English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 1+2/2018 (527)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 1+2/2018 (527)

Ra hàng tháng. Năm thứ 57

 

 

Thư của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê gửi công chức, viên chức và người lao động ngành Thống kê nhân dịp Xuân Mậu Tuất

Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2018

Ngành Thống kê năm 2017 vượt khó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

¨ TS. NGUYỄN BÍCH LÂM

Kết quả công tác thi đua khen thưởng năm 2017 và phát động phong trào thi đua năm 2018

Ngành Thống kê – Phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2018

Đổi mới quy trình biên soạn số liệu Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Những kết quả đạt được

¨ ThS. DƯƠNG MẠNH HÙNG

Nội dung cơ bản và điểm mới trong Tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2019

Kinh tế Việt Nam – Dấu ấn năm 2017 và triển vọng năm 2018

¨ TIẾN LONG

Vài nét về Kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2017

¨ THU HÒA – BÍCH NGỌC

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo năm 2017 tăng trưởng vượt bậc

¨ TS. PHẠM ĐÌNH THÚY

Những thành tựu nổi bật của nông nghiệp Việt Nam năm 2017

¨ NGUYỄN HÒA BÌNH

Kết quả sơ bộ Tổng điều tra Kinh tế năm 2017

Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA

¨ ThS. LÊ THỊ LOAN – ThS. LƯƠNG THỊ THU HẰNG

Thực trạng cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam và các đối tác lớn

¨ NGUYỄN THU QUỲNH

Thị trường bán lẻ Việt Nam – triển vọng và áp lực cạnh tranh

¨ THU HÒA

2017 – Một năm hội nhập kinh tế tích cực của Việt Nam

¨ ThS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN

Năng suất lao động của Việt Nam – những vấn đề đặt ra

¨ ThS. ĐẬU NGỌC HÙNG

Nâng cao chất lượng dân số để phát triển bền vững

¨ MINH THƯ

Trải nghiệm thú vị cùng Du lịch homestay

¨ NGỌC LINH

Điểm sáng bức tranh kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam

¨ THU HƯỜNG

Hiệu quả từ mô hình hợp tác xã kiểu mới

¨ BÍCH NGỌC

Kinh nghiệm điều tra niềm tin người tiêu dùng các nước châu Âu

¨ ThS. HOÀNG THỊ THANH HÀ

Kinh tế thế giới năm 2017 và triển vọng năm 2018

¨ TRÚC LINH

Vui vui… Thống kê

Nam Định – Vài nét về hoạt động của doanh nghiệp

¨ VŨ THỊ HƯỜNG

Hà Tĩnh – Kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2017

¨ NGUYỄN VIỆT HÙNG

Nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thừa Thiên - Huế trên đường phát triển

¨ NGÔ LIỀU

Bức tranh nông nghiệp, nông thôn tỉnh Ninh Thuận: Thành tựu và thách thức

¨ NGUYỄN VĂN HƯƠNG

Thực trạng nông thôn, nông nghiệp, thủy sản năm 2016 tỉnh Phú Yên

¨ TRẦN QUANG MINH

Doanh nhân Việt Nam tuổi Tuất

¨ CÔNG HIẾU

Về miền kinh bắc, nghe câu dân ca quan họ ngọt ngào

Nghệ thuật bài Chòi Trung bộ – Nét độc đáo di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Lên Tây Bắc rộn ràng đón Tết cùng người H’Mông

¨ NGỌC LINH

Tục cúng đất vùng Ngũ Quảng

Bản sắc văn hóa với phong tục đón Tết của người Dao đỏ

Du ngoạn ngày Xuân dọc chiều dài đất nước

Hà Nội mùa hoa Sưa

Du lịch công nghệ cao ở Đà Lạt

Mỹ Nghiệp – Nơi lưu giữ dấu ấn nghề dệt thổ cẩm của người Chăm

Nhà dài – công trình văn hóa độc đáo của người Ê – đê

Nghệ thuật terrarium – Không mới nhưng luôn lạ

Triết lý hoa mai

Những phong tục chào đón năm mới độc đáo trên thế giới

Năm Tuất kể chuyện loài C

 

Nội dung tóm tắt một số bài trong số 1+2/2018

 

THƯ CỦA TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THỐNG KÊ GỬI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NGÀNH THỐNG KÊ NHÂN DỊP XUÂN MẬU TUẤT 2018

 

Nhân dịp Tết cổ truyền của dân tộc và đón Xuân Mậu Tuất, thay mặt Lãnh đạo Tổng cục Thống kê, tôi thân ái gửi đến các đồng chí cùng gia đình lời chúc mừng năm mới mạnh khỏe, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng; chúc các đồng chí tiếp tục đạt được nhiều thành tích trong công tác.

Các đồng chí thân mến,

Trong bối cảnh khó khăn chung của đất nước, ngành Thống kê tiếp tục nhận được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Lãnh đạo Bộ, Ban Cán sự đảng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sự ủng hộ, phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, toàn ngành chúng ta đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, đoàn kết, hợp tác, khắc phục khó khăn và hoàn thành xuất sắc kế hoạch công tác năm 2017 với nhiều thành quả quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới khá toàn diện.

Công tác đảm bảo thông tin thống kê được thực hiện tốt, ngày càng nâng lên về số lượng và chất lượng, tiếp tục khẳng định là kênh thông tin chính thống phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nền kinh tế - xã hội của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế thế giới có những biến động khó lường, ở trong nước gặp khó khăn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thông tin thống kê đã phản ánh kịp thời tình hình thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về những giải pháp chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Ngành Thống kê đã chủ động xây dựng kịch bản tăng trưởng kinh tế năm 2017 và đề xuất các giải pháp nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2017 báo cáo Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ làm căn cứ để chỉ đạo, điều hành cũng như  xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018. Năm 2017, công tác phân tích, dự báo được tăng cường, nhất là các phân tích chuyên sâu, chuyên đề. Tổng cục Thống kê đã chủ trì tổng hợp Báo cáo của Chính phủ về kiểm kê, đánh giá thực chất tình hình các nguồn lực của nền kinh tế hiện nay để báo cáo Bộ Chính trị; biên soạn báo cáo Thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam so với các nước trong khu vực báo cáo Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Cùng với việc thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo thông tin thống kê, trong năm 2017, chúng ta đã thực hiện thành công các cuộc điều tra thường xuyên, tổ chức tốt các cuộc điều tra đột xuất phục vụ kịp thời yêu cầu thông tin cho quản lý, điều hành đất nước. Đặc biệt, chúng ta đã thực hiện thành công cuộc Tổng điều tra Kinh tế năm 2017 với nhiều điểm mới về nội dung và phương thức so với các kỳ điều tra trước.

