English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2018

Kinh tế - xã hội nước ta năm 2018 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại và tiềm ẩn yếu tố khó lường. Thương mại toàn cầu tăng chậm hơn dự báo do những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung ngày càng diễn biến phức tạp[1]. Lạm phát toàn cầu những tháng đầu năm có xu hướng tăng cao hơn năm 2017 do giá năng lượng, đặc biệt là giá dầu bình quân tăng mạnh. Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại giữa các nước lớn cùng với xu hướng gia tăng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch có tác động đến sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam và các nước trong khu vực. Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tích cực trong năm 2017, nền kinh tế nước ta cũng đối mặt tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, tác động đến giá lương thực, thực phẩm, ảnh hưởng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát; giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp.

Với phương châm hành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả”, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành và địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, trọng tâm là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2018. Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tiếp tục cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho thành lập và hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức nhiều Hội nghị chuyên đề để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất của các ngành, các địa phương; đẩy mạnh triển khai thực hiện các hiệp định thương mại nhằm tìm kiếm thị trường, thúc đẩy sản xuất trong nước, nỗ lực phấn đấu cao nhất hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2018 tiếp tục chuyển biến tích cực, đạt nhiều kết quả nổi bật như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV năm 2018 ước tính tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,90%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,65% và khu vực dịch vụ tăng 7,61%. Tăng trưởng quý IV/2018 thấp hơn tăng trưởng quý IV/2017 nhưng cao hơn tăng trưởng quý IV các năm 2011-2016[2]. Trên góc độ sử dụng GDP quý IV năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,51% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 9,06%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 10,69%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 9,50%.

GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở về đây[3], khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6%; khu vực dịch vụ tăng 7,03%, đóng góp 42,7%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn 2012-2018[4], khẳng định xu thế chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, mặt khác giá bán sản phẩm ổn định cùng với thị trường xuất khẩu được mở rộng là động lực chính thúc đẩy sản xuất của khu vực này. Trong đó, ngành nông nghiệp tiếp tục khẳng định xu hướng phục hồi rõ nét khi đạt mức tăng 2,89%, là mức tăng cao nhất của giai đoạn 2012-2018[5], đóng góp 0,36 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành thủy sản đạt kết quả khá tốt với mức tăng 6,46%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 6,01% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,05 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp năm 2018 duy trì mức tăng trưởng khá với 8,79%, đóng góp 2,85 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục khẳng định là điểm sáng của khu vực này và là động lực chính của tăng trưởng với mức tăng 12,98%, tuy thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm 2017 nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng các năm 2012-2016[6], đóng góp 2,55 điểm phần trăm. Ngành công nghiệp khai khoáng vẫn tăng trưởng âm (giảm 3,11%), làm giảm 0,23 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế nhưng mức giảm đã được thu hẹp đáng kể so với mức giảm 7,1% của năm trước. Ngành xây dựng năm 2018 duy trì được mức tăng trưởng khá với tốc độ 9,16%, đóng góp 0,65 điểm phần trăm.

Khu vực dịch vụ năm 2018 tăng 7,03%, tuy thấp hơn mức tăng 7,44% của năm 2017 nhưng cao hơn so với các năm 2012-2016[7]. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,51% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực dịch vụ, cũng là ngành có đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,92 điểm phần trăm); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,21%, đóng góp 0,53 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 6,78%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,85%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,33%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm.

Quy mô nền kinh tế năm 2018 theo giá hiện hành đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD, tăng 198 USD so với năm 2017. Về cơ cấu nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,57% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,28%; khu vực dịch vụ chiếm 41,17%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,98% (Cơ cấu tương ứng của năm 2017 là: 15,34%; 33,40%; 41,26%; 10,0%).

Trên góc độ sử dụng GDP năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17% so với năm 2017; tích lũy tài sản tăng 8,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 12,81%.

Chất lượng tăng trưởng kinh tế được cải thiện: Năm 2018, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP đạt 43,50%, bình quân 3 năm 2016-2018 đạt 43,29%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,58% của giai đoạn 2011-2015. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD/lao động, tăng 346 USD so với năm 2017)[8]; năng suất lao động năm 2018 tăng 5,93% so với năm 2017, cao hơn nhiều mức tăng 5,29% của năm 2016 và xấp xỉ mức tăng 6,02% của năm 2017 do lực lượng lao động được bổ sung và số lao động có việc làm năm 2018 tăng cao.

Hiệu quả đầu tư được cải thiện với nhiều năng lực sản xuất mới bổ sung cho nền kinh tế. Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) giảm từ mức 6,42 năm 2016 xuống 6,11 năm 2017 và 5,97 năm 2018, bình quân giai đoạn 2016-2018 hệ số ICOR ở mức 6,17, thấp hơn so với hệ số 6,25 của giai đoạn 2011-2015.

 

Tổng sản phẩm trong nước theo giá hiện hành

Tổng sản phẩm trong nước theo giá so sánh 2010

 
 
    2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp năm 2018 phát triển ổn định và có mức tăng trưởng khá do điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng tích cực, giống lúa mới chất lượng cao đang dần thay thế giống lúa truyền thống, phát triển mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP cho giá trị kinh tế cao.

Diện tích lúa cả năm 2018 ước tính đạt 7,57 triệu ha, giảm 134,8 nghìn ha so với năm trước; năng suất lúa ước tính đạt 58,1 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha. Mặc dù diện tích lúa giảm nhưng năng suất tăng cao nên sản lượng lúa cả năm 2018 ước tính đạt 43,98 triệu tấn, tăng 1,24 triệu tấn so với năm 2017.

Vụ lúa đông xuân năm nay đạt kết quả tốt trên cả nước. Với điều kiện thời tiết thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển, năng suất cao, chi phí thấp nên lợi nhuận thu được của người trồng lúa cao hơn những năm gần đây. Tính chung toàn vụ, cả nước gieo cấy được 3,1 triệu ha lúa, giảm 15 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước do chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất; năng suất lúa đạt 66,4 tạ/ha, tăng 4,1 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 20,6 triệu tấn, tăng 1,19 triệu tấn.

Vụ lúa hè thu năm 2018 cả nước gieo cấy được 2,05 triệu ha, giảm 0,7% so với năm 2017; năng suất đạt 54,6 tạ/ha, tăng 0,6%; sản lượng đạt 11,21 triệu tấn, giảm 0,1%. Sản lượng lúa hè thu của hầu hết các vùng tăng so với năm trước (riêng vùng Duyên hải miền Trung do ảnh hưởng của nắng hạn vào thời điểm gieo cấy và thu hoạch nên sản lượng giảm), trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long năng suất đạt 54,8 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng đạt 8,8 triệu tấn, tăng 15,1 nghìn tấn.

Diện tích lúa thu đông tại Đồng bằng sông Cửu Long năm nay ước tính đạt 732,1 nghìn ha, giảm 78,1 nghìn ha so với năm 2017; năng suất ước tính đạt 53,2 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha; sản lượng đạt 3,9 triệu tấn, giảm 343,2 nghìn tấn. Diện tích gieo trồng lúa thu đông giảm do ảnh hưởng của thời tiết diễn biến phức tạp, lũ đầu nguồn lên nhanh, mưa nhiều làm một số đê bao có nguy cơ bị ngập, có những diện tích không thể xuống giống. Một số địa phương có diện tích và sản lượng giảm mạnh: Long An diện tích giảm 16,5 nghìn ha và sản lượng giảm 48,8 nghìn tấn; Đồng Tháp giảm 16,1 nghìn ha và 89,8 nghìn tấn; An Giang giảm 10,7 nghìn ha và 60,6 nghìn tấn; Hậu Giang giảm 12,1 nghìn ha và 60,2 nghìn tấn.

Vụ mùa năm nay cả nước gieo cấy được 1,68 triệu ha, giảm 28,1 nghìn ha so với vụ mùa năm trước; năng suất ước tính đạt 49,1 tạ/ha, tăng 3,2 tạ/ha; sản lượng ước tính đạt 8,26 triệu tấn, tăng 403 nghìn tấn. Trong đó, diện tích lúa mùa của miền Bắc đạt 1,10 triệu ha, giảm 29,8 nghìn ha so với năm trước, chủ yếu do các địa phương chuyển một phần diện tích trồng lúa sang sử dụng cho mục đích khác[9]; năng suất ước tính đạt 49,4 tạ/ha, tăng 3,2 tạ/ha; sản lượng đạt 5,46 triệu tấn, tăng 217,1 nghìn tấn. Một số địa phương có sản lượng lúa mùa tăng so với năm trước: Thái Bình tăng 91,2 nghìn tấn; Nam Định tăng 51,2 nghìn tấn; Hải Dương tăng 40,1 nghìn tấn; Hà Nam và Ninh Bình cùng tăng trên 21 nghìn tấn. Tại các tỉnh phía Nam, diện tích gieo cấy lúa mùa đạt 579,1 nghìn ha, tăng 1,7 nghìn ha so với năm trước; năng suất ước tính đạt 48,5 tạ/ha, tăng 3,1 tạ/ha; sản lượng đạt 2,81 triệu tấn, tăng 185,9 nghìn tấn.

Kết quả sản xuất hoa màu và một số cây hàng năm: Sản lượng ngô đạt 4,91 triệu tấn, giảm 203,7 nghìn tấn so với năm 2017 do diện tích gieo trồng giảm 60,5 nghìn ha (năng suất ngô tăng 0,7 tạ/ha); sản lượng khoai lang đạt 1,37 triệu tấn, tăng 15,8 nghìn tấn (diện tích giảm 3,9 nghìn ha); mía đạt 17,84 triệu tấn, giảm 519,9 nghìn tấn (diện tích giảm 12 nghìn ha); sản lượng sắn đạt 9,94 triệu tấn, giảm 327,8 nghìn tấn (diện tích giảm 17,3 nghìn ha); lạc đạt 458,7 nghìn tấn, giảm 0,9 nghìn tấn (diện tích giảm 9,9 nghìn ha); đậu tương đạt 80,8 nghìn tấn, giảm 20,9 nghìn tấn (diện tích giảm 15,3 nghìn ha); sản lượng rau các loại đạt 17,09 triệu tấn, tăng 622,5 nghìn tấn (diện tích tăng 23,3 nghìn ha); sản lượng đậu các loại đạt 155 nghìn tấn, giảm 8,1 nghìn tấn (diện tích giảm 7,1 nghìn ha).

Năm 2018, diện tích trồng cây lâu năm ước tính đạt 3.482,3 nghìn ha, tăng 2,3% so với năm 2017, trong đó nhóm cây công nghiệp đạt 2.228,4 nghìn ha, tăng 0,4%; nhóm cây ăn quả đạt 989,4 nghìn ha, tăng 6,6%; nhóm cây lấy dầu đạt 175,4 nghìn ha, tăng 3,3%; nhóm cây gia vị, dược liệu đạt 53,9 nghìn ha, tăng 7,2%; nhóm cây lâu năm khác đạt 35,2 nghìn ha, giảm 0,7%. Trong nhóm cây công nghiệp, diện tích cao su đạt 965,4 nghìn ha, giảm 0,4% so với năm trước[10], sản lượng cả năm đạt 1.141,9 nghìn tấn, tăng 4,3%; hồ tiêu diện tích đạt 149,9 nghìn ha, tăng 0,1%, sản lượng đạt 255,4 nghìn tấn, tăng 1,1%; cà phê diện tích đạt 688,4 nghìn ha, tăng 1,6%, sản lượng đạt 1.626,2 nghìn tấn, tăng 3,1%; điều diện tích đạt 301 nghìn ha, tăng 0,4%, sản lượng đạt 260,3 nghìn tấn, tăng 20,6%; chè diện tích đạt 123,7 nghìn ha, tăng 0,6%, sản lượng chè búp đạt 987,3 nghìn tấn, tăng 1,6%. Nhóm cây ăn quả năm nay đạt sản lượng thu hoạch khá do nhiều cây trồng tăng về diện tích và có thị trường tiêu thụ ổn định. Sản lượng cam, quýt, bưởi đạt 1.697,9 nghìn tấn, tăng 10,9% so với năm trước; xoài đạt 788,5 nghìn tấn, tăng 5,8%; thanh long đạt 1.074,2 nghìn tấn, tăng 12,8%; dứa đạt 674 nghìn tấn, tăng 9,1%; nhãn đạt 541,4 nghìn tấn, tăng 8,4%; vải đạt 380,6 nghìn tấn, tăng 63,6% (chủ yếu do năm trước mất mùa nên sản lượng thấp); chôm chôm đạt 338,7 nghìn tấn, tăng 2,5%.

