English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 5/2018 (530)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 5/2018 (530)

Ra hàng tháng. Năm thứ 57

 

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

 

Lễ công bố Quyết định bổ nhiệm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

Cục Thống kê Thái Bình: Tổ chức hội nghị tập huấn công tác thanh tra và phổ biến thông tin Thống kê

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước tháng 5/2018

Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh năm 2017

¨ MINH HẢI

CPTPP – Cơ hội và thách thức cho Việt Nam

¨ ThS.TRẦN PHƯƠNG THẢO – ThS. NGUYỄN THỊ DIỆU HIỀN

30 năm cùng FDI – Một số thành tựu

¨ TS. NGUYỄN QUÁN

Logistics: Nỗ lực phát triển trong hội nhập

¨ THU HÒA

Thực hiện các FTA thế hệ mới: Giải pháp phát triển xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam

¨ TS. LÊ HUY KHÔI

Ngành da giày trước cơ hội từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU

¨ ThS. TRẦN QUANG VIỆT

Thực trạng và giải pháp phát triển ngành hồ tiêu bền vững

¨ NHÀN THƯ

Cách mạng công nghiệp 4.0 – Những thách thức với phụ nữ Việt Nam

¨ ThS.TRẦN THỊ HUỆ

Hướng đi mới về già hóa dân số trên địa bàn tỉnh Nghệ An

¨ ThS. NGUYỄN THỊ THU HÀ

CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng thương mại trong xây dựng nông thôn mới

¨ BÍCH NGỌC

Đắk Lắk chung tay xây dựng nông thôn mới

¨ KIM NGÂN

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN 2016

Tích tụ ruộng đất: Kết quả dồn điền đổi thửa và xây dựng cánh đồng mẫu lớn

¨ THU HƯỜNG

VUI VUI… THỐNG KÊ

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Phương pháp đánh giá và đo lường Bộ tiêu chí chất lượng thống kê Việt Nam

¨ ThS. HÀ MẠNH HÙNG

QUỐC TẾ

Thúc đẩy tự do hóa dịch vụ tài chính trong ASEAN

¨ TRÚC LINH

SƠN LA – HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Sơn La: Hướng tới phát triển kinh tế toàn diện và bền vững

¨ CẦM NGỌC MINH

Mộc Châu: Đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế chủ lực

¨ PHẠM VĂN CHÍNH

Sở Tài chính Sơn La: Tích cực hoàn thành nhiệm vụ tài chính ngân sách

Y tế Sơn La trên đà phát triển

Bệnh viện Đa khoa huyện Mường La – Đổi mới phát triển và hội nhập

Ngành Thuế Sơn La – Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước

¨ ĐẶNG QUANG HƯNG

Ngành giáo dục và đào tạo Sơn La: Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

 

Nội dung tóm tắt một số bài số tháng 5/2018

 

CPTPP – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO VIỆT NAM

ThS.Trần Phương Thảo – ThS. Nguyễn Thị Diệu Hiền

Sau nhiều nỗ lực đàm phán, vào đầu tháng 3/2018, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã chính thức được 11 quốc gia thành viên ký kết tại Chile. CPTPP được ký kết hứa hẹn sẽ mang lại những cơ hội phát triển mới, đồng thời cũng là thách thức không nhỏ đối với Việt Nam.

CPTPP – Một diện mạo mới

CPTPP có “xuất phát điểm” là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với sự tham gia của Mỹ. Tuy nhiên, sau khi Mỹ chính thức rút khỏi TPP, các nước thành viên còn lại đã tiếp tục thúc đẩy và đạt được thỏa thuận về tên gọi mới của Hiệp định TPP là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương. Theo các chuyên gia kinh tế, Hiệp định CPTPP bổ sung thêm 2 từ "Toàn diện" (Comprehensive) và "Tiến bộ" (Progressive) không đơn thuần chỉ là sự thay đổi tên gọi, mà còn là sự thống nhất tuyệt đối của các thành viên về nhu cầu duy trì một hiệp định có tính tiêu chuẩn cao và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. (…)