Việc thực hiện Luật Thống kê, các Đề án và Chiến lược phát triển của Ngành được triển khai tích cực và hiệu quả. Đề án tăng cường quản lý nhà nước về chất lượng thống kê đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 643/QĐ-TTg ngày 11/5/2017. Đề án Đổi mới quy trình biên soạn số liệu GRDP tiếp tục được triển khai thực hiện. Năm 2017, chúng ta đã công bố số liệu sơ bộ GRDP 6 tháng đầu năm và số liệu ước tính cả năm cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cũng trong năm 2017, ngành Thống kê đã tập trung hoàn thiện môi trường pháp lý với việc trình Bộ trưởng để trình Chính phủ ban hành Nghị định số 85/2017/NĐ-CP ngày 19/7/2017 quy định cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống tổ chức thống kê tập trung và thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ; Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư xin ý kiến thẩm định của Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp… Đây là những văn bản pháp lý quan trọng, có ý nghĩa góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và vị thế của ngành Thống kê.

Công tác phương pháp chế độ, tổ chức cán bộ, quản lý tài chính, ứng dụng phát triển công nghệ thông tin, nghiên cứu khoa học, thanh tra, tuyên truyền, thi đua khen thưởng và các công tác khác được triển khai tích cực, đạt hiệu quả cao. Công tác thống kê nước ngoài và hợp tác quốc tế tiếp tục được chú trọng, đổi mới.

Bên cạnh những kết quả đạt được về công tác chuyên môn, năm 2017, chúng ta tổ chức nhiều hoạt động thiết thực chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc, qua đó tăng thêm sự hiểu biết, hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm trong công tác thống kê, nâng cao lòng yêu Ngành, yêu nghề của công chức, viên chức và người lao động trong Ngành.

Những kết quả toàn Ngành đã đạt được trong năm qua, cùng với sự quan tâm, lãnh đạo của Bộ trưởng, Ban Cán sự đảng Bộ, sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương, các đơn vị trong Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Lãnh đạo Tổng cục đánh giá cao tinh thần đoàn kết, hợp tác, trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn của toàn thể công chức, viên chức và người lao động ngành Thống kê.

Các đồng chí thân mến,

Năm 2018 đến với chúng ta cùng nhiều thuận lợi và khó khăn thách thức mới. Phát huy truyền thống đoàn kết và những kết quả, kinh nghiệm đã có, toàn Ngành quyết tâm phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức, quyết tâm đổi mới hoạt động thống kê nhằm nâng cao chất lượng số liệu thống kê, thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo thông tin kinh tế - xã hội định kỳ và đột xuất phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Quốc hội, Chính phủ; chủ động nghiên cứu, đề xuất kịp thời các “kịch bản tăng trưởng kinh tế” phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp, các ngành; Đẩy mạnh công tác phân tích và dự báo thống kê; Tập trung làm tốt công tác chuẩn bị Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019; Xử lý đúng kế hoạch để công bố kết quả chính thức Tổng điều tra kinh tế năm 2017; Tiếp tục thực hiện kế hoạch triển khai Luật Thống kê 2015...

Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm  2018, công chức, viên chức và người lao động toàn Ngành hãy tích cực thi đua, nêu cao hơn nữa ý thức trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, phát huy sáng kiến, đổi mới lề lối làm việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Chúc các đồng chí  và gia đình dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và giành nhiều thắng lợi mới !

                                                                              Thân ái,

 

 

NGUYỄN BÍCH LÂM

 

NGÀNH THỐNG KÊ NĂM 2017 VƯỢT KHÓ HOÀN THÀNH

XUẤT SẮC NHIỆM VỤ

TS. Nguyễn Bích Lâm

Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

 

Năm 2017, năm thứ hai cả nước thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Bên cạnh những thuận lợi từ dấu hiệu tiếp tục khởi sắc của năm 2016, kinh tế nước ta đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức bởi diễn biến phức tạp của thời tiết, lũ lụt xảy ra nghiêm trọng tại các tỉnh miền núi phía Bắc và miền Trung đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.

Trong bối cảnh đó, ngành Thống kê triển khai kế hoạch công tác với nhiều nhiệm vụ lớn, một mặt phải bảo đảm tốt nhất thông tin thống kê phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, đánh giá, dự báo tình hình và xây dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các cơ quan Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương; mặt khác triển khai các công việc có tính chất quan trọng, lâu dài như: Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thống kê, tiến hành Tổng điều tra kinh tế năm 2017, thực hiện Đề án đổi mới quy trình biên soạn GRDP, cải tiến phương pháp chế độ thống kê... Cùng với sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Cán sự đảng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng và Lãnh đạo Bộ, sự ủng hộ, phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân; toàn ngành Thống kê đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, đoàn kết, hợp tác, khắc phục khó khăn và hoàn thành xuất sắc kế hoạch công tác năm 2017.

Trước hết, công tác thông tin thống kê luôn được đảm bảo. Ngành Thống kê đã biên soạn và phổ biến kịp thời các Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội phục vụ các phiên họp thường kỳ của Chính phủ, của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các ấn phẩm thống kê phục vụ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các ngành, các cấp trong quản lý, chỉ đạo, điều hành nền kinh tế - xã hội, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của các đối tượng dùng tin trong và ngoài nước. Nội dung các báo cáo phản ánh sát thực tế diễn biến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước; những kết quả đạt được cũng như  khó khăn, thách thức của các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội qua từng quý, 6 tháng, 9 tháng và cả năm 2017. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế thế giới có những biến động khó lường, trong nước gặp khó khăn do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ, hạn hán, bệnh dịch… các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê đã phản ánh kịp thời tình hình thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về những giải pháp chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Chính sách điều hành linh hoạt, kịp thời của Chính phủ góp phần đưa đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2017 của cả nước đạt 6,81% (cao hơn mục tiêu Quốc hội đề ra). Có được kết quả này phải kể đến sự đóng góp đáng kể của Tổng cục Thống kê. Ngành đã xây dựng kịch bản tăng trưởng kinh tế từng quý năm 2017 chi tiết cho từng khu vực và từng ngành kinh tế cấp 2 trọng điểm  và đề xuất các giải pháp báo cáo Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ làm căn cứ để chỉ đạo, điều hành; đã ước tính các chỉ tiêu chủ yếu năm 2017 báo cáo Lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư sử dụng cho công tác chỉ đạo, điều hành và báo cáo Chính phủ, giúp Chính phủ có căn cứ để xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018. Tại địa phương, các Cục Thống kê cũng đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018.