Chăn nuôi trâu, bò nhìn chung ổn định, nuôi gia cầm đạt khá, chăn nuôi lợn được phục hồi nhanh, nhất là những tháng cuối năm do giá bán sản phẩm tăng nhanh và người chăn nuôi có lãi. Tính đến tháng 12/2018, đàn trâu cả nước giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,7%; đàn lợn tăng 3,2%; đàn gia cầm tăng 6,1%. Sản lượng thịt hơi các loại năm nay đạt khá, trong đó sản lượng thịt trâu đạt 92,1 nghìn tấn, tăng 4,7% so với năm trước (quý IV đạt 23,7 nghìn tấn, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2017); sản lượng thịt bò đạt 334,5 nghìn tấn, tăng 4% (quý IV đạt 80,3 nghìn tấn, tăng 7,2%); sản lượng thịt lợn đạt 3,8 triệu tấn, tăng 2,2% (quý IV đạt 1.072,2 nghìn tấn, tăng 7,1%); sản lượng thịt gia cầm đạt 1,1 triệu tấn, tăng 6,4% (quý IV đạt 276,9 nghìn tấn, tăng 6,9%). Sản lượng trứng gia cầm năm 2018 đạt khá, ước tính đạt 11,6 tỷ quả, tăng 9,5% so với năm 2017 (quý IV đạt 3.262,5 triệu quả, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước); sản lượng sữa bò cả năm 2018 đạt 936 nghìn tấn, tăng 6,2% (quý IV đạt 232,7 nghìn tấn, tăng 4,3%). Tính đến thời điểm 26/12/2018, cả nước không còn dịch tai xanh trên lợn; dịch cúm gia cầm còn ở Quảng Ninh; dịch lở mồm long móng còn ở Bắc Ninh, Hà Nội. Hiện nay bệnh dịch tả lợn Châu Phi vẫn đang diễn biến phức tạp tại một số quốc gia, các cấp các ngành cần chủ động có biện pháp ngăn chặn bệnh dịch xâm nhập vào Việt Nam.

b) Lâm nghiệp

Thời tiết trong năm tương đối thuận lợi cho hoạt động trồng, chăm sóc rừng và khai thác lâm sản. Trong quý IV/2018, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 77,4 nghìn ha, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 26,6 triệu cây, giảm 0,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 3.723 nghìn m3, tăng 7,4%; sản lượng củi khai thác đạt 5 triệu ste, tăng 0,3%.

Năm 2018, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 238,6 nghìn ha, giảm 1,2% so với năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 85,8 triệu cây, giảm 0,3%; sản lượng củi khai thác đạt 23,7 triệu ste, giảm 1,2%; sản lượng gỗ khai thác ước tính đạt 12,8 triệu m3, tăng 9,6%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Quảng Trị tăng 22,1%; Nghệ An tăng 19,4%; Quảng Nam tăng 10,3%; Phú Thọ tăng 10,2%; Quảng Ngãi tăng 9,9%.

Diện tích rừng bị thiệt hại quý IV/2018 là 387,4 ha, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 289,4 ha, gấp 2,2 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 98 ha, giảm 51,7%. Tính chung năm 2018, diện tích rừng bị thiệt hại là 1.283,3 ha, giảm 17,8% so với năm 2017, trong đó diện tích rừng bị cháy là 739,1 ha, tăng 41,7%; diện tích rừng bị chặt phá là 544,2 ha, giảm 47,6%.

c) Thủy sản

Sản xuất thủy sản năm 2018 có nhiều thuận lợi về thời tiết và thị trường tiêu thụ nên tăng trưởng khá. Sản lượng thuỷ sản quý IV/2018 ước tính đạt 2.106,4 nghìn tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.503,5 nghìn tấn, tăng 7,5%; tôm đạt 296,8 nghìn tấn, tăng 5,9%. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng quý IV/2018 ước tính đạt 1.228,2 nghìn tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 840,8 nghìn tấn, tăng 7,5%; tôm đạt 261,4 nghìn tấn, tăng 7,1%. Sản lượng thuỷ sản khai thác quý IV/2018 ước tính đạt 878,2 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ, trong đó cá đạt 662,7 nghìn tấn, tăng 7,6%; tôm đạt 35,4 nghìn tấn, giảm 1,7%.

Tính chung cả năm, tổng sản lượng thuỷ sản ước tính đạt 7.756,5 nghìn tấn, tăng 6,1% so với năm trước, trong đó cá đạt 5.602,8 nghìn tấn, tăng 6,7%; tôm đạt 966,1 nghìn tấn, tăng 7%; thủy sản khác đạt 1.187,6 nghìn tấn, tăng 2,5%.

Hoạt động nuôi trồng thủy sản năm 2018 đạt khá, nhất là nuôi tôm nước lợ và cá tra. Diện tích nuôi trồng thủy sản cả năm ước tính đạt 1.120,6 nghìn ha, tăng 1,7% so với năm trước, trong đó diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh đạt 268,5 nghìn ha, tăng 5%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm nay ước tính đạt 4.153,8 nghìn tấn, tăng 6,7% so với năm 2017, trong đó cá đạt 2.902,5 nghìn tấn, tăng 6,9%; tôm đạt 804,3 nghìn tấn, tăng 8,1%. Nuôi cá tra gặp thuận lợi cả về sản xuất, giá và thị trường tiêu thụ nên thời gian nuôi được rút ngắn, một số hộ nuôi bán thâm canh chuyển sang nuôi thâm canh. Giá cá tra các tháng trong năm tương đối cao và ổn định, bình quân dao động từ 27.000-33.000 đồng/kg. Xuất khẩu cá tra tăng trưởng tốt, đặc biệt là các thị trường lớn và truyền thống như Mỹ, Trung Quốc và EU. Diện tích nuôi cá tra năm 2018 ước tính đạt 22,4 nghìn ha, giảm 0,9% so với năm trước; sản lượng cá tra ước tính đạt 1.418 nghìn tấn, tăng 10,4%. Diện tích nuôi tôm nước lợ năm nay đạt 712,7 nghìn ha, tăng 1,4% so với năm trước, trong đó diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh đạt 142,4 nghìn ha, tăng 2,6%. Sản lượng tôm sú cả năm ước tính đạt 274,3 nghìn tấn, tăng 5,5% so với năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 492,3 nghìn tấn, tăng 10%.

Thời tiết trong năm tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác, đồng thời tàu thuyền đang được cơ cấu lại theo hướng giảm lượng tàu công suất nhỏ, tăng tàu công suất lớn đánh bắt xa bờ nên sản lượng khai thác biển tăng khá. Năm 2018, sản lượng thủy sản khai thác cả nước ước tính đạt 3.602,7 nghìn tấn, tăng 5,3% so với năm 2017, trong đó cá đạt 2.700,3 nghìn tấn, tăng 6,4%, tôm đạt 161,8 nghìn tấn, tăng 1,8%. Sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 3.392,6 nghìn tấn, tăng 5,5%, trong đó cá đạt 2.560 nghìn tấn, tăng 6,8%, tôm đạt 146,4 nghìn tấn, tăng 1,7%.

 

Tiến độ gieo trồng cây nông nghiệp đến ngày 15 tháng 12 năm 2018

Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chủ yếu

Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây công nghiệp hàng năm

Diện tích, sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm

Chăn nuôi tại thời điểm 1/10

Sản phẩm chăn nuôi

Kết quả sản xuất lâm nghiệp

Sản lượng thuỷ sản

  

 

 

 3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng cao trong tháng cuối năm. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 12/2018 ước tính tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 3,2%; ngành chế biến, chế tạo tăng 13,7% do đang là thời điểm các doanh nghiệp tập trung sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019[11]; sản xuất và phân phối điện tăng 11,7%, đạt mức cao nhất kể từ tháng Tám trở lại đây chủ yếu do nhu cầu điện sản xuất và xây dựng tăng so với các tháng trước; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,6%. Tính chung quý IV/2018, IIP ước tính tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 2,6%; ngành chế biến, chế tạo tăng 11,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,5%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,7%.

Tính chung cả năm 2018, IIP ước tính tăng 10,2% so với năm trước (quý I tăng 12,7%; quý II tăng 8,2%; quý III tăng 10,7%; quý IV tăng 9,4%), tuy thấp hơn mức tăng 11,3% của năm 2017 nhưng cao hơn mức tăng các năm 2012-2016[12]. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ chốt, thúc đẩy tăng trưởng chung của toàn ngành với mức tăng 12,3% (quý I tăng 15,7%; quý II tăng 9,6%; quý III tăng 13,1%; quý IV tăng 11,1%), mặc dù thấp hơn mức tăng 14,7% của năm 2017 nhưng cao hơn mức tăng của các năm 2012-2016[13], đóng góp 9,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện đảm bảo cung cấp đủ điện cho sản xuất và tiêu dùng của dân cư với mức tăng 10%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 2% (chủ yếu do khai thác dầu thô giảm 11,3%[14]), làm giảm 0,3 điểm phần trăm mức tăng chung.

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp giai đoạn 2016-2018

    %

 

2016

2017

Ước tính 2018

Toàn ngành công nghiệp

107,4

111,3

110,2

Khai khoáng

93,2

95,9

98,0

Công nghiệp chế biến, chế tạo

111,3

114,7

112,3

Sản xuất và phân phối điện

111,5

108,9

110,0

Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải

108,0

107,1

106,3

 

 

 

Xét theo công dụng sản phẩm công nghiệp, chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) năm 2018 tăng 9% so với năm trước; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 11% (sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 6,5% và sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 13,3%).

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất năm 2018 tăng cao so với năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 65,5%sản xuất kim loại tăng 25,1%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 20%; sản xuất xe có động cơ tăng 16,8%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 14%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,7%; dệt tăng 12,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 11,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 11,3%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,3%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 3,1%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 2,8%; khai thác quặng kim loại tăng 1,6%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,4% (khai thác dầu thô giảm 11,3% và khai thác khí đốt tự nhiên tăng 1,1%).

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2018 tăng cao so với năm 2017: Xăng, dầu tăng 51,2%; sắt, thép thô tăng 43,8%; khí hóa lỏng (LPG) tăng 29,8%; ti vi tăng 24%; Alumin tăng 23,3%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 18,9%; thức ăn cho thủy sản tăng 17,3%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 16,2%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Sữa tươi tăng 2,1%; phân hỗn hợp NPK tăng 1,7%; khí đốt thiên nhiên dạng khí tăng 1,1%; thức ăn cho gia súc tăng 1%; điện thoại di động giảm 1% (điện thoại thông minh giảm 1,3%); dầu thô khai thác giảm 11,3%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2018 của hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều tăng so với năm trước, trong đó Hà Tĩnh là địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất với mức tăng 89% do đóng góp của Tập đoàn Formosa, tiếp theo là Thanh Hóa tăng 34,9% chủ yếu do Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn mới đi vào sản xuất từ giữa năm 2018. Riêng Bà Rịa - Vũng Tàu có chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2018 giảm 0,5% so với năm 2017 do khai thác dầu thô tiếp tục giảm. Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2018 so với năm 2017 của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 25,2%; Vĩnh Phúc tăng 15,2%; Thái Nguyên tăng 12,1%; Hải Dương tăng 10,2%; Bình Dương tăng 9,8%; Đồng Nai tăng 9%; Quảng Ninh tăng 8,9%; Cần Thơ tăng 8,1%; Bắc Ninh và thành phố Hồ Chí Minh cùng tăng 8%; Hà Nội tăng 7,5%; Đà Nẵng tăng 6,7%; Quảng Nam tăng 4,7%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 12/2018 tăng 1,9% so với tháng trước và tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2018, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 12,4% so với năm trước (năm 2017 tăng 10,2%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 60,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 27%; sản xuất kim loại tăng 19%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 16,6%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 16,1%... Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp: Sản xuất thiết bị điện tăng 5,7%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 5,6%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 3,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 2,7%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/12/2018 tăng 14,1% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2017 tăng 9,5%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 2,8%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 1,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại giảm 0,5%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) giảm 5,4%; sản xuất xe có động cơ giảm 11,7%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 19,2% do khối lượng sản xuất một số sản phẩm của ngành sản xuất thiết bị truyền thông giảm mạnh. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 477,7%[15]; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 224,3%[16]; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 83,8%; sản xuất thiết bị điện tăng 78,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 51,4%; sản xuất kim loại tăng 43%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân năm 2018 là 64,4%, đạt mức tồn kho thấp nhất trong những năm gần đây[17]. Một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Dệt 273,7%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) 106,7%; sản xuất, chế biến thực phẩm 73,6%; sản xuất xe có động cơ 73,1%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 71,8%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/12/2018 tăng 2,6% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2017 tăng 5,1%), trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 2,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3,3%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,7% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,8%; ngành sản xuất, phân phối điện bằng thời điểm năm trước; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,4%.

Lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/12/2018 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 9%; Đồng Nai tăng 4,4%; Hải Dương tăng 3,8%; Quảng Ninh tăng 3,3%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 2,9%; Hà Nội tăng 2,2%; Bình Dương tăng 1,8%; Cần Thơ và Quảng Nam cùng tăng 1,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 1%; Thái Nguyên tăng 0,6%; Vĩnh Phúc giảm 3,1%; Bắc Ninh giảm 7,3%[18]; Đà Nẵng giảm 15,6%[19].

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12 và cả năm 2018

Chỉ số sản xuất công nghiệp các quý năm 2018

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp tháng 12 và cả năm 2018

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp các quý năm 2018

Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

 

 

  
 
   
  4. Hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Mười Hai, cả nước có 10.027 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 243,7 nghìn tỷ đồng, giảm 13,8% về số doanh nghiệp và tăng 105,8% về số vốn đăng ký so với tháng trước[20]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 24,3 tỷ đồng, tăng 138,9%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 89,9 nghìn người, giảm 2,5%. Trong tháng, cả nước còn có 3.394 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, thấp hơn 0,3% so với tháng trước; có 9.544 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.895 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 7.649 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), giảm 7,5%; có 1.453 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 6,5%.

Năm 2018, cả nước có 131.275 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.478,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5% về số doanh nghiệp và tăng 14,1% về số vốn đăng ký so với năm 2017[21]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 11,3 tỷ đồng, tăng 10,2%. Nếu tính cả 2.408,8 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong năm 2018 là 3.886,9 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 34.010 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 28,6% so với năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm nay lên gần 165,3 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới năm 2018 là 1.107,1 nghìn người, giảm 4,7% so với năm trước.

Theo lĩnh vực hoạt động, năm 2018 có 46,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy (chiếm 35,3% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), tăng  2,1% so với năm trước; 16,7 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 12,7%), tăng 4,4%; 16,2 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,3%), tăng 0,1%; 10 nghìn doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 7,6%), tăng 6,1%; 7,6 nghìn doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 5,8%), tăng 13,2%; 7,1 nghìn doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (chiếm 5,4%), tăng 40%; 6,9 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,2%), tăng 8,1%; 3,9 nghìn doanh nghiệp vận tải, kho bãi (chiếm 3%), giảm 33,9%...

Trong năm nay, một số vùng kinh tế có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng so với năm trước: Vùng Đồng bằng sông Hồng có 38,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 2,1% (vốn đăng ký đạt 504,1 nghìn tỷ đồng, tăng 64,6%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 18,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 7,2% (vốn đăng ký 164 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3%); Đông Nam Bộ 55,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 4% (vốn đăng ký 624,6 nghìn tỷ đồng, giảm 8,2%); Đồng bằng sông Cửu Long 9,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 3,1% (vốn đăng ký 114,1 nghìn tỷ đồng, tăng 61,5%). Các vùng còn lại có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm so với năm trước: Trung du và miền núi phía Bắc 5,3 nghìn doanh nghiệp, giảm 0,5% (vốn đăng ký 47,2 nghìn tỷ đồng, giảm 12,7%); Tây Nguyên 3,2 nghìn doanh nghiệp, giảm 0,5% (vốn đăng ký 24,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,1%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong năm 2018 là 90.651 doanh nghiệp, tăng 49,7% so với năm trước, bao gồm 27.126 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 25,1% và 63.525 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 63,4%[22]. Theo lĩnh vực hoạt động, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn ở hầu hết các lĩnh vực tăng so với năm trước: Lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 10,7 nghìn doanh nghiệp (chiếm 39,4%), tăng 24,1%; có 4 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 14,8%), tăng 26,5%; 3,3 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,2%), tăng 18,5%; 1,5 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,7%), tăng 29,5%... Đối với các doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 22,4 nghìn doanh nghiệp (chiếm 35,3%), tăng 38,3% so với năm trước; 9,3 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 14,7%), tăng 75,1%; 7,9 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,4%), tăng 77,4%; 3,8 nghìn doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 6%), tăng 101,4%; 3,5 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,5%), tăng 84,9%.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong năm 2018 là 16.314 doanh nghiệp, tăng 34,7% so với năm trước, trong đó 14.880 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,2% và tăng 34,2%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 6,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 32,3% so với năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo có 2,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 39,6%; xây dựng có 1,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 44,4%.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2018 cho thấy: Có 44,7% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV năm nay tốt hơn quý trước; 16,9% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 38,4% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định[23]. Dự kiến quý I/2019 so với quý IV/2018, có 47,3% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 14,9% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 37,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lạc quan nhất khi có tới 88,3% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2019 tốt hơn và giữ ổn định so với quý IV/2018; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngoài Nhà nước lần lượt là 83,2 % và 84%.

Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý IV/2018, có 58,7% số doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 44% số doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 32,9% số doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn về tài chính; 29,8% số doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu; 27,7% số doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao và 22,2% số doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao là yếu tố quan trọng.

Về khối lượng sản xuất, có 47,9% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý IV/2018 tăng so với quý trước; 16,6% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 35,5% số doanh nghiệp cho rằng ổn định[24]. Xu hướng quý I/2019 so với quý IV/2018, có 47,6% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 14,5% số doanh nghiệp dự báo giảm và 37,9% số doanh nghiệp dự báo ổn định. Xu hướng 6 tháng đầu năm 2019 so với 6 tháng cuối năm 2018, có 89,8% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng và ổn định; 10,2% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất giảm.

Về đơn đặt hàng, có 40,9% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý IV/2018 cao hơn quý trước; 16,9% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 42,2% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định[25]. Xu hướng quý I/2019 so với quý IV/2018, có 43,5% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng lên; 14,5% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 42% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định. Số lượng đơn đặt hàng mới được dự báo khả quan hơn trong 6 tháng đầu năm 2019 so với 6 tháng cuối năm 2018 khi có tới 90,8% số doanh nghiệp dự báo tăng và giữ ổn định số lượng đơn đặt hàng; chỉ có 9,2% số doanh nghiệp dự báo giảm.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý IV năm nay so với quý trước, có 34,1% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 16,8% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 49,1% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý I/2019 so với quý IV/2018, có 36,3% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 14,8% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 48,9% số doanh nghiệp dự kiến ổn định. Xu hướng 6 tháng đầu năm 2019 so với 6 tháng cuối năm 2018, có 90,4% số doanh nghiệp dự báo có số đơn đặt hàng xuất khẩu tăng và ổn định; 9,6% số doanh nghiệp dự báo giảm.

 

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới theo lĩnh vực hoạt động

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

  
 
   5. Hoạt động dịch vụ

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động thương mại dịch vụ năm 2018 có mức tăng trưởng khá, sức mua tiêu dùng tăng cao. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Hai ước tính đạt 394,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,1% so với tháng trước và tăng 12,7% so với năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 296,5 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9% và tăng 13,1%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 49,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% và tăng 11,1%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3% và tăng 3,2%; doanh thu dịch vụ khác đạt 44,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2% và tăng 12,8%. Trong quý IV năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.161,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,4% so với quý trước và tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 873,9 nghìn tỷ đồng, tăng 4,7% và tăng 13,7%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 143,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,7% và tăng 11,3%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 10,7 nghìn tỷ đồng, tăng 1,2% và tăng 7,2%; doanh thu dịch vụ khác đạt 133,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,6% và tăng 10%. Tính chung cả năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 4.395,7 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với năm trước (năm 2017 tăng 11%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,4% (năm 2017 tăng 9,3%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2018 ước tính đạt 3.306,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,2% tổng mức và tăng 12,4% so với năm trước, trong đó doanh thu một số ngành hàng tăng: Đá quý, kim loại quý tăng 13,8%; hàng gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,7%; lương thực, thực phẩm tăng 12,6%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 12,3%; may mặc tăng 12,1%; phương tiện đi lại tăng 11,1%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 10,5%. Một số địa phương có mức tăng khá: Vĩnh Phúc tăng 14,9%; Hải Phòng tăng 13,9%; Thanh Hóa tăng 13,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,2%; Nghệ An tăng 13%; Hà Nội tăng 11%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2018 ước tính đạt 539,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,3% tổng mức và tăng 9,1% so với năm 2017. Một số địa phương có doanh thu tăng khá: Hải Phòng tăng 16%; Bình Định tăng 14,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 13,4%; Tiền Giang tăng 13%; Lâm Đồng tăng 11,3%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,4%; Hà Nội tăng 7,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành năm nay ước tính đạt 41 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 14,1% so với năm trước. Nhu cầu du lịch trong và ngoài nước cùng với lượng khách quốc tế đến nước ta tăng mạnh góp phần tăng doanh thu cho hoạt động du lịch lữ hành. Một số địa phương có doanh thu tăng khá: Hải Phòng tăng 21,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 17,8%; Bình Định tăng 16,2%; Kiên Giang tăng 14,8%; Quảng Bình tăng 11,1%; Khánh Hòa tăng 8,8%; Hà Nội tăng 7,9%.

Doanh thu dịch vụ khác năm 2018 ước tính đạt 509,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% tổng mức và tăng 9,8% so với năm 2017, trong đó doanh thu của một số địa phương như sau: Thanh Hóa tăng 12,7%; Đà Nẵng tăng 12,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,4%; Kiên Giang tăng 10,9%; Quảng Ninh tăng 10,4%; Quảng Bình tăng 10%; Thái Nguyên tăng 9,2%; Thừa Thiên - Huế tăng 8,5%; Hà Nội tăng 6,9%.

 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12 và năm 2018

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng các quý năm 2018

 

  
   b) Vận tải và viễn thông

Vận tải hành khách tháng Mười Hai ước tính đạt 402,9 triệu lượt khách, tăng 1,1% so với tháng trước và 17,5 tỷ lượt khách.km, tăng 1,4%. Vận tải hành khách quý IV năm nay đạt 1195,6 triệu lượt khách, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước và 52,9 tỷ lượt khách.km, tăng 11%. Tính chung cả năm 2018, vận tải hành khách đạt 4.641,5 triệu lượt khách, tăng 10,7% so với năm trước và 207,1tỷ lượt khách.km, tăng 10,9%, trong đó vận tải trong nước đạt 4624,7 triệu lượt khách, tăng 10,7% và 159,8 tỷ lượt khách.km, tăng 11%; vận tải ngoài nước đạt 16,8 triệu lượt khách, tăng 11,2% và 47,3 tỷ lượt khách.km, tăng 10,7%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hành khách đường bộ năm 2018 đạt 4.380,9 triệu lượt khách, tăng 10,9% và 143,8 tỷ lượt khách.km, tăng 11,2%; đường thủy nội địa đạt 195,7 triệu lượt khách, tăng 7,1% và 3,7 tỷ lượt khách.km, tăng 7,4%; đường biển đạt 7,4 triệu lượt khách, tăng 7,4% và 444,5 triệu lượt khách.km, tăng 7,8%; vận tải bằng đường hàng không tăng khá, đạt 48,9 triệu lượt khách, tăng 11,2% và 55,6 tỷ lượt khách.km, tăng 11,6%; vận tải đường sắt do giá vé chưa cạnh tranh được với hàng không giá rẻ và vận tải ô tô đường bộ nên cả năm 2018 chỉ đạt 8,5 triệu lượt khách, giảm 9,8% so với năm trước3,5 tỷ lượt khách.km, giảm 4%.

Vận tải hàng hóa tháng Mười Hai ước tính đạt 143,1 triệu tấn, tăng 1,2% so với tháng trước và 27,1 tỷ tấn.km, tăng 1,3%. Vận tải hàng hóa quý IV/2018 ước tính đạt 423,3 triệu tấn, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước và 80 tỷ tấn.km, tăng 7,1%. Tính chung cả năm 2018, vận tải hàng hóa đạt 1.634,7 triệu tấn, tăng 10% so với năm trước và 306,4 tỷ tấn.km, tăng 7,6%, trong đó vận tảitrong nước đạt 1.601,2 triệu tấn, tăng 10,1% và 170 tỷ tấn.km, tăng 10,8%; vận tải ngoài nước đạt 33,5 triệutấn, tăng 2,5% và 136,4 tỷ tấn.km, tăng 3,8%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 1.261,7 triệu tấn, tăng 10,8% và 83,4 tỷ tấn.km, tăng 11,2% so với năm trước; đường thủy nội địa đạt 288,8 triệu tấn, tăng 7,5% và 61,1 tỷ tấn.km, tăng 7,8%; đường biển đạt 78 triệu tấn, tăng 6,6% và 156,8 tỷ tấn.km, tăng 5,5%; đường sắt đạt 5,7 triệu tấn, tăng 2,2% và 4 tỷ tấn.km, tăng 11,3%; đường hàng không đạt 405 nghìn tấn, tăng 22,1% và 1068,9 triệu tấn.km, tăng 20,3%.