Về mở cửa thị trường, các nước tham gia Hiệp định thống nhất xóa bỏ cho nhau gần như toàn bộ thuế nhập khẩu theo lộ trình; Tự do hóa dịch vụ và đầu tư trên cơ sở tuân thủ pháp luật của nước sở tại, bảo đảm sự quản lý của Nhà nước. Theo các chuyên gia kinh tế, CPTPP truyền đi thông điệp mạnh mẽ chống lại chủ nghĩa bảo hộ, hướng tới một thế giới mở cửa thương mại và không còn các biện pháp trừng phạt đơn phương hay nguy cơ chiến tranh thương mại. Hiệp định sẽ tạo ra một trong những khối tự do thương mại lớn trên thế giới với thị trường khoảng 500 triệu dân và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) khoảng trên 10 nghìn tỷ USD, chiếm khoảng 13,5% GDP thế giới.

Mở ra những cơ hội mới

Theo các chuyên gia kinh tế, cho đến nay, CPTPP là hiệp định thương mại tự do lớn nhất mà Việt Nam đã tham gia, đem lại nhiều cơ hội cũng như lợi ích thiết thực cho Việt Nam cả về chính trị - đối ngoại lẫn kinh tế - xã hội. 

Trước hết, tham gia CPTPP sẽ giúp tăng cường vai trò và vị thế của Việt Nam cả ở khu vực và quốc tế bởi đây là minh chứng cụ thể, là bước tiến mới trong quá trình thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ của Việt Nam. Tham gia hiệp định sẽ củng cố thêm sức mạnh kinh tế cho Việt Nam thông qua việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thương mại cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo thêm xung lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. (…)

Những thách thức đang chờ đón và hướng đi cho doanh nghiệp Việt

Theo các chuyên gia, bên cạnh những cơ hội, Việt Nam sẽ phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức khi tham gia CPTPP. Hiệp định này đặt ra các yêu cầu và tiêu chuẩn cao về minh bạch hóa, các quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ cũng như đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc và chặt chẽ. Bên cạnh đó, cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt không chỉ ở thị trường các nước tham gia hiệp định mà ngay tại thị trường trong nước trên cả ba cấp độ: Sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia. Tất cả tạo ra sức ép to lớn trong bối cảnh năng lực cạnh tranh của quốc gia và doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều hạn chế. (…)

Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần chủ động tìm hướng hợp tác với các thị trường đối tác nêu trên để thu hút mạnh mẽ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam nhằm tận dụng hiệu quả nguồn vốn và việc chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn lớn. Đồng thời, đây cũng chính là cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu./.

 

LOGISTICS – NỖ LỰC PHÁT TRIỂN TRONG HỘI NHẬP

Thu Hòa

Là chất keo kết dính, xâu chuỗi các ngành sản xuất, vận chuyển, phân phối, thương mại, kho bãi… logistics đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, khi tiềm lực của các nhà cung cấp dịch vụ logistics ở nước ta còn khá hạn chế, gánh nặng chi phí còn lớn, kèm theo đó là sự thiếu đồng bộ của cơ sở hạ tầng, sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan có liên quan, sự kết nối giữa các doanh nghiệp lỏng lẻo…  những yếu tố đó đang tạo nên sức ép cạnh tranh ngày càng lớn, buộc ngành logistics cần có sự chuyển mình bứt phá để phát triển bền vững.

 

Ngành logistics đối mặt với không ít thách thức

Theo Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện logistics (LPI) được Ngân hàng Thế giới (WB) công bố định kỳ 2 năm/lần, giai đoạn 2007-2012, chỉ số LPI của Việt Nam ở vị trí 53/155 quốc gia. Năm 2014, chỉ số này tăng lên vị trí 48/160 quốc gia, xếp hạng thứ 4 trong ASEAN, sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Tuy nhiên đến năm 2016, chỉ số LPI của Việt Nam đã giảm 16 bậc (dù vẫn đứng trong top 4 ASEAN),tụt xuống vị trí 64/160 quốc gia nghiên cứu xếp hạng. Nguyên nhân của sự tụt hạng này là do các chỉ số: Kết cấu hạ tầng, năng lực dịch vụ logistics và khả năng kết nối thông tin của ngành logistics nước ta đều giảm sâu. 