Bên cạnh việc phục vụ tốt yêu cầu thông tin của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, Tổng cục Thống kê tiếp tục thực hiện tốt việc cung cấp thông tin thường xuyên, đột xuất tới các đối tượng dùng tin khác trong nước, các tổ chức quốc tế như cơ quan Thống kê Liên hợp quốc, Ban thư ký ASEAN, UNSD, IMF, WB, FAO, ESCAP, ILO, Đại sứ quán của nhiều nước...

Hai là, các cuộc điều tra, tổng điều tra được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Trong năm 2017, toàn Ngành đã thực hiện 29 cuộc tổng điều tra, điều tra thống kê. Trong đó tập trung vào một số cuộc điều tra như: Tổng điều tra kinh tế năm 2017, Điều tra doanh nghiệp trong Tổng điều tra kinh tế năm 2017, Khảo sát mức sống dân cư và các cuộc điều tra thường xuyên khác. Ngoài ra, để phục vụ nhu cầu thông tin của địa phương, nhiều Cục Thống kê cấp tỉnh còn thực hiện một số cuộc điều tra thống kê phục vụ nhu cầu thông tin của chính quyền địa phương.

Ba là, việc hợp tác chia sẻ thông tin từ các Bộ, ngành Trung ương và Sở, ngành địa phương được đẩy mạnh. Đã có nhiều Bộ, ngành ký Quy chế phối hợp với Tổng cục Thống kê. Hiệu quả từ việc ký kết chia sẻ thông tin này đã được khẳng định trong thực tế. Đơn cử như với Tổng cục Thuế, sau một năm thực hiện chia sẻ thông tin (cơ sở dữ liệu vi mô) giữa hai cơ quan đã giúp cho ngành Thống kê có thông tin tương đối đầy đủ, kịp thời về khu vực doanh nghiệp, giảm được gánh nặng của điều tra doanh nghiệp. Quy chế phối hợp thực sự có hiệu quả và ý nghĩa lâu dài đối với hoạt động chuyên môn của hai Ngành.

Bốn là, công tác tuyên truyền Luật thống kê, tăng cường thanh tra, kiểm tra các đơn vị, cũng như sự quan tâm, chỉ đạo, thực hiện kịp thời tại địa phương, đã giúp cho việc chấp hành chế độ báo cáo thống kê của các cơ quan, đơn vị cơ sở có nhiều tiến bộ hơn những năm trước; Bên cạnh đó,  một số Cục Thống kê đã khai thác sử dụng thông tin từ các cơ sở dữ liệu đăng ký hành chính của một số Sở, ngành (giúp cho việc cập nhật dữ liệu thông tin có liên quan, phục vụ điều tra doanh nghiệp và các cuộc điều tra khác, đồng thời để đối chứng số liệu do ngành Thống kê thu thập tổng hợp) đã góp phần nâng cao chất lượng số liệu thống kê.

Một trong những kết quả nổi bật khác của ngành trong năm 2017 là công tác phân tích, dự báo được tăng cường, nhất là các phân tích chuyên sâu, chuyên đề. Tổng cục Thống kê đã chủ trì tổng hợp Báo cáo của Chính phủ về kiểm kê, đánh giá thực chất tình hình các nguồn lực của nền kinh tế hiện nay để báo cáo Bộ Chính trị; biên soạn báo cáo Thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam so với các nước trong khu vực báo cáo Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Để có được kết quả này, Ngành đã thành lập Tổ phân tích và dự báo thống kê của Tổng cục; và Tổ này đã có những hoạt động cụ thể như: Xác định công cụ phần mềm sử dụng trong công tác phân tích dự báo thống kê, xây dựng kế hoạch phân tích và dự báo năm 2018, phối hợp với các đơn vị thực hiện các báo cáo chuyên sâu phục vụ báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2017, tổ chức tự đào tạo kiến thức kinh tế vĩ mô và phương pháp dự báo định lượng, phân công các thành viên trong tổ tham dự các khóa đào tạo, hội thảo ở nước ngoài về phân tích và dự báo thống kê. Sắp tới, việc nâng cao chất lượng phân tích và dự báo thống kê không chỉ được thực hiện bài bản ở Tổng cục mà cần được nhân rộng mô hình này đến các địa phương.

Triển khai Luật Thống kê tiếp tục được đẩy mạnh. Trong năm 2017, Ngành đã triển khai xây dựng và trình nhiều văn bản dưới Luật để nhanh chóng đưa Luật Thống kê  vào cuộc sống, như: Nghị định quy định cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống tổ chức thống kê tập trung và thống kê Bộ, cơ quan ngang Bộ; Thông tư về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành Kế hoạch, Đầu tư và Thống kê; Nghị định quy định chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia; Quyết định về phân loại thống kê cấp quốc gia (bảng phân loại tiêu dùng theo mục đích của hộ gia đình); Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hànhHệ thống ngành kinh tế Việt Nam năm 2017...

Ngành tiếp tục thực hiện Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Triển khai Đề án tăng cường quản lý Nhà nước về chất lượng thống kê đến năm 2030; Đề án Hội nhập Thống kê ASEAN giai đoạn 2016 – 2020; Đề án xây dựng Bộ chỉ số đánh giá mức độ hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; Hoàn thiện dự thảo Đề án ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin - truyền thông trong Hệ thống thống kê Nhà nước giai đoạn 2017 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Thực hiện Đề án này nhằm ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong điều tra thống kê, sử dụng dữ liệu hành chính, khai thác dữ liệu lớn để biên soạn thông tin thống kê, trong phổ biến thông tin thống kê theo hướng hiện đại; với mục tiêu chính là nâng cao chất lượng thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành đất nước dựa trên thông tin thống kê.

 Đặc biệt, việc triển khai Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu GRDP đã đạt được những kết quả tích cực. Tổng cục Thống kê đã thành lập Tổ công tác thực hiện biên soạn GRDP; xây dựng, cài đặt và triển khai phần mềm biên soạn số liệu GDP toàn quốc và tính GRDP cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo đúng kế hoạch; ban hành biểu mẫu và hướng dẫn các đơn vị thực hiện rà soát số liệu GRDP chính thức 6 tháng đầu năm 2015, sơ bộ 6 tháng đầu năm 2016; rà soát số liệu GRDP chính thức năm 2015 và sơ bộ năm 2016; công bố số liệu sơ bộ GRDP 6 tháng đầu năm 2017 và số liệu ước tính GRDP năm 2017 cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Công tác phương pháp chế độ thống kê trong hoạt động thống kê cũng luôn được Tổng cục Thống kê chú trọng nghiên cứu, cải tiến và ứng dụng phương pháp thống kê mới nhằm nâng cao chất lượng của các sản phẩm thống kê.