Doanh thu hoạt động viễn thông quý IV/2018 ước tính đạt 107,4 nghìn tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước; tính chung cả năm 2018 đạt 395,8 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3% so với năm 2017. Tính đến cuối năm 2018, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 129,9 triệu thuê bao, tăng 2,3% so với năm trước, trong đó số thuê bao di động đạt 125,6 triệu thuê bao, tăng 3,8%; số thuê bao internet băng rộng cố định ước tính đạt gần 13 triệu thuê bao, tăng 19,2%.

   c) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười Hai ước tính đạt 1.374,2 nghìn lượt người, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý IV/2018, khách quốc tế đến nước ta đạt 3881,3 nghìn lượt người, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước. Cả năm 2018, khách quốc tế đến nước ta đạt mức kỷ lục 15,5 triệu lượt người, tăng 19,9% so với năm trước (tăng hơn 2,6 triệu lượt khách); trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 12,5 triệu lượt người, tăng 14,4%; đến bằng đường bộ đạt 2,8 triệu lượt người, tăng 59,6%; đến bằng đường biển đạt 215,3 nghìn lượt người, giảm 16,8%.

Trong năm nay, khách đến nước ta từ châu Á đạt 12.075,5 nghìn lượt người, tăng 23,7% so với năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 4.966,5 nghìn lượt người, tăng 23,9%; Hàn Quốc 3.485,4 nghìn lượt người, tăng 44,3%; Nhật Bản 826,7 nghìn lượt người, tăng 3,6%; Đài Loan 714,1 nghìn lượt người, tăng 15,9%; Ma-lai-xi-a 540,1 nghìn lượt người, tăng 12,4%; Thái Lan 349,3 nghìn lượt người, tăng 15,8%; Xin-ga-po 286,2 nghìn lượt người, tăng 3,1%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 2.037,9 nghìn lượt người, tăng 8,1% so với năm 2017, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 606,6 nghìn lượt người, tăng 5,7%; Vương quốc Anh 298,1 nghìn lượt người, tăng 5,1%; Pháp 279,7 nghìn lượt người, tăng 9,5%; Đức 214 nghìn lượt người, tăng 7,1%; Hà Lan 77,3 nghìn lượt người, tăng 6,9%; Tây Ban Nha 77,1 nghìn lượt người, tăng 10,8%; I-ta-li-a 65,6 nghìn lượt người, tăng 13%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 903,8 nghìn lượt người, tăng 10,6% so với năm 2017, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 687,2 nghìn lượt người, tăng 11,9%. Khách đến từ châu Úc đạt 437,8 nghìn lượt người, tăng 4%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 386,9 nghìn lượt người, tăng 4,5%. Khách đến từ châu Phi đạt 42,8 nghìn lượt người, tăng 19,2% so với năm 2017.

Hoạt động du lịch trong năm 2018 đạt được kết quả ấn tượng với số khách du lịch quốc tế đến nước ta đạt mức kỷ lục 15,5 triệu lượt người. Ngành du lịch đã có nhiều chính sách, biện pháp nhằm thu hút khách du lịch, tăng cường xúc tiến quảng bá, giới thiệu du lịch Việt Nam tại những thị trường trọng điểm như Ôx-trây-li-a, Nhật Bản, các nước châu Âu, ASEAN (Thái Lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a); miễn thị thực cho công dân các nước Tây Âu[26] từ năm 2018 đến năm 2021(thay vì miễn từng năm một như trước); thí điểm cấp visa điện tử cho 40 nước và vùng lãnh thổ; tham gia các hội chợ du lịch quốc tế, tổ chức đón các đoàn đến khảo sát du lịch Việt Nam.

 

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và năm 2018

Khách quốc tế đến Việt Nam các quý năm 2018

 

  
   II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/12/2018, tổng phương tiện thanh toán tăng 11,34% so với cuối năm 2017 (cùng kỳ năm 2017 tăng 14,19%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 11,56% (cùng kỳ năm 2017 tăng 14,5%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 13,30% (cùng kỳ năm 2017 tăng 16,96%).

Mặc dù gần đây một số ngân hàng thương mại đã có động thái tăng lãi suất huy động để cân đối nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu thanh toán và dự phòng chi trả trong mùa vụ kinh doanh cao điểm nhất của năm nhưng với mức độ tăng nhỏ và không thể hiện xu hướng tăng của thị trường. Hiện mặt bằng lãi suất huy động đồng Việt Nam phổ biến ở mức 4,3%-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn dưới 6 tháng; mức 5,3%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,5%-7,3%/năm. Lãi suất cho vay đồng Việt Nam phổ biến khoảng 6%-9%/năm đối với ngắn hạn và 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn. Nhìn chung, cơ cấu tín dụng tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh được ưu tiên, các dự án lớn trọng tâm, trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.

Thị trường bảo hiểm năm 2018 tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao. Ước tính doanh thu bảo hiểm quý IV tăng 22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 26%; bảo hiểm phi nhân thọ tăng 13%. Tính chung cả năm 2018, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước tính đạt 133,7 nghìn tỷ đồng, tăng 24% so với năm trước, trong đó bảo hiểm nhân thọ đạt 88 nghìn tỷ đồng, tăng 32,8% và bảo hiểm phi nhân thọ đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 9,9%. Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục tăng trưởng ổn định. Tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm ước tính đạt 384,2 nghìn tỷ đồng, tăng 21,1% so với năm trước; vốn đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm đạt 319,6 nghìn tỷ đồng, tăng 29,5%.

2. Đầu tư phát triển

Tình hình thực hiện và giải ngân vốn đầu tư trong quý IV/2018 tiếp tục xu hướng tích cực. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý IV/2018 theo giá hiện hành ước tính đạt 606,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn khu vực Nhà nước tăng 4,7%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 19,7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 11,4%.

Nhìn chung cả năm 2018, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khá. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục có sự phát triển mạnh mẽ nhờ chính sách ưu đãi, hỗ trợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, đưa tốc độ vốn đầu tư cả năm của khu vực này tăng dần qua các năm. Tính chung cả năm 2018, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành ước tính đạt 1.856,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,2% so với năm trước và bằng 33,5% GDP, bao gồm:Vốn khu vực Nhà nước đạt 619,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,3% tổng vốn và tăng 3,9% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 803,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 43,3% và tăng 18,5%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 434,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,4% và tăng 9,6%.

Tốc độ phát triển vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện

các năm 2016-2018 so với năm trước

(Theo giá hiện hành)

%

 

Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018

Tổng số

108,9

112,3

111,2

Khu vực Nhà nước

107,3

106,9

103,9

Khu vực ngoài Nhà nước

109,5

117,1

118,5

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

110,4

112,8

109,6

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2018 ước tính đạt 324,9 nghìn tỷ đồng, bằng 92,3% kế hoạch năm và tăng 12,5% so với năm trước (Năm 2017 bằng 93,9% và tăng 6,6%), gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 59,3 nghìn tỷ đồng, bằng 89,9% kế hoạch năm và giảm 6,1% so với năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 17,6 nghìn tỷ đồng, bằng 95,5% và giảm 44,2%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 6.695 tỷ đồng, bằng 82,9% và tăng 11,2%; Bộ Y tế 2.402 tỷ đồng, bằng 72,7% và giảm 37,4%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 1.238 tỷ đồng, bằng 83,5% và tăng 51,4%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 1.022 tỷ đồng, bằng 75,3% và tăng 30,2%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 647 tỷ đồng, bằng 86,3% và tăng 14,7%; Bộ Xây dựng 258 tỷ đồng, bằng 94,9% và giảm 47,2%; Bộ Công Thương 211 tỷ đồng, bằng 95,8% và giảm 12,4%; Bộ Khoa học và Công nghệ 205 tỷ đồng, bằng 84,6% và tăng 45,4%; Bộ Thông tin và Truyền thông 121 tỷ đồng, bằng 91,1% và tăng 19%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 265,6 nghìn tỷ đồng, bằng 92,8% kế hoạch năm và tăng 17,7% so với năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 186,8 nghìn tỷ đồng, bằng 89,2% kế hoạch năm và tăng 19,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 66,5 nghìn tỷ đồng, bằng 100,3% và tăng 15,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 12,3 nghìn tỷ đồng, bằng 120,3% và tăng 10,4%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 35,4 nghìn tỷ đồng, bằng 93% kế hoạch năm và tăng 7,9% so với năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 29 nghìn tỷ đồng, bằng 80,9% và tăng 21,2%; Quảng Ninh 12,2 nghìn tỷ đồng, bằng 94,1% và tăng 36,4%; Hải Phòng 9.947 tỷ đồng, bằng 98,5% và tăng 34,4%; Bình Dương 7.991 tỷ đồng, bằng 100% và tăng 11,7%; Đồng Nai 7.206 tỷ đồng, bằng 99,4% và tăng 27,7%; Bà Rịa - Vũng Tàu 6.690 tỷ đồng, bằng 91,5% và tăng 35,8%; Thanh Hóa 6.361 tỷ đồng, bằng 101,1% và tăng 31,7%; Vĩnh Phúc 6.176 tỷ đồng, bằng 98,6% và giảm 3,4%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/12/2018 thu hút 3.046 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 17.976,2 triệu USD, tăng 17,6% về số dự án và giảm 15,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 1.169 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 7.596,7 triệu USD, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong năm 2018 đạt 25.572,9 triệu USD, giảm 13,9% so với cùng kỳ năm 2017. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2018 ước tính đạt 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với năm 2017. Trong năm 2018 còn có 6.496 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 9,89 tỷ USD, tăng 59,8% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 1.113 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 4,25 tỷ USD và 5.383 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 5,64 tỷ USD.

Trong năm 2018, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 9.067,5 triệu USD, chiếm 50,5% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5.216,8 triệu USD, chiếm 29%; các ngành còn lại đạt 3.691,9 triệu USD, chiếm 20,5%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm nay đạt 14.161,3 triệu USD, chiếm 55,4% tổng vốn đăng ký; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5.944,2 triệu USD, chiếm 23,2%; các ngành còn lại đạt 5.467,4 triệu USD, chiếm 21,4%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 2.863,1 triệu USD, chiếm 29% tổng giá trị góp vốn; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 2.426,8 triệu USD, chiếm 24,5%; các ngành còn lại đạt 4.602,8 triệu USD, chiếm 46,5%.

Cả nước có 54 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong năm 2018, trong đó Hà Nội có số vốn đăng ký lớn nhất với 5.041,1 triệu USD, chiếm 28% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bà Rịa - Vũng Tàu 1.803,5 triệu USD, chiếm 10%; Bình Dương 1.216,6 triệu USD, chiếm 6,8%; Đồng Nai 989 triệu USD, chiếm 5,5%; thành phố Hồ Chí Minh 784,8 triệu USD, chiếm 4,4%; Hải Phòng 723,8 triệu USD, chiếm 4%; Tây Ninh 453,3 triệu USD, chiếm 2,5%; Bắc Ninh 394,7 triệu USD, chiếm 2,2%; Ninh Thuận 387,5 triệu USD, chiếm 2,2%.

Trong số 75 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong năm nay, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 6.592,1 triệu USD, chiếm 36,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 3.657,6 triệu USD, chiếm 20,3%; Xin-ga-po 1.423,6 triệu USD, chiếm 7,9%; Trung Quốc 1.217,1 triệu USD, chiếm 6,8%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 1.128,9 triệu USD, chiếm 6,3%; Thái Lan 898,6 triệu USD, chiếm 5%; Pháp 523,6 triệu USD, chiếm 2,9%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong năm 2018 có 149 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 376,2 triệu USD; 35 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 56 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) năm 2018 đạt 432,2 triệu USD, trong đó lĩnh vực tài chính, ngân hàng đạt 105,8 triệu USD, chiếm 24,5% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 82,9 triệu USD, chiếm 19,2%; lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 52,3 triệu USD, chiếm 12,1%; lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 52,1 triệu USD, chiếm 12%. Trong năm nay có 38 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là nước dẫn đầu với 81,5 triệu USD, chiếm 18,9% tổng vốn đầu tư; Ô-xtrây-li-a 55,5 triệu USD, chiếm 12,8%; Hoa Kỳ 53 triệu USD, chiếm 12,3%.

