điều chỉnh theo giá thế giới làm giá gas trong nước giảm 2,15% (tác động làm CPI giảm 0,03%); (iii) Giá nhóm giáo dục điều chỉnh giảm mức thu học phí theo Nghị quyết số 25/2018/NQ-HĐND ngày 7/12/2018 của Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh góp phần làm CPI chung giảm 0,55%.

Lạm phát cơ bản tháng 3/2019 giảm 0,06% so với tháng trước và tăng 1,84% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân quý I/2019 tăng 1,83% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 3/2019 giảm 0,49% so với tháng trước; tăng 3,3% so với tháng 12/2018 và giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2019 tăng 0,05% so với tháng trước; giảm 0,44% so với tháng 12/2018 và tăng 2,02% so với cùng kỳ năm 2018.

c) Chỉ số giá sản xuất

 Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý I/2019 tăng 0,19% so với quý IV/2018 và tăng 2,60% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 0,94% và tăng 5,94%; sử dụng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,45% và tăng 2,56%; sử dụng cho xây dựng giảm 0,54% và tăng 2,72%.

Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2019 tăng 0,43% so với quý IV/2018 và tăng 3,60% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất nông nghiệp giảm 0,17% và tăng 4,06%; lâm nghiệp tăng 1,55% và tăng 4,33%; thủy sản tăng 2,15% và tăng 2,16%.

 Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý I/2019 giảm 0,54% so với quý IV/2018 và tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 6,77% và giảm 2,58%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,34% và tăng 1,31%; sản phẩm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,18% và tăng 3,39%; nước sạch, xử lý nước thải tăng 1,23% và tăng 3,16%.

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý I/2019 tăng 0,79% so với quý IV/2018 và tăng 2,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 1,1% và tăng 4,32%; lưu trú và ăn uống tăng 1,30% và tăng 2,67%; thông tin và truyền thông tăng 0,06% và tăng 0,43%; giáo dục và đào tạo giảm 0,04% và tăng 7,71%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 1,85% và tăng 0,85%.

d) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I/2019 tăng 3,63% so với quý IV/2018 và tăng 2,88% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,88% và giảm 0,07%; nhóm nhiên liệu giảm 2,97% và tăng 11,18%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 4,29% và tăng 3,01%. Chỉ số giá xuất khẩu quý I của một số mặt hàng: Hàng thủy sản tăng 1,71% so với quý IV/2018 và tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước; than đá tăng 0,32% và tăng 3,11%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 0,99% và tăng 2,73%; điện thoại và thiết bị di động tăng 18,12% và tăng 10,12%.  

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý I/2019 giảm 0,27% so với quý IV/2018 và tăng 1,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu nhóm nông sản, thực phẩm giảm 0,65% và giảm 0,38%; nhóm nhiên liệu giảm 5,4% và tăng 5,13%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 0,01% và tăng 0,94%. Chỉ số giá nhập khẩu quý I của một số mặt hàng: Xăng dầu giảm 5,49% so với quý IV/2018 và tăng 9,76% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 0,27% và tăng 0,21%; sắt, thép giảm 0,63% và tăng 5,50%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 2,15% và tăng 2,44%.

Tỷ giá thương mại hàng hóa[26] quý I/2019 tăng 3,91% so với quý IV/2018 và tăng 1,81% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tỷ giá thương mại của xăng dầu tăng 4,55% và tăng 2,29%; thủy sản tăng 4,37% và tăng 6,50%; sắt, thép tăng 1,16% và giảm 0,04%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 1,36% và tăng 1,90%; rau quả giảm 0,21% và giảm 1,74%.

 

 
   III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý I/2019 ước tính là 55,4 triệu người, giảm 207 nghìn người so với quý trước do trong quý có thời gian nghỉ Tết kéo dài và tăng 331,9 nghìn người so với cùng kỳ năm 2018, trong đó: Lao động nam 29 triệu người, chiếm 52,3% tổng số và lao động nữ 26,4 triệu người, chiếm 47,7%; khu vực thành thị 18,5 triệu người, chiếm 33,3% và khu vực nông thôn 36,9 triệu người, chiếm 66,7%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý I/2019 ước tính đạt 76,6%, giảm 0,6 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,13 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý I/2019 ước tính là 48,8 triệu người, giảm 96,4 nghìn người so với quý trước và tăng 444,2 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động nam 26,6 triệu người, chiếm 54,4% tổng số và lao động nữ 22,2 triệu người, chiếm 45,6%; khu vực thành thị 16,9 triệu người, chiếm 34,7% và khu vực nông thôn là 31,9 triệu người, chiếm 65,3%.

Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý I/2019 ước tính là 54,3 triệu người, bao gồm 19,2 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 35,4% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 15,6 triệu người, chiếm 28,6%; khu vực dịch vụ 19,5 triệu người, chiếm 36%.

Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước quý I/2019 ước tính là 2,0%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,52%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2019 là 2,17%, trong đó khu vực thành thị là 3,11%; khu vực nông thôn là 1,67%[27]. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý I/2019 ước tính là 6,27%, trong đó khu vực thành thị là 10,49%; khu vực nông thôn là 4,64%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I/2019 ước tính là 1,21%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,60%; khu vực nông thôn là 1,53% (tỷ lệ thiếu việc làm của quý I/2018 tương ứng là 1,52%; 0,63%; 1,96%).

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[28] quý I/2019 ước tính là 54,3%, trong đó khu vực thành thị là 45,9%; khu vực nông thôn là 61,3% (tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản quý I/2018 tương ứng là 56,3%; 47,9%; 63,3%).

Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương trong quý I năm 2019 ước tính là 6,9 triệu đồng/tháng, tăng gần 967 nghìn đồng so với quý trước và tăng 1,05 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước, trong đó, thu nhập của lao động nam là 7,3 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 6,5 triệu đồng/tháng, lao động thành thị là 8,2 triệu đồng/tháng, lao động nông thôn là 6,0 triệu đồng/tháng.

Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương của nhóm “Nhà lãnh đạo trong các ngành, các cấp và các đơn vị” là 11,2 triệu đồng/tháng, tăng gần 2 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước; nhóm “Nhà chuyên môn kỹ thuật bậc cao” là 9,4 triệu đồng/tháng, tăng gần 1,4 triệu đồng; nhóm “Lao động giản đơn” là 4,8 triệu đồng/tháng, tăng 844 nghìn.

Thu nhập bình quân tháng từ công việc làm công hưởng lương của lao động có trình độ trên đại học trở lên là gần 13,5 triệu đồng/tháng, tăng 2,6 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước; lao động chưa học xong tiểu học là 5,1 triệu đồng/tháng; lao động chưa từng đi học là 4,3 triệu/tháng.

Thu nhập bình quân tháng từ công việc làm công hưởng lương của lao động có thâm niên công tác từ 3 năm trở lên là 7,4 triệu đồng/tháng; lao động có thâm niên từ 1 đến dưới 3 năm là 6,2 triệu đồng/tháng; lao động mới làm việc chưa được 1 tháng là 3,3 triệu đồng/tháng.

 

 
   2. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Đời sống dân cư những tháng đầu năm 2019 nhìn chung ổn định, thiếu đói trong nông dân giảm đáng kể so với cùng kỳ năm 2018. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, trong quý I, cả nước có 28,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 38,3% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 105,3 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 39,2%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 1,7 nghìn tấn gạo.

Công tác an sinh xã hội được chính quyền các cấp quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí huy động cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 3 tháng đầu năm 3,9 nghìn tỷ đồng, bao gồm: 2,1 nghìn tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách, người có công; 1,2 nghìn tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và khoảng 600 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có 14 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

3. Giáo dục, đào tạo

Ngành giáo dục đào tạo đang tập trung triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới với mục tiêu hiện đại, tinh gọn, đảm bảo chất lượng, gắn với thực tiễn, tạo thuận lợi cho việc thực thi các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non và nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục đại học. Năm học 2018-2019, cả nước có 5.360 nghìn trẻ em bậc mầm non; 8.359 nghìn học sinh tiểu học; 5.603 nghìn học sinh trung học cơ sở; 2.578 nghìn học sinh trung học phổ thông và 11,7 nghìn học sinh trung cấp sư phạm; 44,5 nghìn sinh viên cao đẳng sư phạm; 1.443 nghìn sinh viên đại học chính quy.

Giáo dục nghề nghiệp tiếp tục được đổi mới gắn với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong 3 tháng đầu năm 2019 đã tuyển sinh được 248,8 nghìn người, trong đó 44,8 nghìn người trình độ cao đẳng, trung cấp; 204 nghìn người trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác.