Có thể thấy, điểm trừ lớn nhất của ngành logistics ở nước ta hiện nay là chi phí dịch vụ còn ở mức khá cao, chất lượng cung cấp dịch vụ thấp, tiềm lực tài chính hạn chế, trong khi thị trường ngày càng cạnh tranh gay gắt.Theo WB, chi phí logistics của Việt Nam cao gần gấp đôi so với các nền kinh tế phát triển và cao hơn mức bình quân toàn cầu 14%. (…)

Ngoài ra, các yếu tố khác như: Không có đầu mối nguồn hàng, bởi khoảng 91% hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu theo hình thức FOB (giá tại cửa khẩu xuất hàng, chưa bao gồm chi phí  bảo hiểm và vận chuyển) và nhập khẩu theo hình thức CIF (giá tại cửa khẩu nhập hàng, đã bao gồm chi phí bảo hiểm, vận chuyển); Thiếu những cảng cạn (ICD); Hệ thống thông tin tại các cảng biển, cảng sông, ga đường sắt và các ICD còn lạc hậu... cũng là những hạn chế, thách thức không hề nhỏ mà ngành logistics đang phải đối mặt.

Tận dụng cơ hội và những nỗ lực để phát triển

Có thể thấy, tuy là ngành phát triển sau, có nhiều tiềm năng còn bỏ ngỏ, song ở Việt Nam thời gian qua,ngành dịch vụ logistics cũng đã có những đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, mở rộng và phát triển thị trường quốc tế, nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Sự thay đổi theo hướng tích cực của cơ chế chính sách, thủ tục hành chính đã giúp cải thiện và tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics. (…)

Bên cạnh đó Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đưa ra 4 gợi ý giải pháp được xem là cần ưu tiên để thúc đẩy phát triển ngành dịch vụ logistics Việt Nam đó là: Tăng cường kết nối; Tăng cường tạo thuận lợi thương mại; Tăng cường sự phối hợp, cộng tác liên ngành với doanh nghiệp; Theo dõi và đo lường tiến độ cải cách. WB cũng cam kết sẽ tiếp tục sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong công cuộc tạo thuận lợi thương mại, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh thương mại, cung cấp các kết quả nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật tài chính trong thời gian tới./.

 

ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI

TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Bích Ngọc

Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2017 các Bộ, ngành Trung ương đã tập trung hoàn thành khối lượng lớn văn bản về cơ chế, chính sách,… góp phần hoàn thiện hệ thống khung pháp lý và các văn bản hướng dẫn, tạo cơ sở pháp lý quan trọng giúp các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (Chương trình). Nhờ đó, kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới (NTM) năm 2017 đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tính đến ngày 31/12/2017, cả nước có 3.069 xã được công nhận đạt chuẩn NTM, tăng 712 xã so với cuối năm 2016. Số xã đạt chuẩn NTM chiếm 34,4% trong tổng số xã của cả nước, cao hơn chỉ tiêu đặt ra là 31%. Trong số 3.069 xã này có 492 xã được công nhận đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016 - 2020. Hiện cả nước còn 113 xã dưới 5 tiêu chí, giảm 144 xã so với cuối năm 2016. Có 43 đơn vị cấp huyện thuộc 24 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn NTM, tăng 13 huyện so với cuối năm 2016 và vượt mục tiêu có ít nhất 38 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn NTM. (…)

Sở Công Thương các địa phương tiếp tục vai trò tham mưu giúp UBND tỉnh/thành phố xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ nguồn vốn đầu tư xây dựng cũng như công tác quy hoạch hệ thống cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn và mời gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Qua đó đẩy mạnh việc thực hiện có hiệu quả chỉ tiêu số 7 về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn của địa phương mình và góp phần trong việc thực hiện mục tiêu chung là đến cuối năm 2018, cả nước có ít nhất 39% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, giảm số xã đạt dưới 5 tiêu chí xuống dưới 60 xã./.