Năm 2017, công tác hợp tác quốc tế được duy trì với nhiều hoạt động được triển khai. Đến hết năm 2017, Tổng cục đã cử nhiều đoàn công tác tham dự hội nghị, hội thảo, khảo sát, học tập tại nước ngoài. Hoạt động hợp tác song phương tiếp tục được thực hiện theo kế hoạch, trong đó: Cơ quan Thống kê Nhật Bản sang thăm và làm việc với Tổng cục Thống kê về sử dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thống kê, Viện Thống kê Italia và Cơ quan hợp tác phát triển Italia sang thăm và làm việc về xây dựng dự án hỗ trợ kỹ thuật nâng cao năng lực thống kê giai đoạn 2018-2020; tổ chức kỳ họp song phương lần thứ 21 với Cơ quan Thống kê Hàn Quốc năm 2017 tại Việt Nam tháng 8/2017; thực hiện hoạt động hợp tác với Cơ quan Thống kê Thổ Nhĩ Kỳ về thống kê nông nghiệp. Chuẩn bị cho Hội nghị tổng điều tra dân số thế giới lần thứ 29 tại Đà Nẵng từ 11-13/7/2018, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phê duyệt Đề án triển khai thực hiện, hiện Tổng cục đang biên soạn Kế hoạch chi tiết thực hiện Đề án.

Về việc triển khai các dự án ODA, trong năm 2017, Tổng cục đã hoàn thiện các thủ tục để tiếp nhận các dự án do các tổ chức quốc tế tài trợ cho Tổng cục Thống kê như:(1) Dự án “Hỗ trợ các cơ quan Việt Nam trong việc cung cấp và sử dụng số liệu, bằng chứng có chất lượng về dân số và phát triển phục vụ xây dựng và giám sát thực hiện các chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2017 - 2021” do UNFPA tài trợ; (2) Dự án hỗ trợ đảm bảo việc thực hiện quyền trẻ em thông qua lồng ghép quyền trẻ em vào Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng hiệu quả nguồn hỗ trợ của UNICEF trong chương trình quốc gia giai đoạn 2017 - 2021. Bên cạnh đó, Tổng cục đang hoàn thiện thủ tục, triển khai thực hiện dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ; đang triển khai các hoạt động hỗ trợ thực hiện SDG do UNSD tài trợ; đang nghiên cứu xây dựng dự án hỗ trợ kỹ thuật về ICT do Chính phủ Nhật Bản tài trợ; đang hoàn thiện thủ tục cho Dự án hỗ trợ kỹ thuật do Cơ quan hợp tác phát triển I-ta-li-a tài trợ.

Hoạt động phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong năm qua tiếp tục được chú trọng. Tổng cục đã trang bị nhiều máy tính để bàn có cấu hình cao cho các đơn vị để phục vụ công tác chuyên môn toàn Ngành. Việc nghiên cứu, ứng dụng giải pháp thu thập thông tin điều tra qua thiết bị di động tiếp tục được thực hiện. Trong năm qua, Tổng cục Thống kê đã sử dụng máy tính bảng cho cuộc điều tra giá tiêu dùng, điều tra lao động việc làm; thử nghiệm thu thập thông tin bằng máy tính bảng trong điều tra thí điểm lần thứ nhất Tổng điều tra dân số và nhà ở, trong Khảo sát mức sống dân cư…Tại địa phương, nhiều Cục Thống kê đã áp dụng công nghệ thông tin trong việc truyền đưa báo cáo giữa Cục Thống kê với Chi Cục Thống kê và ngược lại. Một số Cục Thống kê đã kết nối mạng với đường truyền dữ liệu của tỉnh, thành phố để thực hiện việc truyền đưa thông tin được thông suốt, liên tục.

Công tác nghiên cứu khoa học tiếp tục được tăng cường. Công tác pháp chế, tuyên truyền kiến thức thống kê đã được Tổng cục Thống kê triển khai đồng bộ, kịp thời ngay từ đầu năm và xác định đây là công việc thường xuyên, có đóng góp rất quan trọng trong việc khẳng định vị trí của thông tin thống kê Nhà nước đối với các cơ quan Đảng, Nhà nước và người dùng tin.

Để nâng cao chất lượng thu thập thông tin thống kê đầu vào, Tổng cục Thống kê đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện phương án điều tra, chấp hành chế độ báo cáo thống kê, qua thanh tra, kiểm tra, giám sát đã kịp thời chỉ ra những bất cập, tồn tại giúp cơ quan có thẩm quyền khắc phục kịp thời. Năm 2017, ngành Thống kê đã thực hiện 429 cuộc thanh tra chuyên ngành (Tổng cục Thống kê thực hiện 12 cuộc, các Cục Thống kê thực hiện 417 cuộc) đối với 549 đối tượng thanh tra là tổ chức; trong đó, số cuộc thanh tra thành lập đoàn 409 cuộc, số cuộc thanh tra độc lập 20 cuộc.

Bên cạnh các thành tích đã đạt được trong năm 2017, Ngành cũng còn tồn tại những hạn chế, như: Việc rà soát trước khi tiến hành thu thập thông tin thống kê chưa thực hiện chu đáo, chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng mất mẫu điều tra; công tác thu thập thông tin của điều tra viên còn nhiều bất cập; chất lượng thông tin thống kê có những hạn chế, vẫn còn hiện tượng không sử dụng thông tin đầu vào để làm báo cáo thống kê; kết quả điều tra của một số cuộc điều tra vẫn còn sự sai lệch so với kết quả thanh tra, phúc tra; việc nghiên cứu và ứng dụng phương pháp thống kê mới trong hoạt động thống kê chưa thực sự quyết liệt; công tác kiểm tra, giám sát điều tra thực hiện chưa nghiêm túc

Năm 2018, với phương châm hoạt động của Chính phủ là “Kỷ cương, Liêm chính, Hành động, Sáng tạo, Hiệu quả” thì việc cung cấp thông tin thống kê phục vụ quản lý điều hành của Chính phủ cần phải được đặc biệt chú trọng, kịp thời và thường xuyên. Toàn Ngành quyết tâm phấn đấu, phát huy tinh thần đoàn kết, vượt qua thách thức, thực hiện tốt nhiệm vụ công tác trọng tâm năm 2018. Từng công chức, viên chức và người lao động trong toàn Ngành cần tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, đoàn kết, yêu ngành, yêu nghề; nỗ lực khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt chương trình công tác năm 2018./.

