English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 12/2018 (537)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 12/2018 (537)

Ra hàng tháng. Năm thứ 57

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Hội nghị Thống kê Bộ, ngành năm 2018

Sơ kết 2 năm thực hiện qui chế phối hợp trao đổi thông tin giữa Tổng cục Thống kê và Tổng cục Thuế

Thực hiện công tác thống kê Bộ, ngành

Kết quả thực hiện quy chế phối hợp giữa Tổng cục Thống kê và một số Bộ, ngành

Kết quả thực hiện công tác chuẩn bị Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019

¨ ThS. VŨ THỊ THU THỦY

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước năm 2018

Ngân hàng Việt trước cách mạng công nghiệp 4.0

¨ ThS. NGUYỄN CHUNG THỦY

Ngành thủ công mỹ nghệ cần sự chuyển mình mạnh mẽ

¨ ThS. LƯU THỊ DUYÊN

Tin địa phương

Trẻ em và các mục tiêu phát triển bền vững tại Việt Nam

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ 2017

Hoạt động sản xuất và chế biến thực phẩm của doanh nghiệp và hợp tác xã

¨ THU HIỀN

NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔI

Hoàn thiện phương pháp tính chỉ số giá tiền lương ở Việt Nam

¨ ThS. NGUYỄN THỊ XUÂN MAI – TS. ĐINH THỊ THÚY PHƯƠNG

VUI VUI… THỐNG KÊ

QUỐC TẾ

Đức tiên phong xây dựng nền kinh tế xanh

¨ TRÚC LINH

SÁCH HAY THỐNG KÊ

Sách hay Thống kê: “Thông tin thống kê giới tại Việt Nam 2016”

Khoảng cách về giới trong giáo dục đang dần được thu hẹp

THÁI BÌNH - TIỀM NĂNG VÀ CƠ HỘI HỢP TÁC ĐẦU TƯ

Ngành y tế Thái Bình: Vì sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng

¨ PHẠM VĂN DỊU

Ngành Giáo dục và Đào tạo huyện Tiền Hải – Đổi mới căn bản và hiệu quả

Huyện Hưng Hà – Vững bước xây dựng kinh tế

¨ THU HIỀN

Xã Hồng Minh: Mô hình điểm về xây dựng nông thôn mới thành công ở Thái Bình

Xã Minh Khai: Đẩy mạnh phát triển thương mại dịch vụ

Xã Thái Hưng – phát triển kinh tế - xã hội góp phần nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân

Xã Hòa Bình – Nâng cao chất lượng tiêu chí nông thôn mới

Xã Thái Phương – phát huy thế mạnh, làm giàu bền vững cho quê hương

Huyện Quỳnh Phụ - Tăng cường hợp tác đầu tư phát triển kinh tế

¨ NGUYỄN QUANG CƠ

Nông thôn mới Quỳnh Trang: Tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới

Xã Quỳnh Mỹ - trên đường đổi mới

Xã Quỳnh Hoàng – chuyển mình tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội

An Hiệp đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ

 

Nội dung tóm tắt một số bài trong số 12/2018

 

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THỐNG KÊ BỘ, NGÀNH

Thống kê Bộ, ngành là bộ phận cấu thành quan trọng của Hệ thống thống kê Nhà nước. Thông tin thống kê của các Bộ, ngành cùng với thông tin của hệ thống thống kê tập trung là nguồn thông tin chính thống, có tính pháp lý, là cơ sở để đánh giá, phân tích, dự báo tình hình kinh tế - xã hội cả nước và của từng ngành, từng lĩnh vực, phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, sự quản lý, điều hành của các Bộ, ngành và đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin khác trong và ngoài nước.

Trong những năm qua, các Bộ, ngành và Tổng cục Thống kê không ngừng nỗ lực, tăng cường phối hợp trong triển khai, thực hiện các Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về công tác thống kê cũng như các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Thống kê, thể hiện trên một số mặt sau:

1. Xây dựng, thực hiện hệ thống chỉ tiêu thống kê, chế độ báo cáo thống kê Bộ, ngành và chương trình điều tra thống kê

Đến nay, có 22 Bộ, ngành đã ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê Bộ, ngành, trong đó 15 Bộ, ngành hoàn thành rà soát và ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê đồng bộ với Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia quy định trong Luật Thống kê 2015; có 21 Bộ, ngành ban hành chế độ báo cáo thống kê Bộ, ngành, trong đó 11 Bộ, ngành đã rà soát, cập nhật, ban hành chế độ báo cáo thống kê cấp Bộ, ngành phù hợp với Luật Thống kê 2015 và hệ thống chỉ tiêu thống kê mới của Bộ, ngành. (…)