 

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 12 và năm 2018

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước các quý năm 2018

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/12/2018

 

 

3. Thu, chi ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2018 ước tính đạt 1.272,5 nghìn tỷ đồng, bằng 96,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa 1.012,3 nghìn tỷ đồng, bằng 92,1%; thu từ dầu thô 59,4 nghìn tỷ đồng, bằng 165,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 195,9 nghìn tỷ đồng, bằng 109,4%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 138,9 nghìn tỷ đồng, bằng 83,4% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 168,4 nghìn tỷ đồng, bằng 75,6%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 193,5 nghìn tỷ đồng, bằng 88,8%; thu thuế thu nhập cá nhân 89,1 nghìn tỷ đồng, bằng 91,9%; thu thuế bảo vệ môi trường 42,2 nghìn tỷ đồng, bằng 86,5%; thu tiền sử dụng đất 121,4 nghìn tỷ đồng, bằng 141,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2018 ước tính đạt 1.272,1 nghìn tỷ đồng, bằng 83,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 874,5 nghìn tỷ đồng, bằng 93%; chi đầu tư phát triển 260,2 nghìn tỷ đồng, bằng 65,1%; chi trả nợ lãi 102,2 nghìn tỷ đồng, bằng 90,8%.

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a) Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 11/2018 đạt 21.747 triệu USD, cao hơn 147 triệu USD so với số ước tính, trong đó giày dép cao hơn 127 triệu USD; sắt thép cao hơn 73 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 72 triệu USD; dệt may thấp hơn 61 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 64 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 12/2018 ước tính đạt 21,00 tỷ USD, giảm 3,4% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,97 tỷ USD, tăng 1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 15,03 tỷ USD, giảm 5,1%. Một số mặt hàng xuất khẩu trong tháng Mười Hai có kim ngạch tăng so với tháng trước: Dầu thô tăng 41,3%; than đá tăng 37,3%; gạo và rau quả cùng tăng 14,3%. Một số mặt hàng có kim ngạch giảm: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 3,2%; sắt thép giảm 11,2%; hóa chất giảm 16,9%; điện thoại và linh kiện giảm 20,4%; xăng dầu giảm 30,6%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười Hai tăng 6,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 7,5%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 21,7%; giày dép tăng 12,3%; hàng dệt may tăng 11,2%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 10,3%.

Trong quý IV/2018, kim ngạch xuất khẩu đạt 65,26 tỷ USD, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm 2017 và giảm nhẹ 0,03% so với quý III năm nay. Có 10 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD trong quý IV, trong đó mặt hàng điện thoại và linh kiện đứng ở vị trí dẫn đầu với 13,3 tỷ USD, chiếm 20,4% kim ngạch xuất khẩu, giảm 3,1%; hàng dệt may đạt 8 tỷ USD, tăng 16,7%; điện tử máy tính và linh kiện đạt 7,9 tỷ USD, tăng 5,9%.

Tính chung cả năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 244,72 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 69,20 tỷ USD, tăng 15,9%, chiếm 28,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 175,52 tỷ USD, tăng 12,9%, chiếm 71,7% (giảm 0,6 điểm phần trăm so với năm 2017). Năm 2018, khu vực kinh tế trong nước chuyển biến tích cực khi đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng lên so với năm 2017[27].

Trong năm 2018 có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 91,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trong đó 9 mặt hàng đạt trên 5 tỷ USD và 5 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD,

 trong đó: Điện thoại và linh kiện đạt 50 tỷ USD, tăng 10,5%; hàng dệt may đạt 30,4 tỷ USD, tăng 16,6%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 29,4 tỷ USD, tăng 13,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 16,5 tỷ USD, tăng 28%; giày dép đạt 16,3 tỷ USD, tăng 11%. Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực vẫn thuộc về khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 99,7%; điện tử, máy tính và linh kiện 95,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 89,1%; hàng dệt may 59,9%. Bên cạnh đó, một số mặt hàng nông sản, thủy sản trong năm 2018 cũng tăng khá: Thủy sản đạt 8,8 tỷ USD, tăng 6,3%; rau quả đạt 3,8 tỷ USD, tăng 9,2%; cà phê đạt 3,5 tỷ USD, tăng 1,2% (lượng tăng 20,1%); gạo đạt 3,1 tỷ USD, tăng 16% (lượng tăng 4,6%). Một số mặt hàng nông sản tuy lượng xuất khẩu tăng nhưng do giá xuất khẩu bình quân giảm nên kim ngạch giảm so với năm trước: Hạt điều đạt 3,4 tỷ USD, giảm 3,9% (lượng tăng 6,2%); cao su đạt 2,1 tỷ USD, giảm 6,1% (lượng tăng 14,5%); hạt tiêu đạt 757 triệu USD, giảm 32,2% (lượng tăng 8,1%). Dầu thô tính chung cả năm 2018 tiếp tục giảm mạnh về cả lượng và kim ngạch xuất khẩu so với năm trước: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt 2,3 tỷ USD, giảm 21,2% (lượng giảm 39,5%).

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu năm 2018, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 123,7 tỷ USD, tăng 15,9% so với năm trước; chiếm 50,5% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 0,9 điểm phần trăm so với năm 2017), trong đó mặt hàng điện thoại và linh kiện đạt 50 tỷ USD, tăng 10,5% và chiếm 20,4%. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 90,2 tỷ USD, tăng 12,6% và chiếm 36,9% (giảm 0,3 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 22 tỷ USD, tăng 10% và chiếm 9% (giảm 0,3 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 8,8 tỷ USD, tăng 6,3% và chiếm 3,6% (giảm 0,3 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu năm 2018, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 47,5 tỷ USD, tăng 14,2%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 46,7%; giầy dép tăng 15,3%; hàng dệt may tăng 13,7%. Tiếp đến là EU đạt 42,5 tỷ USD, tăng 11%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 23,2%; điện thoại và linh kiện tăng 16,2%; hàng dệt may tăng 10,5%. Trung Quốc đạt 41,9 tỷ USD, tăng 18,5%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 52,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 25,8%; rau quả tăng 10,2%. Thị trường ASEAN đạt 24,7 tỷ USD, tăng 13,7%, trong đó gạo tăng 105,5%; sắt thép tăng 39,1%; hàng dệt may tăng 37,4%. Nhật Bản đạt 19 tỷ USD, tăng 12,9%, trong đó hàng dệt may tăng 24,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 14,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 7,7%. Hàn Quốc đạt 18,3 tỷ USD, tăng 23,2%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 40,8%; hàng dệt may tăng 32,6%; điện thoại và linh kiện tăng 12,6%.

b) Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 11/2018 đạt 21.594 triệu USD, thấp hơn 406 triệu USD so với số ước tính, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng thấp hơn 35 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép thấp hơn 38 triệu USD; kim loại thường thấp hơn 41 triệu USD; vải thấp hơn 48 triệu USD; lúa mì thấp hơn 62 triệu USD; sắt thép thấp hơn 79 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 89 triệu USD; than đá cao hơn 50 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Mười Hai ước tính đạt 21,20 tỷ USD, giảm 1,8% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,55 tỷ USD, tăng 0,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,65 tỷ USD, giảm 3,3%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng giảm so với tháng trước: Ô tô giảm 4,5%; thủy sản giảm 4,6%; điện thoại và linh kiện giảm 7,6%; hóa chất giảm 10,9%; dầu thô giảm 14,1%; xăng dầu giảm 27,9%. So với cùng kỳ năm 2017, kim ngạch nhập khẩu tháng Mười Hai tăng 5,3%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 4,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 6,1%. Một số mặt hàng có kim ngạch tăng so với cùng kỳ năm trước: Phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 98,8%; xe máy và linh kiện, phụ tùng tăng 98,7%; vải tăng 17%; sắt thép tăng 7,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 5,2%.

Trong quý IV năm 2018, kim ngạch nhập khẩu đạt 64,37 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2017 và tăng 3,3% so với quý trước. Có 15 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD trong quý IV, chiếm tỷ trọng 73,1% tổng trị giá nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt giá trị cao nhất với 11,7 tỷ USD (chiếm 18,2% tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu), tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2017; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 9,1 tỷ USD, tăng 9,3%; điện thoại và linh kiện đạt 5 tỷ USD, giảm 9,8%; vải đạt 3,5 tỷ USD, tăng 12,6%; chất dẻo đạt 2,5 tỷ USD, tăng 23,5%; sắt thép đạt 2,4 tỷ USD, tăng 1,9%; kim loại thường đạt 1,6 tỷ USD, tăng 6,3%.

Tính chung cả năm 2018, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 237,51 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 94,80 tỷ USD, tăng 11,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 142,71 tỷ USD, tăng 11,6%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu cả năm tăng 9,5% so với năm 2017.

Trong năm 2018 có 36 mặt hàng ước tính kim ngạch nhập khẩu đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 90,4% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó 4 mặt hàng trên 10 tỷ USD, chiếm 44,3%. Nhiều mặt hàng phục vụ sản xuất, gia công, lắp ráp trong nước có kim ngạch tăng so với năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 42,5 tỷ USD, tăng 12,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 33,7 tỷ USD, giảm 0,5%; điện thoại và linh kiện đạt 16 tỷ USD, giảm 2,6%; vải đạt 12,9 tỷ USD, tăng 13,5%; sắt thép đạt 9,9 tỷ USD, tăng 9%; chất dẻo đạt 9,1 tỷ USD, tăng 20%; xăng dầu đạt 7,6 tỷ USD, tăng 7,8%; kim loại thường đạt 7,3 tỷ USD, tăng 24,9%; sản phẩm chất dẻo đạt 5,9 tỷ USD, tăng 8,1%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 5,7 tỷ USD, tăng 5,7%; hóa chất đạt 5,2 tỷ USD, tăng 25,2%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu năm 2018, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 217 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2017 và chiếm 91,4% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (tăng 0,4 điểm phần trăm so với năm 2017), trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 101 tỷ USD, tăng 4,1% và chiếm 42,5% (giảm 3 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 116 tỷ USD, tăng 19,8% và chiếm 48,9% (tăng 3,4 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 20,5 tỷ USD, tăng 6,8% và chiếm 8,6% (giảm 0,4 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu năm 2018, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 65,8 tỷ USD, tăng 12,3% so với năm 2017, trong đó xăng dầu tăng 89,4%; vải tăng 18%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 11,4%. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc với kim ngạch nhập khẩu đạt 47,9 tỷ USD, tăng 2%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 14,3%; vải tăng 6,6%; điện thoại và linh kiện tăng 1,6%. ASEAN đạt 32 tỷ USD, tăng 13%, trong đó ô tô nguyên chiếc tăng 40,2%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 14,1%; xăng dầu tăng 6,8%. Nhật Bản đạt 19,3 tỷ USD, tăng 13,4%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 29,6%; sắt thép tăng 15,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 2,6%. EU đạt 13,8 tỷ USD, tăng 13,1%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 29,2%; vải tăng 23,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 15,1%. Hoa Kỳ đạt 12,8 tỷ USD, tăng 36,7%, trong đó thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu tăng 157,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 7,9%.

Kim ngạch xuất khẩu tăng nên cán cân thương mại tháng Mười Một xuất siêu 153 triệu USD[28]; tháng Mười Hai ước tính nhập siêu 200 triệu USD. Tính chung cả năm 2018 tiếp tục xuất siêu 7,2 tỷ USD[29], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 25,6 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 32,8 tỷ USD.

c) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong quý IV năm 2018, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 3,7 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2017 và tăng 3,1% so với quý III/2018; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 4,6 tỷ USD, tăng 5,7% và giảm 8,4% so với quý III năm 2018.

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2018 ước tính đạt 14,8 tỷ USD, tăng 13,2% so với năm 2017, trong đó dịch vụ du lịch đạt 10,1 tỷ USD (chiếm 68,1% tổng kim ngạch), tăng 13,4%; dịch vụ vận tải đạt 2,9 tỷ USD (chiếm 19,5%), tăng 14,6%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2018 ước tính đạt 18,5 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỷ USD (chiếm 47,8% tổng kim ngạch), tăng 7,5%; dịch vụ du lịch đạt 5,7 tỷ USD (chiếm 31%), tăng 13,7%. Nhập siêu dịch vụ trong năm 2018 là 3,7 tỷ USD, bằng 24,9% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ. 