 

KINH TẾ VIỆT NAM – DẤU ẤN NĂM 2017 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2018

Tiến Long

Năm 2017 đã khép lại với nhiều thành công ấn tượng trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Những thành quả đạt được trong năm 2017 sẽ là nền tảng để kinh tế Việt Nam tiến nhanh trong năm 2018 với những vận hội mới, thời cơ mới, thuận lợi mới, tiếp đà thành công, vượt qua thách thức, hoàn thành mục tiêu đã đặt ra.

Dấu ấn năm 2017

Năm 2017, những nỗ lực trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Chính phủ và toàn hệ thống chính trị đã làm nên “một năm đặc biệt” với nhiều dấu ấn và kỷ lục mới. Lần đầu tiên sau nhiều năm, Việt Nam đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức 13/13 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội do Quốc hội đề ra, trong đó, tăng trưởng GDP đạt 6,81%, vượt mục tiêu 6,7% và là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. (…)

Năm 2017 cũng là năm ghi nhận nhiều dấu ấn về phương diện kinh tế của Việt Nam với hàng loạt các kỷ lục được thiết lập như: Xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, công nghiệp chế biến, chế tạo, doanh nghiệp thành lập mới, kinh tế tư nhân lần đầu tiên được xác định là thành phần quan trọng của nền kinh tế... Theo các chuyên gia kinh tế, đây là những điểm sáng trong bức tranh kinh tế của Việt Nam, là yếu tố quan trọng đóng góp vào mức tăng trưởng GDP cả nước trong năm qua. (…)

Triển vọng năm 2018

Năm 2018, tăng trưởng kinh tế và thương mại của thế giới dự báo tốt hơn năm 2017, tạo thuận lợi hơn cho phát triển kinh tế và xuất khẩu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Các chuyên gia kinh tế nhận định năm 2018, nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục giữ vững đà tăng trưởng. (…)

Chính phủ đã xác định thực hiện nhất quán trọng tâm chỉ đạo điều hành năm 2018 là: (1)  Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; (2) Tập trung thực hiện quyết liệt và đồng bộ 3 đột phá chiến lược; (3) Tạo chuyển biến rõ nét và thực chất trong cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; (4) Bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội; (5) Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu; (6) Thúc đẩy mạnh mẽ cải cách hành chính; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng Chính phủ điện tử phục vụ người dân gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo…

Năm 2018 được coi là năm bản lề trong kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội 5 năm 2016-2020. Hy vọng rằng, với tiền đề thuận lợi từ năm 2017 cùng với sự nắm bắt, tận dụng được các cơ hội, Việt Nam sẽ biến vận hội mới thành hiện thực trong năm 2018./.

 

THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM – TRIỂN VỌNG VÀ ÁP LỰC CẠNH TRANH

Thu Hòa

Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường bán lẻ năng động và hấp dẫn trong khu vực châu Á và trên thế giới. Xu hướng mở cửa thị trường theo các cam kết hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, cùng với sự tham gia ngày càng nhiều của các nhà bán lẻ lớn trên thế giới tại Việt Nam đã và đang mở ra những triển vọng phát triển lớn cho ngành bán lẻ, song cũng khiến cho các doanh nghiệp trong nước gặp nhiều áp lực cạnh tranh trong việc nâng cao chất lượng phục vụ và thay đổi cách thức kinh doanh.

Thị trường bán lẻ Việt Nam - những thành quả đạt được

Hoạt động bán buôn, bán lẻ hàng hóa ở Việt Nam đã sớm có bước chuyển mạnh mẽ từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổimới. Và hiện nay sự phong phú, đa dạng của thị trường bán lẻ đã ngày càng đáp ứng kịp thời các nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng trong thời kỳ hội nhập và là một thị trường tiềm năng, hấp dẫn đầu tư cả trong và ngoài nước.

Những năm qua, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của Việt Nam có sự tăng trưởng nhanh, cho thấy tiêu dùng trong nước luôn là một động lực quan trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế quốc gia. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ của thị trường bán lẻ Việt Nam tăng mạnh qua các năm. Cụ thể, năm 2010 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 1.677 nghìn tỷ đồng, năm 2015 con số này tăng lên gần gấp đôi là 3.223 nghìn tỷ đồng, năm 2016 đạt 3.568 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1%. (…)

Tiềm năng song hành cùng thách thức

Với trên 90 triệu dân, trong đó dân số trẻ chiếm tỷ lệ cao và khả năng thay đổi thói quen tiêu dùng dễ được hình thành ở bộ phận dân số chiếm số đông này, là lợi thế đầu tiên để ngành bán lẻ ở Việt Nam phát triển. Từ việc thay đổi thói quen tiêu dùng, người trẻ cũng sẽ có thời gian gắn bó với thương hiệu mới lâu hơn, do đó, các chuỗi cửa hàng bán lẻ thường hướng tới đối tượng khách hàng này đầu tiên, mở ra những thị trường đầy hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. (…)

Xu hướng và một số giải pháp phát triển thị trường bán lẻ thời gian tới

Theo dự báo trong thời gian tới, ngành dịch vụ bán lẻ ở nước ta sẽ vẫn có sức hấp dẫn lớn với các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Trong đó, một số hình thức được dự báo là có xu hướng phát triển mạnh như:

Một là, hình thức cửa hàng bán hàng trực tiếp: (…)

Hai là, các cửa hàng nhỏ chuyên biệt từng ngành hàng sẽ được ưa chuộng hơn:Người tiêu dùng đang có xu hướng tập trung vào các cửa hàng nhỏ chuyên biệt hơn, với nhiều lợi ích mà các cửa hàng nhỏ này mang lại. Đồng thời, doanh nghiệp sẽ tốn ít chi phí hơn để đầu tư, quản lý, vận hànhvà đảm bảo nguồn hàng.