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Ba, cả nước có gần 2,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 15,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (1 trường hợp tử vong);
5 trường hợp viêm màng não do mô cầu; 30
trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút và 25 người bị ngộ độc thực phẩm. Tính chung 3 tháng đầu năm nay, cả nước có hơn 8,5 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (1 trường hợp tử vong); 41,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (2 trường hợp tử vong); 6 trường hợp mắc viêm màng não do mô cầu; 84 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút và 173 người bị ngộ độc thực phẩm (3 người tử vong).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/3/2019 là 209,07 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 95,8 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98,2 nghìn người.

5. Hoạt động văn hóa, thể thao

Trọng tâm của các hoạt động văn hóa 3 tháng đầu năm 2019 là các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Kỷ Hợi và sinh hoạt lễ hội truyền thống ở nhiều địa phương trên cả nước. Các chương trình nghệ thuật chuyên nghiệp, văn nghệ quần chúng, hoạt động văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gian được tổ chức với nội dung phong phú, giàu bản sắc văn hoá dân tộc. Nhiều sự kiện được tổ chức với quy mô lớn và nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân. Hoạt động thông tin, tuyên truyền được tổ chức dưới nhiều hình thức, bảo đảm thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân. Bên cạnh đó, công tác quản lý lễ hội được quan tâm thực hiện nhằm phát huy tính tích cực của lễ hội dân gian và phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc; hoạt động kiểm tra, an ninh trật tự tại các lễ hội được tăng cường và công tác vệ sinh môi trường, thực hiện nếp sống văn minh tại các di tích được đảm bảo. Tuy nhiên, trong thời gian qua hoạt động tín ngưỡng vẫn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục như hiện tượng kinh doanh dịch vụ hàng hóa trong khuôn viên di tích; biến tướng trong hoạt động cúng, dâng sao giải hạn. Trước tình trạng đó, các cơ quan, ban, ngành từ trung ương đến địa phương đã có chỉ đạo kiên quyết, kịp thời nhằm chấn chỉnh, xử lý các hiện tượng nêu trên để đảm bảo an toàn, lành mạnh, đậm nét văn hóa truyền thống của dân tộc, đáp ứng nhu cầu của nhân dân và du khách trên địa bàn cả nước.

Phong trào thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi khắp các địa phương để tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Các hoạt động thể dục, thể thao được tổ chức rộng khắp cả nước, từ các trò chơi dân gian, truyền thống đến các môn thể thao hiện đại nhằm phục vụ tốt nhu cầu thưởng thức, vui chơi, giải trí của các tầng lớp nhân dân và phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương.

6. Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 16/2 đến 15/3), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.208 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 619 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 589 vụ va chạm giao thông, làm 549 người chết, 395 người bị thương và 577 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Ba giảm 9,1% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 14% và số vụ va chạm giao thông giảm 3,3%); số người chết giảm 14,6%; số người bị thương giảm 10,2% và số người bị thương nhẹ giảm 13,9%.

Tính chung 3 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 4.030 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 2.148 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1.882 vụ va chạm giao thông, làm 1.905 người chết, 1.209 người bị thương và 1.932 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 3 tháng giảm 13,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 10,4%; số vụ va chạm giao thông giảm 17,4%); số người chết giảm 11,4%; số người bị thương giảm 0,9% và số người bị thương nhẹ giảm 19,7%. Bình quân 1 ngày trong 3 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 45 vụ tai nạn giao thông, gồm 24 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 21 vụ va chạm giao thông, làm 21 người chết, 13 người bị thương và 22 người bị thương nhẹ.