 

THÚC ĐẨY TỰ DO HÓA DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TRONG ASEAN

Trúc Linh

Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN lần thứ 22 (AFMM 22) và Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương ASEAN lần thứ 4 (AFMGM 4) vừa diễn ra tại Singapore đầu tháng 4/2018 đã khẳng định quyết tâm của các quốc gia thành viên ASEAN là thúc đẩy tự do hóa thị trường tài chính để hỗ trợ tối đa cho các dự án liên kết cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng bền vững. 

Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN và Hội nghị chung Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương ASEAN là sự kiện được tổ chức thường niên để cùng nhau đối thoại chính sách và định hướng hội nhập tài chính-ngân hàng trong khu vực. Hội nghị có sự tham dự của Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước ASEAN, Tổng Thư ký ASEAN và đại diện của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Cơ quan Nghiên cứu Kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO)… (…)

Theo các chuyên gia kinh tế, tiến trình tự do hóa dịch vụ tài chính có tác động tích cực đến quá trình hội nhập kinh tế khu vực nói chung và từng nước thành viên nói riêng thông qua tỷ trọng đóng góp của dịch vụ tài chính với vai trò là một ngành kinh tế ngày càng tăng và nhân tố quan trọng cho tăng trưởng thương mại và đầu tư khu vực. (…)

Với chủ đề “Đổi mới và Tự cường” do nước chủ nhà ASEAN lựa chọn trong năm hợp tác ASEAN 2018, Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước ASEAN đã dành thời gian trao đổi về những vấn đề mới nổi trong khu vực như công nghệ tài chính, các giải pháp đảm bảo an ninh không gian mạng… Hội nghị ghi nhận trong thời gian tới, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tài chính trong kỷ nguyên số sẽ làm mờ đi các ranh giới giữa các thị trường trong quá trình cung cấp dịch vụ tài chính. Quá trình đó một mặt sẽ thúc đẩy hoạt động thanh toán, sử dụng dịch vụ tài chính xuyên khu vực, mặt khác gia tăng rủi ro liên quốc gia về tấn công an ninh mạng. Trên cơ sở đó, Ngân hàng Trung ương và Bộ Tài chính các nước ASEAN cam kết sẽ hợp tác chặt chẽ trong công tác chia sẻ thông tin, kinh nghiệm để tìm kiếm các giải pháp khu vực hữu hiệu trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0). 

 

NGÀNH THUẾ SƠN LA: HOÀN THÀNH XUẤT SẮC NHIỆM VỤ

THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

                                     Đặng Quang Hưng

Phó Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Sơn La

 

Với chức năng, nhiệm vụ là tổ chức, thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách Nhà nước (NSNN) trên địa bàn Tỉnh, nhiều năm qua, Cục Thuế tỉnh Sơn La đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao: Chất lượng công tác thu ngân sách cơ bản được nâng cao; Số thu NSNN luôn tăng cao qua các năm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chi thường xuyên của ngân sách địa phương, góp phần tích cực vào thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng của Tỉnh. (…)

Phát huy thành quả đã đạt được trong những năm qua, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, Cục Thuế tỉnh Sơn La đặt ra mục tiêu tổng thu NSNN đạt trên 5000 tỷ đồng. Để đạt được mục tiêu này, Cục Thuế Sơn La đang tập trung triển khai thực hiện các giải pháp quan trọng đó là: Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ tiền thuế và ban hành các biện pháp cưỡng chế nợ thuế; Thực hiện tốt các chính sách miễn thuế, giảm thuế theo quy định, chú trọng cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế; Tăng cường thực hiện quy chế phối hợp với các ngành, đơn vị nhằm chống thất thu thuế; Thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức, cá nhân, phát hiện ngay các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp để có các biện pháp chấn chỉnh kịp thời…/. 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 12/2018 (537)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2018 (536)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2018 (535)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2018 (534)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)