Ba là, giao hàng nhanh cũng sẽ trở thành xu hướng phát triển, (…)

Bốn là, các nhà bán lẻ sẽ thâm nhập các ngành khác:Ngành bán lẻ đang có xu hướng kết hợp với ngành giải trí. (…)

Năm là, ngành bán lẻ trong tương lai không thể tách rời các ứng dụng khoa học kỹ thuật đang nổi lên như: Internet vạn vật, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo, robot, máy bay và xe không người lái… (…)

Ngoài ra, việc mua bán và sáp nhập vẫn sẽ là xu hướng phát triển ngành bán lẻ ở nước ta trong một số năm tiếp theo, chính vì vậy các doanh nghiệp trong nước cần sự đầu tư chuyên môn từ các doanh nghiệp nước ngoài, bởi khối doanh nghiệp nước ngoài thường có nhiều kinh nghiệm trong việc mang đến những sản phẩm bán lẻ chất lượng cũng như đưa các nhà bán lẻ chất lượng vào thị trường Việt Nam. (…)

Bán lẻ là một ngành kinh tế lớn, với số lượng chủ thể kinh doanh nhiều, mang lại thu nhập cho một bộ phân dân cư quan trọng và là đầu ra quyết định đáng kể tới triển vọng của các ngành sản xuất. Chính vì vậy, để phát triển bền vững, doanh nghiệp trong nước cần chú trọng tới việc xây dựng đội ngũ nhân sự phù hợp, chuyên nghiệp để chuẩn bị cho sự hội nhập cuộc cách mạng công nghiệp 4.0./.

 

NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

ThS. Đậu Ngọc Hùng

Vụ trưởng Vụ Thống kê Tổng hợp –TCTK

 

Trải qua hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. Nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, từ một quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình và một nền kinh tế thị trường năng động. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người năm 2017 đạt 2.385 USD, gấp 24 lần năm 1990. Kinh tế vĩ ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, lạm phát được kiểm soát; môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện; kinh tế đối ngoại đạt kết quả rõ rệt với kim ngạch xuất, nhập khẩu, thu hút khách du lịch quốc tế và đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2017 đạt mức kỷ lục. Các lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội được quan tâm thực hiện và đạt kết quả nhất định. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58,1% năm 1993 xuống còn 14,5% năm 2008 và tiếp tục giảm xuống 5,8% năm 2016.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đã bộc lộ những yếu kém nội tại. Quy mô kinh tế còn nhỏ, chất lượng tăng trưởng thấp, cơ cấu kinh tế chậm đổi mới; hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Thực tế cho thấy việc tăng trưởng theo chiều rộng đang bị thu hẹp dần, thậm chí có yếu tố đã tận khai, nhưng động lực của tăng trưởng theo chiều sâu (hiệu quả sử dụng nguồn lực, năng suất lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp) lại chưa cải thiện nhiều. Chính vì thế, để tránh nguy cơ tụt hậu và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả, trong đó trung tâm là cải thiện năng suất lao động để tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong tương lai.

1. Thực trạng NSLĐ của Việt Nam

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, NSLĐ toàn nền kinh tế theo giá hiện hành tăng đều qua các năm, cụ thể năm 2011-2017 lần lượt đạt là 55,2 triệu đồng/lao động; 63,1 triệu đồng/lao động; 68,7 triệu đồng/lao động; 74,7 triệu đồng/lao động; 79,4 triệu đồng/lao động; 84,5 triệu đồng/lao động; 93,2 triệu đồng/lao động.Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2017 tăng 6% so với năm 2016, bình quân giai đoạn 2011-2017 tăng 4,7%/năm. (…)

2. Một số giải pháp nâng cao năng suất lao động

* Giải pháp về thể chế chính sách

Cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, cải thiện môi trường kinh doanh, cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, Chính phủ và các Bộ, ngành cần xác định việc tạo lập và thực thi chính sách nhằm nâng cao năng suất lao động là giải pháp quan trọng hàng đầu trong nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế, (…)

* Giải pháp chung cho nền kinh tế

- Duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.

- Cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp thực tế, gắn với thị trường và thích nghi biến đổi khí hậu (...).

- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành dựa vào lợi thế, tiềm năng phát triển từng ngành, chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ có giá trị cao; chuyển dịch trong nội bộ ngành công nghiệp từ sản xuất dựa vào lao động sang dựa vào công nghệ, hàng có giá trị gia tăng cao.

- Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại đã ký kết, nhất là các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

- Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động đầu tư cho khoa học công nghệ; phát triển đầy đủ thị trường khoa học và công nghệ và tăng cường hiệu quả của các chợ công nghệ, chuyển giao công nghệ. 

- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới giáo dục, đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu của xã hội và hội nhập quốc tế.

* Giải pháp nâng cao NSLĐ cho khu vực doanh nghiệp

Khu vực doanh nghiệp chiếm vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế; nâng cao NSLĐ khu vực doanh nghiệp sẽ đóng vai trò quyết định tới việc nâng cao NSLĐ của nền kinh tế. (…)./.

 

KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2017 VÀ TRIỂN VỌNG NĂM 2018

Trúc Linh

 

Bức tranh kinh tế toàn cầu năm 2017 được đánh giá khá tích cực khi nhiều tổ chức tài chính trên thế giới đồng loạt nâng mức dự báo tăng trưởng kinh tế lên 3,6%-3,7%, cao hơn nhiều so với con số 3,2% đạt được trong năm 2016. Theo các chuyên gia kinh tế, đây là tín hiệu đáng mừng cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của kinh tế thế giới trong năm qua, hứa hẹn nhiều triển vọng lạc quan hơn trong năm 2018.

Năm 2017: kinh tế toàn cầu đồng loạt khởi sắc

Theo các chuyên gia kinh tế, kể từ khi bùng phát cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu 2008 -2009, các nền kinh tế từ đầu tàu là Mỹ cho tới các nước phát triển và các nước mới nổi đều đang phát ra nhiều tín hiệu lạc quan về tăng trưởng kinh tế. Kinh tế Mỹ đang trong chu kỳ tăng trưởng dài nhất trong lịch sử, còn kinh tế Trung Quốc là động lực tăng trưởng toàn cầu trong những thập niên gần đây vẫn đang trong xu hướng đóng góp nhiều hơn. Trong khi đó, châu Âu và Nhật Bản –vốn có tốc độ tăng trưởng khiêm tốn trong nhiều năm qua cũng đã bứt phá, tăng trưởng trở lại với nhịp độ trung bình và trở thành động lực thúc đẩy kinh tế toàn cầu khởi sắc. (…)