Mặc dù tình hình tai nạn giao thông trong thời gian gần đây đã có sự cải thiện nhất định nhưng số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra còn nhiều, chủ yếu trên đường bộ. Trong 3 tháng đầu năm 2019, cả nước xảy ra 2.098 vụ tai nạn giao thông đường bộ (chiếm 97,7% tổng số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên), làm 1.875 người chết (chiếm 98,4% tổng số người chết do tai nạn giao thông) và 1.193 người bị thương (chiếm 98,7%). Trong đó, một số vụ tai nạn nghiêm trọng gây thiệt hại lớn về người và tài sản như: Vụ tai nạn tại hầm dẫn đèo Hải Vân giữa xe khách và xe container ngày 18/2 làm 11 người bị thương; vụ tai nạn giữa xe máy và xe ôtô tại Gia Lai ngày 23/2 làm 3 người chết; vụ tai nạn tại bến xe Đồng Tâm, Cà Mau ngày 24/2 làm 1 người chết và 5 người bị thương; vụ tai nạn lật xe container tại Đồng Tháp ngày 23/3 làm 3 người chết; vụ tai nạn tại Vĩnh Phúc ngày 27/3 làm 7 người chết. Nguyên nhân chủ yếu của các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng là do ý thức của người tham gia giao thông chưa cao và người điều khiển phương tiện giao thông không đảm bảo đúng các quy định an toàn khi vận hành, đặc biệt là đối với các loại xe có tải trọng lớn.

7. Thiệt hại do thiên tai 

Thiên tai xảy ra trong tháng Ba tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc và một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long làm 3 người mất tích và 6 người bị thương, hơn 350 ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 4,3 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và tốc mái. Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 37 tỷ đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm, thiên tai làm 8 người chết, mất tích; 15 người bị thương; 4,9 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 265 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; gần 8 nghìn ngôi nhà bị sạt lở và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong quý I ước tính hơn 104 tỷ đồng, trong đó Hà Giang là địa phương chịu thiệt hại nhiều nhất với gần 34 tỷ đồng.

8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng Ba, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.199 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.116 vụ với tổng số tiền phạt hơn 6,2 tỷ đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm đã phát hiện 2.378 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 2.127 vụ với tổng số tiền phạt 22 tỷ đồng.

Trong tháng (từ ngày 16/2 đến ngày 15/3), trên địa bàn cả nước xảy ra 289 vụ cháy, nổ, làm 10 người chết và 19 người bị thương, tài sản thiệt hại ước tính hơn 50 tỷ đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm (từ ngày 16/12/2018 đến ngày 15/3/2019), trên địa bàn cả nước xảy ra 957 vụ cháy, nổ, làm 30 người chết và 57 người bị thương, tài sản thiệt hại ước tính là hơn 154 tỷ đồng.

 

 

Khái quát lại, trong bối cảnh kinh tế thế giới và thương mại hàng hóa toàn cầu suy giảm, bức tranh kinh tế - xã hội Việt Nam quý I năm 2019 tiếp tục có những nét chuyển biến tích cực là nhờ sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước. Nền kinh tế quý I/2019 đạt mức tăng trưởng khá, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Cán cân thương mại hàng hóa duy trì xuất siêu, thu hút khách quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khá. Thị trường trong nước nhìn chung ổn định, cung cầu hàng hóa được bảo đảm. Các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và đạt kết quả nhất định, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng giảm dần. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế nước ta vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế cũng như tiếp tục đối mặt với những thách thức mới: Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp; kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản được xem là thế mạnh trong lĩnh vực xuất khẩu có xu hướng giảm; công nghiệp chế biến, chế tạo khó duy trì tốc độ tăng như cùng kỳ năm trước trong những quý tiếp theo. Thời tiết, hạn hán, dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân. Ngoài ra, với độ mở lớn cùng tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động đan xen nhiều mặt bởi các diễn biến kinh tế quốc tế ngày càng phức tạp, khó lường.

Để thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, trong thời gian tới, các cấp, các ngành và địa phương cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2019 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1/1/2019 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021 và các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, kịp thời tháo gỡ khó khăn, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, dịch vụ công, cắt giảm thực chất các điều kiện kinh doanh đang là rào cản đối với hoạt động của doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh cá thể, tạo động lực cho doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh cá thể phát triển, có chính sách phù hợp phát triển mạnh kinh tế tư nhân.

Hai là, điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá linh hoạt, thận trọng, phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thực hiện lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý vào thời điểm hợp lý để bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2019. Tăng trưởng tín dụng đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, trong đó chú trọng các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ khởi nghiệp; kiểm soát tín dụng ở một số ngành, lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, ngăn ngừa tình trạng bong bóng bất động sản trong năm 2019 và có biện pháp hạn chế tín dụng đen.