 

Hàng hóa xuất khẩu tháng 12 và năm 2018

Hàng hóa xuất khẩu các quý năm 2018

Hàng hóa nhập khẩu tháng 12 và năm 2018

Hàng hóa nhập khẩu các quý năm 2018

Xuất, nhập khẩu dịch vụ các quý năm 2018

 

 

 

 

5. Chỉ số giá

   a) Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2018 giảm 0,25% so với tháng trước, trong đó nhóm giao thông giảm nhiều nhất với 4,88% do ảnh hưởng từ 2 đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 6/12/2018 và 21/12/2018 làm giá xăng, dầu giảm 10,77% (tác động CPI chung giảm 0,45%). Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,89% chủ yếu do giá gas trong tháng giảm 9,64%. Có 8/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có CPI tháng Mười Hai tăng so với tháng trước: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 5,76% (dịch vụ y tế tăng 7,53%) do giá dịch vụ y tế điều chỉnh tăng theo Thông tư số 39/2018/TT-BYT ngày 30/11/2018 (làm CPI chung tăng 0,29%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,43%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,22%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,05% (lương thực tăng 0,17%[30]; thực phẩm giảm 0,02%[31]); nhóm bưu chính viễn thông và nhóm văn hóa, giải trí, du lịch cùng tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%. Riêng nhóm giáo dục giá không đổi so với tháng trước.

Tính chung quý IV/2018, CPI tăng 0,6% so với quý trước và tăng 3,44% so với quý IV/2017, trong đó nhóm giáo dục tăng 6,51% so với cùng kỳ năm trước (dịch vụ giáo dục tăng 7,41%); giao thông tăng 5,06%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,99% (lương thực tăng 2,56%; thực phẩm tăng 6,07%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,1%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,71%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,64%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,6%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,52%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,33%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,35%; riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,83%.

CPI bình quân năm 2018 tăng 3,54% so với bình quân năm 2017, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra. CPI tháng 12/2018 tăng 2,98% so với tháng 12/2017, bình quân mỗi tháng tăng 0,25%. CPI bình quân năm 2018 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

- Các địa phương điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dịch vụ khám chữa bệnh theo Thông tư số 02/2017/TT-BYT và Thông tư số 39/2018/TT-BYT làm giá dịch vụ y tế tăng 13,86% (tác động làm CPI chung tăng 0,54%).

- Tiếp tục thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP làm chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục năm 2018 tăng 7,12% so với năm 2017 (tác động làm CPI tăng 0,37%).

- Việc tăng lương tối thiếu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp từ ngày 1/1/2018 và mức lương cơ sở áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ ngày 1/7/2018 làm giá bình quân một số loại dịch vụ như sửa chữa đồ dùng gia đình, bảo dưỡng nhà ở, dịch vụ điện, nước, dịch vụ thuê người giúp việc gia đình năm 2018 tăng từ 3%-5% so với năm 2017.

- Ngoài ra còn một số yếu tố về thị trường, như giá nhóm hàng lương thực tăng 3,71% (tác động làm CPI chung tăng 0,17%); giá thịt lợn tăng 10,37% (tác động làm CPI chung tăng 0,44%); quần áo may sẵn và đồ uống thuốc lá cùng tăng 1,42%; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 2,54%; giá gas tăng 6,93%; giá xăng, dầu tăng 15,25% (tác động làm CPI chung tăng 0,63%); giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 6,59%; giá nhà ở thuê tăng 1,01%; giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,87% và một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt, thép...

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI năm 2018, có một số yếu tố góp phần kiềm chế CPI: (i) Bộ Y tế ban hành Thông tư số 15/2018/TT-BYT ngày 30/5/2018 quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp, theo đó chỉ số giá y tế tháng 7/2018 giảm 7,58% (tác động làm CPI chung giảm 0,29%); (ii) Các cấp, các ngành tích cực triển khai các biện pháp bình ổn giá cả thị trường, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán, không để xảy ra hiện tượng tăng giá đột biến; (iii) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Lạm phát cơ bản tháng 12/2018 tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2018 tăng 1,48% so với bình quân năm 2017.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 12/2018 tăng 0,41% so với tháng trước; giảm 0,41% so với cùng kỳ năm 2017; bình quân năm 2018 tăng 2,36% so với năm 2017. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2018 giảm 0,07% so với tháng trước và tăng 2,69% so với cùng kỳ năm 2017; bình quân năm 2018 tăng 1,29% so với năm 2017.

c) Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý IV/2018 tăng 0,8% so với quý trước và tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 0,82% và tăng 4,83%; lâm nghiệp tăng 0,97% và tăng 4,2%; thủy sản tăng 0,73% và tăng 3,01%. Tính chung cả năm 2018, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,98% so với năm 2017, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 1,23%; lâm nghiệp tăng 3,69%; thủy sản tăng 4,15%.

Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý IV tăng 0,4% so với quý trước và tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 1,15% và tăng 9,89%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,44% và tăng 2,09%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,52% và tăng 4,45%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,6% và tăng 2,57%. Tính chung cả năm, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 3,09% so với năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 12,68%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,24%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,48%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,1%.

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý IV tăng 0,23% so với quý trước và tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: Dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,27% và tăng 2,31%; dịch vụ vận tải kho bãi tăng 0,46% và tăng 5,7%; giáo dục và đào tạo tăng 3,37% và tăng 8,17%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 0,02% và tăng 0,19%. Tính chung cả năm 2018, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 2,98% so với năm 2017, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ ngành giáo dục và đào tạo tăng 6,83%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 6,77%; vận tải kho bãi tăng 4,15%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 2,27%.

d) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý IV/2018 giảm 0,44% so với quý trước và tăng 0,44% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm giảm 0,6% và giảm 0,3%; nhóm nhiên liệu tăng 3,91% và tăng 25,98%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo giảm 0,46% và giảm 0,19%. Chỉ số giá xuất khẩu quý IV của một số mặt hàng: Xăng, dầu các loại tăng 5,27% so với quý trước và tăng 31,17% so với cùng kỳ năm trước; dầu thô tăng 3,73% và tăng 25,21%; sắt, thép tăng 1,76% và tăng 9,16%; điện thoại và thiết bị di động giảm 7,61% và giảm 8,75%; cà phê giảm 5,37% và giảm 15,94%; hạt tiêu giảm 1,59% và giảm 18,36%; cao su giảm 0,67% và giảm 3,71%. Tính chung cả năm 2018, chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá tăng 0,9% so với năm 2017, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,5%; nhóm nhiên liệu tăng 22,95%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo tăng 0,24%. Chỉ số giá xuất khẩu năm 2018 của một số mặt hàng: Sắt, thép tăng 11,38%; gạo tăng 7,1%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 3,79%; thủy sản tăng 3,46%; hạt tiêu giảm 23,64%; cao su giảm 7,19%; cà phê giảm 6,99%; điện thoại và thiết bị di động giảm 4,58%.

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý IV/2018 tăng 0,31% so với quý trước và tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,12% và tăng 1,59%; nhóm nhiên liệu tăng 1,81% và tăng 11,85%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo tăng 0,25% và tăng 1,67%. Chỉ số giá nhập khẩu quý IV của một số mặt hàng: Xăng dầu các loại tăng 2,68% so với quý trước và tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước; sắt, thép tăng 1,29% và tăng 7,97%; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 2,15% và tăng 3,56%; khí đốt hóa lỏng giảm 9,74% và giảm 5,81%; thủy sản giảm 1,83% và giảm 2,25%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày giảm 1,24% và giảm 2,01%. Tính chung cả năm 2018, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 1,82% so với năm 2017, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 1,24%; nhóm nhiên liệu tăng 10,06%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo tăng 1,48%. Chỉ số giá nhập khẩu cả năm 2018 của một số mặt hàng: Xăng dầu tăng 15,01%; khí đốt hóa lỏng tăng 8,57%; sắt, thép tăng 7,48%; hóa chất tăng 5,73%; cao su giảm 3,95%; điện thoại các loại và linh kiện giảm 3,27%.

Tỷ giá thương mại hàng hóa[32] quý IV/2018 giảm 0,74% so với quý trước và giảm 1,62% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2018, tỷ giá thương mại hàng hoá giảm 0,9% so với năm 2017, trong đó tỷ giá thương mại hàng hóa của xăng dầu tăng 12,96%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 7,3%; thủy sản tăng 6,34%; rau quả giảm 6,14%; hóa chất giảm 5,42%; cao su giảm 3,37%. 

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ và lạm phát cơ bản tháng 12 năm 2018

Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa

Tỷ giá thương mại hàng hóa

 

 

   III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2018 của cả nước ước tính 94,67 triệu người, tăng 988,4 nghìn người, tương đương tăng 1,06% so với năm 2017, trong đó dân số thành thị 33,83 triệu người, chiếm 35,7%; dân số nông thôn 60,84 triệu người, chiếm 64,3%; dân số nam 46,79 triệu người, chiếm 49,4%; dân số nữ 47,88 triệu người, chiếm 50,6%.

Tổng tỷ suất sinh năm 2018 ước tính đạt 2,05 con/phụ nữ và ở dưới mức sinh thay thế. Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh là 115,1 bé trai/100 bé gái; tỷ suất sinh thô là 14,58‰; tỷ suất chết thô là 6,82‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (số trẻ em dưới 1 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 14,24‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 21,38‰. Tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2018 là 73,5 năm, trong đó nam là 70,9 năm và nữ là 76,2 năm.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý IV năm 2018 ước tính là 55,7 triệu người, tăng 286,6 nghìn người so với quý trước và tăng 530,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Lao động nam 29,2 triệu người, chiếm 52,3%; lao động nữ 26,5 triệu người, chiếm 47,7%. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 17,9 triệu người, chiếm 32%; khu vực nông thôn là 37,8 triệu người, chiếm 68%. Tính chung cả năm 2018, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,4 triệu người, tăng 566,2 nghìn người so với năm 2017.

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý IV năm 2018 ước tính là 49 triệu người, tăng 289,8 nghìn người so với quý trước và tăng 522,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó lao động nam 26,8 triệu người, chiếm 54,8%; lao động nữ 22,2 triệu người, chiếm 45,2%; lao động khu vực thành thị là 16,5 triệu người, chiếm 33,6%; khu vực nông thôn là 32,5 triệu người, chiếm 66,4%. Tính chung cả năm 2018, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 48,7 triệu người, tăng 549,8 nghìn người so với năm trước.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc quý IV năm 2018 ước tính 54,6 triệu người, bao gồm 20,6 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 37,7% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 14,6 triệu người, chiếm 26,7%; khu vực dịch vụ 19,4 triệu người, chiếm 35,6%. Tính chung cả năm 2018, lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là 54,3 triệu người, bao gồm 20,7 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 38,1% tổng số (giảm 2,1 điểm phần trăm so với năm trước); khu vực công nghiệp và xây dựng 14,4 triệu người, chiếm 26,6% (tăng 0,8 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ 19,2 triệu người, chiếm 35,3% (tăng 1,3 điểm phần trăm).

Quý IV/2018, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước ước tính là 1,99%; tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2,18%; tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) là 6,78%. Tính chung cả năm 2018, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước ước tính là 2,0%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,55%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2018 là 2,19%, trong đó khu vực thành thị là 3,10%; khu vực nông thôn là 1,74%[33]. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên năm 2018 ước tính là 7,06%, trong đó khu vực thành thị là 10,56%; khu vực nông thôn là 5,73%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I/2018 là 1,52%; quý II là 1,43%; quý III là 1,45%; quý IV ước tính là 1,44%. Tính chung năm 2018, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 1,46%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,69%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,85% (tỷ lệ thiếu việc làm của năm 2017 tương ứng là 1,66%; 0,84%; 2,07%).

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[34] quý I/2018 và quý II là 56,3%; quý III và quý IV là 56,2%, trong đó khu vực thành thị là 48%; khu vực nông thôn là 63%. Tính chung năm 2018, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tính là 56,3%, trong đó khu vực thành thị là 48%; khu vực nông thôn là 63% (năm 2017 tương ứng là 57,2%; 48,8%; 64,5%).

 

Một số chỉ tiêu dân số

Một số chỉ tiêu lao động

Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm

 

 

2. Năng suất lao động

Năng suất lao động (NSLĐ) toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4.512 USD/lao động), tăng 8,8 triệu đồng/lao động so với năm 2017 (tương đương 346 USD). Tính theo giá so sánh năm 2010, NSLĐ toàn nền kinh tế năm 2018 tăng 5,93% so với năm trước, bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm.

Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm[35], là quốc gia có tốc độ tăng NSLĐ cao trong khu vực ASEAN. Tính chung giai đoạn 10 năm 2008-2017, NSLĐ theo sức mua tương đương năm 2011 (PPP 2011) của Việt Nam tăng trung bình 4%/năm, cao hơn so với mức tăng bình quân của Xin-ga-po (0,9%/năm); Ma-lai-xi-a (1,1%/năm); Thái Lan (2,6%/năm); Phi-li-pin (3,3%/năm); In-đô-nê-xi-a (3,4%/năm). Tuy nhiên, mức NSLĐ của Việt Nam hiện nay vẫn rất thấp so với các nước trong khu vực: Tính theo PPP 2011, NSLĐ của Việt Nam năm 2017 đạt 10.232 USD, chỉ bằng 7,2% mức năng suất lao động của Xin-ga-po; 18,4% của Ma-lai-xi-a; 36,2% của Thái Lan; 43% của In-đô-nê-xi-a và bằng 55% của Phi-li-pin. Đáng chú ý là chênh lệch về mức NSLĐ giữa Việt Nam với các nước vẫn tiếp tục gia tăng[36], điều này cho thấy khoảng cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt để có thể bắt kịp mức NSLĐ của các nước.

 

3. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư năm nay nhìn chung được cải thiện. Năm 2018, thu nhập bình quân một người một tháng ước tính đạt 3,76 triệu đồng (tăng 660 nghìn đồng so với năm 2016), bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 10,2%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2018 ước tính 6,8%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2017.

Thiếu đói trong nông dân năm 2018 giảm mạnh so với năm trước, cả nước có 105 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 42,1%, tương ứng với 420 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 43,7%. Thiếu đói năm nay giảm mạnh là kết quả chỉ đạo, điều hành tích cực của Đảng, Nhà nước và nỗ lực của người dân trong sản xuất như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển các ngành nghề để tạo thêm việc làm, đồng thời diễn biến thời tiết khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và công tác phòng chống giảm thiểu tác động của thiên tai đã được triển khai đồng bộ ngay từ đầu năm. Thiếu đói tập trung chủ yếu vào các tháng đầu năm, trong đó tháng Hai có 34,4 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 129,3 nghìn nhân khẩu thiếu đói, tháng Năm có 31,5 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 131,5 nghìn nhân khẩu thiếu đói; từ tháng Sáu cho đến cuối năm, thiếu đói trong nông dân có xu hướng giảm dần. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 7,4 nghìn tấn lương thực và hơn 1,6 tỷ đồng.

Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong năm 2018 là 4.977 tỷ đồng, bao gồm 2.792 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1.487 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 698 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có gần 23,6 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

4. Giáo dục, đào tạo

Năm học 2018-2019, ngành giáo dục đào tạo đang nỗ lực chuẩn bị cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới theo Nghị quyết số 51/2017/QH14 của Quốc hội; nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với giáo dục mầm non và nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục đại học. Trong năm học này, cả nước có 5,3 triệu trẻ em bậc mầm non (0,7 triệu trẻ em đi nhà trẻ và 4,6 triệu trẻ em đi học mẫu giáo); 16,6 triệu học sinh phổ thông đến trường (8,4 triệu học sinh tiểu học; 5,6 triệu học sinh trung học cơ sở; 2,6 triệu học sinh trung học phổ thông) và 1,5 triệu sinh viên đại học, cao đẳng, trung cấp[37].

Giáo dục nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong đào tạo nhân lực trực tiếp trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng đa dạng về loại hình đào tạo và mô hình hoạt động. Hiện nay, cả nước có 1.954 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bao gồm 394 trường cao đẳng, 515 trường trung cấp và 1.045 trung tâm giáo dục thường xuyên. Đào tạo nghề năm 2018 đã tuyển mới được 2.210 nghìn người, trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp tuyển sinh được 545 nghìn người; trình độ sơ cấp và chương trình đào tạo nghề khác tuyển sinh được 1.665 nghìn người, trong đó hỗ trợ đào tạo nghề cho 800 nghìn lao động nông thôn học nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2018, số học sinh tốt nghiệp các lớp đào tạo nghề là 2.100 nghìn người, trong đó trình độ cao đẳng và trung cấp là 440 nghìn người, trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo khác là 1.660 nghìn người.

5. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

 Trong tháng 12/2018, cả nước có 24,4 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (3 trường hợp tử vong); 16,8 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 54 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 57 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 38 trường hợp mắc bệnh ho gà; 1 trường hợp nhiễm liên cầu lợn ở người, 3 trường hợp tử vong do bệnh dại. Tính chung năm 2018, cả nước có 125,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (16 trường hợp tử vong); 127,4 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 628 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 760 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (21 trường hợp tử vong); 33 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (2 trường hợp tử vong); 673 trường hợp mắc bệnh ho gà (2 trường hợp tử vong); 77 trường hợp mắc bệnh liên cầu lợn ở người (6 trường hợp tử vong); 2 trường hợp nhiễm vi rút Zika; 72 trường hợp tử vong do bệnh dại.

Đến thời điểm 18/12/2018, tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống là 208,8 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 94,9 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98,16 nghìn người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng đã xảy ra 5 vụ với 327 người bị ngộ độc. Tính chung cả năm 2018, trên địa bàn cả nước xảy ra 84 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 3.174 người bị ngộ độc, trong đó 11 người tử vong.

6. Hoạt động văn hóa và thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa năm 2018 tập trung chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở. Các sự kiện được tổ chức trang trọng, an toàn, tiết kiệm và hiệu quả; thu hút sự quan tâm và tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Công tác quản lý lễ hội được chú trọng nhằm phát huy tính tích cực của lễ hội dân gian và phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc; công tác an ninh trật tự, an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường và hoạt động kinh doanh hàng hóa trong lễ hội được đảm bảo; ý thức thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội của nhân dân và du khách khi tham gia lễ hội được nâng lên, những hiện tượng tiêu cực và các tập tục mang yếu tố bạo lực, phản cảm trong lễ hội đã giảm so với năm trước.

Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, gắn với Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại, tổ chức phát động trẻ em toàn quốc học bơi phòng, chống tai nạn đuối nước, Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân, tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao các cấp và Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ VIII năm 2018.

Năm 2018, thể thao thành tích cao của Việt Nam đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Đoàn thể thao Việt Nam đã giành được 922  huy chương trong các giải đấu quốc tế, trong đó 391 huy chương vàng, 296 huy chương bạc, 235 huy chương đồng. Tại Đại hội Thể thao người khuyết tật châu Á lần thứ 3, đoàn thể thao Việt Nam giành được 8 huy chương vàng, 8 huy chương bạc, 24 huy chương đồng xếp vị trí thứ 12/44 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự; tại Đại hội thể thao Châu Á ASIAD lần thứ 18 giành được 38 huy chương, trong đó 4 huy chương vàng, 16 huy chương bạc, 18 huy chương đồng, xếp thứ 17/45 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự. Đặc biệt, đội tuyển Bóng đá U23 Việt Nam thi đấu xuất sắc giành huy chương bạc tại giải vô địch U23 châu Á, đội tuyển Olympic Việt Nam đứng thứ Tư tại ASIAD 18 và đội tuyển Bóng đá quốc gia giành huy chương vàng giải bóng đá Đông Nam Á.

7. Tai nạn giao thông

Trong tháng Mười Hai (từ 16/11 đến 15/12), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.412 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 767 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 645 vụ va chạm giao thông, làm 630 người chết; 423 người bị thương và 665 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng 12/2018 giảm 9,7% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 0,3% và số vụ va chạm giao thông giảm 19,2%); số người chết giảm 9,9%; số người bị thương tăng 5,5% và số người bị thương nhẹ giảm 23,8%.

Cả năm 2018, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 18.232 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 9.446 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 8.786 vụ va chạm giao thông, làm 8.125 người chết; 5.124 người bị thương và 9.070 người bị thương nhẹ. So với năm trước, năm 2018 tai nạn giao thông giảm trên cả ba tiêu chí, số vụ tai nạn giảm 9,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 3,4%; số vụ va chạm giao thông giảm 14,8%); số người chết giảm 1,9%; số người bị thương giảm 8,3% và số người bị thương nhẹ giảm 20,8%. Trong tổng số 9.446 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên có 9.202 vụ (chiếm 97,4%) xảy ra trên đường bộ, làm 7.958 người chết và 5.060 người bị thương. Bình quân 1 ngày trong năm 2018, trên địa bàn cả nước xảy ra 50 vụ tai nạn giao thông (giảm 5 vụ so với năm 2017), gồm 26 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 24 vụ va chạm giao thông, làm 22 người chết, 14 người bị thương và 25 người bị thương nhẹ.

8. Thiệt hại do thiên tai 

Thiên tai xảy ra trong năm chủ yếu là mưa lớn, lũ quét, ngập lụt và sạt lở đất. Thiệt hại do thiên tai năm 2018 giảm nhiều so với năm 2017: có 218 người chết, mất tích và 157 người bị thương[38]; hơn 260 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng, giảm 28,5%; 1.967 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi, giảm 76,3% và 119 nghìn nhà sạt lở, tốc mái, ngập nước, giảm 79,7%. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai năm 2018 ước tính 15,7 nghìn tỷ đồng, giảm 73,8% so với năm 2017. Các địa phương bị thiệt hại nhiều do thiên tai trong năm 2018 là Thanh Hóa với 37 người chết và mất tích, 12 người bị thương, 22,8 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng, 27,7 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng, hơn 160 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết, thiệt hại ước tính 2,8 nghìn tỷ đồng; Nghệ An 8 người chết, 6,6 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng, 41 nghìn ha lúa, hoa màu bị hư hỏng, 44 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết, thiệt hại ước tính gần 1,8 nghìn tỷ đồng; Yên Bái 24 người chết, mất tích, 23 người bị thương, 3,4 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng, 3,4 nghìn ha lúa, hoa màu bị hư hỏng, 15,6 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết, thiệt hại ước tính 977 tỷ đồng.

Để chủ động ứng phó với các tình huống thiên tai, lãnh đạo Trung ương, địa phương đã kịp thời chỉ đạo để triển khai, hiệu quả các biện pháp ứng phó thiên tai, thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ” không để bị động, bất ngờ; công tác thông tin, truyền thông, tập huấn, đào tạo và phổ biến kiến thức cho các cấp chính quyền và người dân được đẩy mạnh, góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.

9. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng 12/2018, cơ quan chức năng đã phát hiện 538 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 440 vụ với tổng số tiền phạt 10,2 tỷ đồng. Cả năm 2018, đã phát hiện 13.929 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 12.759 vụ với tổng số tiền phạt hơn 200 tỷ đồng.

Trong tháng Mười Hai, cả nước xảy ra 322 vụ cháy, nổ, làm 15 người chết và 17 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 41 tỷ đồng. Cả năm 2018, trên địa bàn cả nước xảy ra 4.075 vụ cháy, nổ, làm 112 người chết và 263 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng1,7 nghìn tỷ đồng.

 

Một số chỉ tiêu xã hội - môi trường

 

Khái quát lại, kinh tế - xã hội nước ta năm 2018 tiếp tục khởi sắc với tăng trưởng GDP đạt mức cao nhất trong 11 năm qua. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả khá; công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ thị trường tiếp tục tăng cao, giữ vững vai trò là động lực tăng trưởng. Thực hiện vốn đầu tư phát triển hiệu quả hơn với nhiều năng lực sản xuất mới được bổ sung cho nền kinh tế. Môi trường kinh doanh đang ngày càng cải thiện. Tiêu dùng tăng cao, xuất khẩu và thu hút khách du lịch quốc tế đạt khá. Tình hình giải quyết việc làm và an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, nền kinh tế vẫn còn những tồn tại, thách thức: Quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng có chuyển biến nhưng còn chậm; năng suất lao động còn thấp, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Biến đổi khí hậu, thiên tai, bão, lũ, dịch bệnh diễn biến phức tạp có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân.