Triển vọng năm 2018: Diễn biến theo xu hướng thuận lợi

Bước sang năm 2018, hầu hết các tổ chức quốc tế đều đưa ra những nhận định lạc quan về nền kinh tế toàn cầu. Trong báo cáo “Tình hình và những triển vọng của nền kinh tế thế giới năm 2018” Liên Hợp Quốc nhận định kinh tế thế giới dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng ổn định trong hai năm 2018-2019. Sự cải thiện diễn ra trên diện rộng với khoảng 2/3 số quốc gia trên thế giới với mức tăng trưởng cao hơn. Nền kinh tế thế giới tăng trưởng chủ yếu nhờ mức tăng trưởng vững hơn ở một số nền kinh tế phát triển, cùng với sự phát triển của khu vực Đông Á và Nam Á - là những khu vực phát triển năng động nhất thế giới. Bên cạnh đó, việc Áchentina, Braxin, Nigeria và Nga thoát khỏi suy thoái kinh tế cũng góp phần giúp nền kinh tế thế giới khởi sắc với sự hỗ trợ từ hoạt động thương mại hồi phục và môi trường đầu tư cải thiện trên toàn cầu. (…)

Các chuyên gia của WB cho rằng, chắc chắn năm 2018 sẽ là năm đầu tiên nền kinh tế thế giới hoạt động hết hoặc gần hết công suất kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính. Dự kiến các hiện tượng trì trệ trong nền kinh tế sẽ không còn nữa, nên các nhà hoạch định chính sách cần có tầm nhìn xa hơn việc đơn thuần sử dụng các công cụ tiền tệ và tài khóa vốn chỉ thúc đẩy tăng trưởng ngắn hạn. Thay vào đó họ cần xem xét các sáng kiến thúc đẩy tăng trưởng tiềm năng dài hạn. Bên cạnh đó, xu thế tăng trưởng rộng khắp trên toàn cầu là tín hiệu rất đáng mừng nhưng cũng không nên tự mãn. Đây sẽ là cơ hội đầu tư lớn vào nguồn vốn con người và cơ sở vật chất. Nếu các nhà hoạch định chính sách trên thế giới tập trung vào các lĩnh vực trọng yếu thì họ có thể giúp đất nước mình nâng cao năng suất, tạo thêm việc làm và hoàn thành sớm mục tiêu xóa bỏ nghèo cùng cực và chia sẻ thịnh vượng./.

 

HÀ TĨNH: KẾT QUẢ SƠ BỘ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2017

 

Nguyễn Việt Hùng

   Cục trưởng Cục Thống kê, Phó Trưởng ban BCĐ TĐTKT tỉnh Hà Tĩnh

 

Theo kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2017,  tỉnh Hà Tĩnh có 79.515 cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp, tôn giáo với số lao động là 251.504 người. So với kết quả Tổng điều tra năm 2012, số lượng cơ sở tăng 10,12%, số lượng lao động tăng 14,75%. Đây là kết quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, quá trình đô thị hóa mạnh mẽ trong những năm gần đây.

Về khối doanh nghiệp 

Theo kết quả Tổng điều tra, đến ngày 31/12/2016, trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh hiện có 4.813 doanh nghiệp thực tế đang hoạt động, tăng 83,91%  so Tổng điều tra năm 2012. Số lượng lao động sử dụng trong các cơ sở này là 83.555 lao động, tăng 28,20% so Tổng điều tra năm 2012. (…)

Về khối Hành chính sự nghiệp

Theo kết quả Tổng điều tra kinh tế 2017, tỉnh Hà Tĩnh có 2.601 đơn vị hành chính sự  nghiệp, giảm 6,24% so năm 2012. Trong đó số cơ sở sự nghiệp có 1.234 cơ sở (chiếm 47,44%), cơ sở hành chính 598 cơ sở, (chiếm 22,99%);  cơ sở Đảng, Đoàn thể và hiệp hội là 769 cơ sở (chiếm 29,57%) tổng số cơ sở hành chính, sự nghiệp. Số lao động thống kê được là 50.682 người, tăng 3,21% so với Tổng điều tra năm 2012. Bình quân mỗi cơ sở có 19,49 người. (…)

Về khối cá thể

Tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể tỉnh Hà Tĩnh có đến 01/7/2017 là 71.488 cơ sở, tăng 7,63% so Tổng điều tra năm 2012.

Tương ứng với số cơ sở, các đơn vị có số lao động sử dụng cao trong tỉnh như Thành phố Hà Tĩnh 19.309 lao động (chiếm 16,68%); Can Lộc 10.770 lao động (chiếm 9,30%); Cẩm Xuyên 9.439 lao động (chiếm 8,15%); Thạch Hà 10.229 lao động (chiếm 8,83%), Hương Sơn 9.013 lao động (chiếm 7,78%), Đức Thọ 10.526 lao động (chiếm 9,09%) tổng số lao động. (…)

Về khối tôn giáo

  Tổng số cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng có 613 cơ sở, tăng 55,58% so Tổng điều tra năm 2012, với tổng số 2774 lao động ; trong đó cơ sở Phật giáo 113 cơ sở, Công giáo 266 cơ sở và 234 cơ sở đền, chùa, am, miếu, tín ngưỡng khác.

Số cơ sở tôn giáo tín ngưỡng các huyện, thành phố, thị xã chiếm tỷ lệ lớn như sau: Hương Khê có 93 cơ sở (chiếm 15,17%); Thạch Hà có 75 cơ sở (chiếm 12,23%); Đức Thọ có 67 cơ sở (chiếm 10,93%); Nghi Xuân có 64 cơ sở (chiếm 10,44%) tổng số cơ sở./.

 

NGHỆ THUẬT BÀI CHÒI TRUNG BỘ - NÉT ĐỘC ĐÁO DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA NHÂN LOẠI

 

Nghệ thuật bài chòi Trung bộ Việt Nam là một loại hình nghệ thuật đa dạng kết hợp âm nhạc, thơ ca, diễn xuất, hội họa và văn học. Mới đây, tháng 12/2017, loại hình nghệ thuật đặc sắc này của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Việc UNESCO ghi danh Nghệ thuật bài chòi Trung bộ Việt Nam tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại khẳng định bản sắc văn hóa phong phú của dân tộc Việt Nam, thể hiện cam kết của Việt Nam đối với công tác bảo tồn, gìn giữa các giá trị văn hóa của nhân loại, sự gắn kết cộng đồng, đề cao sự đa dạng văn hóa, khuyến khích đối thoại giữa các cá nhân, các cộng đồng và các dân tộc khác nhau vì tình yêu và lòng bác ái đúng theo tôn chỉ và mục tiêu của Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO.