Ba là, hoàn thiện môi trường pháp lý, tháo gỡ khó khăn trong thực hiện Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư công để giải ngân kịp thời vốn đầu tư công và thúc đẩy đầu tư tư nhân. Nâng cao kết quả hoạt động mở rộng thương mại quốc tế, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, tăng cường xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là xuất khẩu hàng nông, lâm, thủy sản. Kiểm soát tốt chất lượng hàng hóa, thiết bị nhập khẩu, duy trì cân bằng thương mại bền vững, xây dựng các hàng rào kỹ thuật phù hợp để bảo vệ sản xuất trong nước, thúc đẩy sản xuất phát triển.

Bốn là, ngành nông nghiệp cần tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với thị trường; chuyển đổi linh hoạt diện tích đất lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng và nuôi trồng thủy sản có giá trị cao. Thực hiện các giải pháp kiểm soát dịch bệnh ở gia súc, gia cầm, ổn định sản xuất. Trước mắt tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi, lở mồm long móng ở lợn, xử lý dứt điểm các ổ dịch bệnh, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, không để dịch tiếp tục lây lan, đồng thời chuẩn bị cung ứng đủ giống phục vụ tái đàn sau dịch bệnh và cần có giải pháp bù đắp cho lĩnh vực chăn nuôi lợn. Đối với khả năng dư cung cá tra xuất khẩu trong thời gian tới, cần khuyến cáo người nuôi tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt các quy định của nhà nhập khẩu.

Năm là, khuyến khích nhu cầu tiêu dùng sản phẩm trong nước, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước đối với hàng nhập khẩu, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, nhất là công nghiệp chế biến sâu, chế biến sản phẩm nông nghiệp; công nghiệp phụ trợ, sản xuất hàng tiêu dùng. Tăng cường xúc tiến, quảng bá du lịch, có chính sách, biện pháp thu hút hiệu quả khách du lịch quốc tế, nhất là khách đến từ các thị trường có mức chi tiêu cao, lưu trú dài ngày tại Việt Nam.

Sáu là, thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ



[1] Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã hạ dự báo mức tăng trưởng toàn cầu năm 2019 xuống 3,5%, thấp hơn 0,2 điểm phần trăm so với dự báo 3,7% trước đó, đây là lần đầu tiên IMF hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới kể từ tháng 7/2016. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng hạ mức dự báo thấp hơn 0,2 điểm phần trăm, xuống còn 3,3% cho tăng trưởng kinh tế thế giới 2019. Trong khi đó, ngân hàng Thế giới (WB) chỉ dự báo mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2019 đạt 2,9%.

[2] Tăng trưởng GDP quý I của một số năm: Năm 2011 tăng 5,90%; năm 2012 tăng 4,75%; năm 2013 tăng 4,76%; năm 2014 tăng 5,06%; năm 2015 tăng 6,12%; năm 2016 tăng 5,48%; năm 2017 tăng 5,15%; năm 2018 tăng 7,45%; năm 2019 tăng 6,79%.

[3] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành thủy sản quý I của một số năm: Năm 2011 tăng 2,87%; năm 2012 tăng 4,06%; năm 2013 tăng 2,28%; năm 2014 tăng 4,72%; năm 2015 tăng 3,38%; năm 2016 tăng 1,90%; năm 2017 tăng 3,76%; năm 2018 tăng 4,96%; năm 2019 tăng 5,1%.

[4] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành chế biến, chế tạo quý I của một số năm: Năm 2012 tăng 8,74%; năm 2013 tăng 4,38%; năm 2014 tăng 5,97%; năm 2015 tăng 9,70%; năm 2016 tăng 8,94%; năm 2017 tăng 8,60%; năm 2018 tăng 14,30%; năm 2019 tăng 12,35%.

[5] Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Dương, Hà Nam, Hòa Bình, Điện Biên, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Ninh Bình, Nam Định, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Sơn La, Nghệ An, Bắc Ninh, Thừa Thiên - Huế, Lai Châu, Bắc Giang, Quảng Trị và Vĩnh Phúc.

[6] Giá cá tra hiện dao động từ 23.500-26.000 đồng/kg, thấp hơn mức giá 28.500-30.000 đồng/kg của hai tháng đầu năm.

[7] Quý I/2018, ngành chế biến, chế tạo tăng ấn tượng 15,7% chủ yếu do có sự tăng trưởng đột biến của ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học.

[8] Do một số doanh nghiệp sản xuất bao bì và in ấn, truyền thông tăng số lượng lao động.