Năm 2019 có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Dự báo kinh tế thế giới trong năm 2019 vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, thách thức. Hoạt động thương mại quốc tế phức tạp hơn với các yếu tố khó lường bởi chủ nghĩa bảo hộ ở nhiều nước, đặc biệt là căng thẳng của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Ở trong nước, bên cạnh các điều kiện thuận lợi từ kết quả nổi bật trong năm 2018 về ổn định vĩ mô, tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và đẩy mạnh hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế, kinh tế - xã hội nước ta năm 2019 dự báo vẫn đối mặt với các thách thức đến từ nội tại của nền kinh tế, như: Trình độ công nghệ thấp, đất đai, tài nguyên đang dần bị suy giảm trong khi năng suất, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế tuy có chuyển biến nhưng chưa thực sự đột phá. Bên cạnh đó, từ năm 2019 việc thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký, nhất là cam kết về mở cửa thị trường, cắt giảm thuế, bảo đảm sở hữu trí tuệ sẽ mang lại cơ hội cho Việt Nam trong thu hút các nguồn lực từ nước ngoài, nhưng đồng thời cũng là áp lực không nhỏ đối với khu vực kinh tế trong nước. Biến đổi khí hậu, thiên tai, bão, lũ luôn là thách thức tiềm ẩn, tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trước mắt, để hoàn thành tốt mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 đã được Quốc hội thông qua, trong đó: GDP tăng 6,6%-6,8%, tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 7%-8%; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4%..., các cấp, các ngành và địa phương phải nhận thức đúng và đầy đủ những khó khăn, thách thức phía trước để kịp thời có các giải pháp khắc phục ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm 2019, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

Một là, Chính phủ và các địa phương trong cả nước cần tập trung rà soát, bổ sung và hoàn thiện thể chế, cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh đang là rào cản đối với hoạt động của doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh cá thể, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực thi hiệu quả thủ tục một cửa tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và phát triển, đồng thời rà soát các thủ tục liên quan tới giải thể, phá sản doanh nghiệp bảo đảm nhanh và hiệu quả. Chính phủ cần có chính sách và giải pháp phù hợp để khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể chuyển thành doanh nghiệp, tạo dựng điều kiện kinh doanh thuận lợi cho cơ sở cá thể hoạt động ổn định, lâu dài và tuân thủ pháp luật.

Hai là, tiến hành xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật để thực hiện có hiệu quả Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, đồng thời tích cực vận động sớm phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU. Nâng cao kết quả hoạt động mở rộng thương mại quốc tế, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu chính ngạch cho sản phẩm nông sản.

Ba là, chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế để hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. Nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung cho các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ khởi nghiệp; kiểm soát tín dụng ở một số ngành, lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Bốn là, phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông và công nghệ thông tin. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao, có ý nghĩa nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế.

Năm là, ban hành và thực thi các giải pháp mang tính đột phá, tạo áp lực để các tổ chức kinh tế tiếp cận, ứng dụng công nghệ, từng bước nâng cao năng lực đổi mới, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tập trung nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Doanh nghiệp Việt Nam cần nhận thức đúng và thực thi phương châm: “Hàng Việt Nam chinh phục người Việt Nam”. Chú trọng phát triển thị trường trong nước, chủ động kết nối, phát triển các kênh phân phối sản phẩm hàng hóa của Việt Nam.

Sáu là, để nền kinh tế có thể hòa nhập, không bị bỏ lại phía sau trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ cần đổi mới phương thức thu hút đầu tư nước ngoài, tập trung thu hút các nhà đầu tư hàng đầu thế giới, đang nắm giữ công nghệ nguồn có năng lực quản trị hiện đại, năng lực cạnh tranh cao đầu tư vào Việt Nam, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, ngăn ngừa việc chuyển dịch các dòng vốn gây ô nhiễm môi trường, công nghệ lạc hậu vào Việt Nam.

Bảy là, nền kinh tế đứng vững, phát triển thành công trong xu thế của cách mạng công nghiệp 4.0 phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực và đội ngũ lao động có trình độ, biết đổi mới sáng tạo, biết đưa ra ý tưởng mới. Vì vậy, Chính phủ phải đổi mới phương thức, chương trình đào tạo, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, trong đó tập trung đào tạo đội ngũ thực hành giỏi để đáp ứng nhu cầu lao động trong xu thế vận hành của cách mạng công nghiệp 4.0. Đây cũng là nhiệm vụ để thực hiện ba khâu then chốt của nền kinh tế: Đổi mới thể chế; xây dựng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực.

Tám là, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, chính sách đối với người có công với cách mạng, bảo đảm công khai, minh bạch, kịp thời, đúng đối tượng. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ



[1] Trong tháng 10/2018, Quỹ Tiền Quốc tế (IMF) đã hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2018 xuống 3,7%, giảm 0,2 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 7/2018; tương tự, hạ dự báo mức tăng trưởng thương mại toàn cầu năm 2018 xuống mức 4,2%, thấp hơn 0,6 điểm phần trăm so với dự báo trước đó và thấp hơn 1 điểm phần trăm so với năm 2017.

[2] Tăng trưởng GDP quý IV một số năm: Năm 2011 tăng 6,71%; năm 2012 tăng 5,57%; năm 2013 tăng 6,05%; năm 2014 tăng 6,96%; năm 2015 tăng 7,01%; năm 2016 tăng 6,68%; năm 2017 tăng 7,65%; năm 2018 tăng 7,31%.

[3] Tăng trưởng GDP một số năm: Năm 2008 tăng 5,66%; năm 2009 tăng 5,4%; năm 2010 tăng 6,42%; năm 2011 tăng 6,24%; năm 2012 tăng 5,25%; năm 2013 tăng 5,42%; năm 2014 tăng 5,98%; năm 2015 tăng 6,68%; năm 2016 tăng 6,21%; năm 2017 tăng 6,81%; năm 2018 tăng 7,08%.

[4] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản một số năm: Năm 2012 tăng 2,92%; năm 2013 tăng 2,63%; năm 2014 tăng 3,44%; năm 2015 tăng 2,41%; năm 2016 tăng 1,36%; năm 2017 tăng 2,90%; năm 2018 tăng 3,76%.

[5] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp một số năm: Năm 2012 tăng 2,57%; năm 2013 tăng 2,19%; năm 2014 tăng 2,51%; năm 2015 tăng 2,03%; năm 2016 tăng 0,72%; năm 2017 tăng 2,07%; năm 2018 tăng 2,89%.

[6] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của một số năm: Năm 2012 tăng 9,05%; năm 2013 tăng 7,22%; năm 2014 tăng 7,41%; năm 2015 tăng 10,60%; năm 2016 tăng 11,90%; năm 2017 tăng 14,40%; năm 2018 tăng 12,98%.

[7] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ của một số năm: Năm 2012 tăng 6,71%; năm 2013 tăng 6,72%; năm 2014 tăng 6,16%; năm 2015 tăng 6,33%; năm 2016 tăng 6,98%; năm 2017 tăng 7,44%; năm 2018 tăng 7,03%.

[8] Năng suất lao động năm 2017 đạt 4.166 USD/lao động, tăng 314 USD so với năm 2016.

[9] Trong đó: Diện tích chuyển sang đất phi nông nghiệp là 4,6 nghìn ha; chuyển sang cây trồng khác và nuôi trồng thủy sản là 9,7 nghìn ha; diện tích đất không thể gieo cấy do khó khăn trong khâu tưới tiêu, thiếu lao động, ô nhiễm là 18,7 nghìn ha.

[10] Do một số tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đang có xu hướng phá bỏ cây cao su già cỗi và tại miền Trung cây cao su bị gãy, đổ nhiều do gió bão.

[11] Do Tết Nguyên đán 2019 vào đầu tháng Hai nên chu kỳ sản xuất hàng hóa phục vụ Tết sớm hơn so với cùng kỳ năm trước.

[12] Tốc độ tăng IIP các năm 2012-2016 lần lượt là: 5,8%; 5,9%; 7,6%; 9,8%; 7,4%.

[13] Tốc độ tăng chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo các năm 2012-2016 lần lượt là: 5,5%; 7,6%; 8,7%; 10,5%; 11,3%.

[14] Do kế hoạch khai thác dầu thô năm 2018 đặt ra là 11,31 triệu tấn, thấp hơn sản lượng dầu thô khai thác năm 2017 (13,56 triệu tấn).

[15] Do Công ty lọc hóa dầu Nghi Sơn mới đi vào sản xuất, đồng thời tồn kho tại thời điểm này năm trước của Công ty lọc hóa dầu Bình Sơn đạt thấp.

[16] Do khối lượng sản phẩm tiêu thụ tháng trước thấp hơn so với kế hoạch nên tồn kho tháng này tăng cao.

[17] Tỷ lệ tồn kho các năm 2016-2018 lần lượt là: 65,4%; 65,9% và 64,4%.

[18] Do một công ty sản xuất linh kiện điện tử sử dụng dây chuyền công nghệ tự động hóa nên giảm số lượng lao động và một công ty làm ăn thua lỗ chuẩn bị giải thể.

[19] Chủ yếu do một số doanh nghiệp trong ngành sản xuất linh kiện điện tử và sản xuất đồ chơi trẻ em gặp khó khăn về hợp đồng sản xuất nên giảm mạnh lao động so với năm trước.

[20] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm 7,3%; số vốn đăng ký tăng 48,5%.     

[21] Năm 2017, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 15,2% so với năm trước; số vốn đăng ký tăng 45,4%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 26,2%.

[22] Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể tăng cao trong đó có nguyên nhân từ tháng 4/2018 các phòng đăng ký kinh doanh trên cả nước đang rà soát, chuẩn hóa dữ liệu, loại bỏ các doanh nghiệp không còn hoạt động trong thời gian dài.

[23] Chỉ số tương ứng của quý III/2018: Có 43,1% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn quý trước; 17,8% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 39,1% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định.              

[24] Chỉ số tương ứng của quý III/2018: Có 45,7% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp tăng so với quý trước; 17,4% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 36,9% số doanh nghiệp cho rằng ổn định.  

[25] Chỉ số tương ứng của quý III/2018: Có 39,1% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng cao hơn quý trước; 17,3% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 43,6% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định.                                                                       

[26] Bao gồm: Vương quốc Anh, Cộng hòa Pháp, CHLB Đức, Vương quốc Tây Ban Nha và Cộng hòa I-ta-li-a.

[27] Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng 18,5% so với năm trước, chiếm 27,7% tổng kim ngạch xuất khẩu;  khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 23,1%, chiếm 72,3%.

[28] Ước tính tháng Mười Một nhập siêu 400 triệu USD.

[29] Trong đó, cả năm 2018 xuất siêu sang EU 28,7 tỷ USD, tăng 10% so với năm trước; nhập siêu từ Hàn Quốc 29,6 tỷ USD, giảm 7,8%; nhập siêu từ Trung Quốc 23,9 tỷ USD, tăng 3%; nhập siêu từ ASEAN 7,3 tỷ USD, tăng 10,9%.

[30] Do xuất khẩu gạo thuận lợi về thị trường và giá cả nên chỉ số giá gạo tăng 0,12% so với tháng trước.

[31] Chủ yếu do giá thịt lợn trong tháng giảm 0,67% so với tháng trước do nguồn cung dồi dào; giá thịt chế biến giảm 0,36%; giá thịt gia cầm tươi sống giảm 0,08%; giá đường giảm 0,08% và giá rau tươi giảm 0,4%.

[32] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[33] Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2017 là 2,24%, trong đó khu vực thành thị là 3,18%;
 khu vực nông thôn là 1,78%
.

[34] Lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp bao gồm những người không làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) người làm công ăn lương thuộc khu vực chính thức không được ký hợp đồng lao động hoặc có hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực chính thức và thành viên hợp tác xã không có bảo hiểm xã hội bắt buộc; (ii) chủ cơ sở, lao động tự làm, lao động làm công ăn lương và lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực phi chính thức; (iii) lao động tự làm phục vụ nhu cầu tự tiêu dùng của hộ gia đình và lao động làm thuê trong các hộ gia đình.

[35] NSLĐ xã hội của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2011-2018 lần lượt là: 55,2 triệu đồng/lao động; 63,1 triệu đồng/lao động; 68,7 triệu đồng/lao động; 74,7 triệu đồng/lao động; 79,4 triệu đồng/lao động; 84,5 triệu đồng/lao động; 93,2 triệu đồng/lao động; 102 triệu đồng/lao động.

[36] Chênh lệch mức NSLĐ (tính theo PPP 2011) của Việt Nam so với Xin-ga-po tăng từ 119.117 USD năm 2008 lên 131.192 USD năm 2017; tương tự, với Ma-lai-xi-a từ 43.731 USD lên 45.295 USD; Thái Lan từ 14.930 USD lên 18.071 USD; In-đô-nê-xi-a từ 10.451 USD lên 13.555 USD; Phi-li-pin từ 6.609 USD lên 8.385 USD (Nguồn số liệu: Cơ sở dữ liệu các chỉ số phát triển thế giới, Ngân hàng Thế giới).

[37]  Chỉ tính sinh viên cao đẳng và trung cấp sư phạm.

[38] Năm 2017 thiên tai làm 389 người chết, mất tích và 668 người bị thương.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2019
  Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2019
  Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2019
  Tình hình kinh tế-xã hội 2 tháng đầu năm 2019
  Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2019