Theo tương truyền dân gian, bài chòi xuất hiện tại Bình Định vào khoảng thế kỉ 17. Từ việc sống trong các chòi canh thú dữ ở vùng trung du, người dân đã từng bước sáng tạo nên hội đánh bài Chòi để giải trí sau đó trở thành một hình thức nghệ thuật dân gian thường tổ chức trong dịp Tết cổ truyền. Không gian tổ chức hội bài chòi thường là đình làng hoặc khu đất trống. Trên đó, người ta dựng hai dãy “chòi con” bằng tre song song nhau (mỗi dãy gồm 4 chòi), một đầu giữa hai dãy chòi là “chòi cái” được dựng lớn và cao hơn. (…)

Ngày nay, nghệ thuật Bài chòi đã trở thành một hình thức sinh hoạt văn hóa và giải trí trong cộng đồng làng xã, phổ biến ở các tỉnh/thành phố: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Đà Nẵng. Ở nhiều địa phương, chính quyền đặc biệt quan tâm đến việc khôi phục bộ môn nghệ thuật này. Hiện việc truyền dạy bài Chòi diễn ra chủ yếu trong gia đình, câu lạc bộ và trong các trường học. Ở Quảng Nam, không chỉ đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông như nghệ thuật Tuồng, mà còn tổ chức nhiều cuộc thi hô hát bài Chòi thường xuyên trong năm./.

 

NHÀ DÀI: CÔNG TRÌNH VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI Ê – ĐÊ

Trúc Linh

 

Nhà dài của đồng bào Ê-đê là một công trình văn hóa độc đáo, là nét đặc trưng của chế độ mẫu hệ. Đây là sản phẩm tiêu biểu của tổ chức công xã thị tộc nhằm thích ứng với môi trường thiên nhiên, tránh thiên tai, thú dữ và bảo vệ sự sống của các thành viên trong cộng đồng, đồng thời cũng là nơi sinh hoạt văn hóa của đồng bào.

Nhà dài là nhà sàn, làm bằng tre nứa và gỗ, mặt sàn và vách tường bao quanh nhà làm bằng thân cây bương hay thân tre già đập dập. Nhà dài có mái thường được lợp bằng cỏ tranh. Tranh lợp từng cụm, ngọn thả xuôi mái, gốc bẻ gập xuống vào bên trong. Người Ê- đê thường làm nhà theo hướng Bắc- Nam, mái nhô ở hai đầu hồi che cột hiên. Phên dựng ở hai đầu hồi thẳng đứng, còn phên dựng theo chiều dài thì ngã ra hai bên, nếu nhìn từ xa, ngôi nhà có hình dáng một cái thuyền. Trước đây, nhà dài thường rất dài, mỗi nhà có chiều dài trên 100 mét, cá biệt có những ngôi nhà dài lên đến 200 m. Tuy nhiên, ngày nay chiều dài của những ngôi nhà dài chỉ phổ biến từ 25 - 30 mét. Đồng bào dân tộc Ê – Đê thường ví “nhà dài như tiếng chiêng ngân” vì nếu đứng ở đầu nhà dài đánh chiêng thì cuối nhà chỉ còn nghe rất nhỏ. (…)

Nhà dài với những giá trị, sắc thái mang đậm ý nghĩa nhân văn của văn hóa truyền thống đã là niềm tự hào của dân tộc Ê- đê. Tín ngưỡng và chế độ mẫu hệ của đồng bào dân tộc Ê- đê qua nhà dài đã tồn tại tốt đẹp cùng với thời gian.Trên tất cả, nhà dài là nét đẹp văn hóa rất tiêu biểu của các dân tộc ít người tại Việt Nam, góp phần quan trọng làm đa dạng hơn cho truyền thống, tạo nên bản sắc văn hóa người Việt./.

 

TRIẾT LÝ HOA MAI    

Nguyễn Tuấn

 

Đánh giá một cây mai đẹp hay xấu có thể mỗi người có một cách nhìn khác nhau. Quan niệm xưa và nay càng không giống nhau. Vì rằng mỗi thế hệ có cách chơi mai theo phong cách riêng.

Dáng thế mai kiểng theo cách xưa thường nói lên tính cách con người mà người chủ cây mai kiểng ưa thích nhất, đó cũng là sự thể hiện tấm lòng của chủ nhân cây mai với khách thưởng mai. Mỗi dáng thế có một ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Nhân ngày đầu xuân xin giới thiệu đến bạn đọc các dáng thế mai tiêu biểu sau:

Thế "Trực quân tứ": Là sự hàm ý nói lên tính bất khuất trước cường quyền, bạo lực. Là người có phẩm hạnh tốt, có đạo đức cao quý và nhân cách cao đẹp. Biểu hiện ý chí của người biết mưu cầu hạnh phúc cho mọi người. (…)

Thế Tam cương Ngũ thường: Tam cương trong thuyết Nho giáo gồm: Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), và Phu thê (vợ chồng). Còn ngũ thường là năm đạo làm người thời xưa gồm: Nhân (biết thương người); Lễ (những nghĩ lễ trong giao tiếp), Nghĩa (theo việc đúng đắn mà làm), Trí (sự thông minh, khôn ngoan) và Tín (giữ lời hứa, không gian dối). Người nào hội đủ được cả "Tam cương ngũ thường" là người mẫu mực, đáng trọng vọng trong xã hội. Cây cảnh được uốn theo dáng “Tam cương ngũ thường” chính là mong nuốn của người chơi mai hướng gia đình, con cháu về đạo làm người. (…)

Thế Quần tụ tam sơn: Đề cao sự đoàn kết của nhiều người cùng chung chí hướng, hỗ trợ nhau chống lại mọi nghịch cảnh, kẻ thù. Cây mai theo đề tài "Quần thụ tam sơn" phải được sắp xếp ba cây mai trồng trong cùng một chậu, cây lớn đứng giữa, hai cây nhỏ hơn trồng hai bên, ngang hàng với nhau hoặc hai cây nhỏ lùi sau cây lớn một chút, sao cho cả ba cây mai kết hợp lại có hình chữ "Sơn" nghĩa là núi mới đạt yêu cầu. (…)

Các thế uốn sửa cây của người xưa rất đa dạng, mặc dầu bị gò bó vào những lệ luật khắt khe như phải giữ được cho cây còn đọt chủ; thân chủ, nghĩa là không cho phép được cưa đọt, còn thân cũng không được cắt ngang, không dùng cành ghép để thế thân như cách ghép mai thời hiện đại. Điều đáng nói là ý nghĩa của các dáng thế mai xưa đều nhằm vào việc kí thác rất nghiêm túc những tâm tư nguyện vọng sâu xa mà người chơi mai, trồng mai hướng đến. Có lẽ vì thế mà hầu hết các cây kiểng thế trước đây đều là vô giá..../.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 12/2018 (537)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2018 (536)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2018 (535)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2018 (534)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)