[9] Do một số doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử và đồ chơi trẻ em gặp khó khăn về hợp đồng sản xuất nên giảm mạnh lao động.

[10] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[11] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 54,3%; số vốn đăng ký tăng 57,9%.

[12] Quý I/2018, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 2,7%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 1,5%.

[13] Chỉ số tương ứng của quý IV/2018: Có 44,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn quý trước; 16,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 38,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định.               

[14] Chỉ số tương ứng của quý IV/2018: Có 47,9% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp tăng so với quý trước; 16,6% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 35,5% số doanh nghiệp cho rằng ổn định.  

[15] Chỉ số tương ứng của quý IV/2018: Có 40,9% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng cao hơn quý trước; 16,9% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 42,2% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định.                                                                       

[16] Trong đó: Dự án Vinhtex với tổng vốn đầu tư đăng ký 200 triệu USD do Royal Pagoda Private Limited (Xin-ga-po) đầu tư với mục tiêu sản xuất vải và nhuộm vải dệt kim tại Nghệ An; Dự án Nhà máy sản xuất linh kiện hàng không vũ trụ Sunshine với tổng vốn đăng ký 170 triệu USD do Universal Alloy Corporation Asia Pte., Ltd (Xin-ga-po) đầu tư với mục tiêu xây dựng nhà máy sản xuất, gia công và lắp ráp các bộ phận, linh kiện hàng không vũ trụ bằng hợp kim nhôm và composite tại Đà Nẵng.

[17] Dự án công ty cổ phần phát triển công nghệ Vintech đầu tư phát triển các sản phẩm linh kiện và điện thoại thông minh tại Tây Ban Nha với với tổng vốn đầu tư là 59,8 triệu USD.

[18] Do tháng Hai có số ngày làm việc ít hơn (9 ngày nghỉ Tết Nguyên đán).

[19] Ước tính tháng Hai nhập siêu 900 triệu USD.

[20] Trong đó, quý I/2019 xuất siêu sang EU đạt 6,6 tỷ USD, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 7,4 tỷ USD, tăng 35,4%; nhập siêu từ Hàn Quốc 7,1 tỷ USD, giảm 2,8%; nhập siêu từ ASEAN 1,9 tỷ USD, tăng 26,1%.

[21] Chủ yếu do giá gạo giảm 0,65% so với tháng trước.

[22] Chủ yếu do giá thịt lợn trong tháng giảm 5,3% so với tháng trước; giá thủy sản tươi sống giảm 1,51%; giá trứng gia cầm giảm 2,76% và giá rau tươi giảm 1,53%.

[23] Tốc độ tăng CPI bình quân quý I so với bình quân cùng kỳ năm trước của một số năm như sau: Năm 2017 tăng 4,96%; năm 2018 tăng 2,82%; năm 2019 tăng 2,63%

[24] Bình quân quý I năm 2019, chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,18% so với cùng kỳ năm 2018, giá các mặt hàng lương thực tăng 1,15% (đóng góp 0,05% vào mức tăng CPI chung); giá thực phẩm tăng 6,6% (đóng góp 1,49% vào mức tăng CPI chung).

[25] Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm vào ngày 1/1/2019 và giữ ổn định trong tháng 2/2019. Ngày 2/3/2019, giá xăng A95, xăng E5 được điều chỉnh tăng 940 đồng/lít, dầu diesel tăng 960 đồng/lít; dầu hỏa tăng 700 đồng/lít. Tính chung quý I/2019 chỉ số giá xăng dầu giảm 8,22%.

[26] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[27] Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2018 là 2,20%, trong đó khu vực thành thị là 3,12%;
 khu vực nông thôn là 1,74%
.

[28] Lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp bao gồm những người không làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) người làm công ăn lương thuộc khu vực chính thức không được ký hợp đồng lao động hoặc có hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực chính thức và thành viên hợp tác xã không có bảo hiểm xã hội bắt buộc; (ii) chủ cơ sở, lao động tự làm, lao động làm công ăn lương và lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực phi chính thức; (iii) lao động tự làm phục vụ nhu cầu tự tiêu dùng của hộ gia đình và lao động làm thuê trong các hộ gia đình.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2019
  Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2019
  Tình hình kinh tế-xã hội 2 tháng đầu năm 2019
  Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2019
  Tình hình kinh tế - xã hội năm 2018