2. Thực hiện Chiến lược phát triển Thống kê và Luật Thống kê 2015

Đến nay, 19 Bộ, ngành đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển Thống kê thuộc phạm vi quản lý. Các Bộ, ngành đã triển khai thực hiện tất cả 40 hoạt động được giao, trong đó 22 hoạt động đã hoàn thành và 18 hoạt động đang tiếp tục thực hiện.  (…)

3. Phổ biến thông tin thống kê và phối hợp, chia sẻ thông tin thống kê

Các Bộ, ngành tiếp tục đẩy mạnh hoạt động phổ biến thông tin thống kê theo hướng kịp thời, đầy đủ, khách quan, minh bạch, phù hợp với Chính sách phổ biến thông tin thống kê Nhà nước và Luật Thống kê 2015. Nhiều Bộ, ngành đã xây dựng và công bố Lịch phổ biến thông tin thống kê; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động phổ biến thông tin. (…)

4. Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thống kê

Những năm qua, các Bộ, ngành đã quan tâm, chú trọng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình thu thập, tổng hợp, xử lý, phân tích và phổ biến thông tin. Hầu hết các Bộ, ngành đều có Trang thông tin điện tử; một số Bộ, ngành xây dựng các đề án ứng dụng công nghệ thông tin. Việc ứng dụng công nghệ thông tin góp phần giúp cho công tác thống kê tại Bộ, ngành ngày càng hiệu quả hơn, rút ngắn thời gian cập nhật dữ liệu, tiết kiệm nhân lực và chi phí.

5. Củng cố, hoàn thiện tổ chức thống kê Bộ, ngành

Thực hiện Nghị định số 03/2010/NĐ-CP ngày 13/01/2010 của Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức thống kê bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, có 18/22 Bộ, ngành thành lập tổ chức thống kê từ cấp phòng trở lên; 4 bộ không thành lập tổ chức thống kê riêng; tổng số công chức làm công tác thống kê của Bộ, ngành là 187 người. (…)

6. Triển khai công tác thống kê tại các cơ quan chuyên môn ở địa phương và các đơn vị trực thuộc Bộ, ngành

Thời gian qua, các Bộ, ngành đã chú trọng củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy thống kê và từng bước chuẩn hóa quy trình xử lý, tổng hợp báo cáo thống kê thống nhất từ Trung ương đến địa phương (sở, ngành cấp tỉnh). Một số sở, ngành đã hình thành tổ chức thống kê trực thuộc hoặc bố trí công chức kiêm nhiệm làm công tác thống kê; tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin với Cục Thống kê phục vụ công tác quản lý, điều hành của sở, ban, ngành, UBND cấp tỉnh và cung cấp thông tin cho thống kê Bộ, ngành. (…)

Để tiếp tục đẩy mạnh công tác thống kê Bộ, ngành theo hướng tăng cường thực hiện Luật Thống kê, Chiến lược phát triển thống kê Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 và các Đề án lớn của Ngành, cần tập trung triển khai những vấn đề trọng tâm sau:

- Thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm thông tin thống kê, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của xã hội;

- Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để hệ thống thống kê Bộ, ngành từ Trung ương đến địa phương hoạt động đồng bộ, thống nhất;

- Khẩn trương triển khai thu thập, tổng hợp chỉ tiêu thống kê quốc gia được phân công;

- Tăng cường hơn nữa sự phối hợp chặt chẽ giữa Tổng cục Thống kê và thống kê Bộ, ngành trong quá trình thực hiện hoạt động thống kê, trao đổi, tập huấn và hỗ trợ về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê;

- Chú trọng đẩy mạnh công tác phân tích và dự báo thống kê, nhất là phân tích vĩ mô, phân tích chuyên sâu, các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội;

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác phổ biến thông tin thống kê theo hướng đa dạng hóa hình thức phổ biến thông tin;

- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động thống kê; Triển khai có hiệu quả Đề án ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong Hệ thống thống kê Nhà nước giai đoạn 2017 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

- Kiện toàn, sắp xếp tổ chức thống kê theo đúng quy định tại Nghị định số 85/2017/NĐ-CP của Chính phủ;

- Tăng cường nhân lực làm công tác thống kê của Bộ, ngành và tại các sở, ngành địa phương. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức làm công tác thống kê của Bộ, ngành. Triển khai toàn diện chế độ phụ cấp ưu đãi nghề đối với công chức làm công tác thống kê;

- Tăng cường hợp tác quốc tế về thống kê. Thống kê Bộ, ngành phối hợp với Tổng cục Thống kê thực hiện việc hài hòa và chuẩn hóa các chỉ tiêu thống kê bảo đảm tính so sánh quốc tế./.

(Theo Thông tin Hội nghị thống kê Bộ, ngành năm 2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

 

TỔNG QUAN KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM NĂM 2018

 

BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

Kinh tế - xã hội nước ta năm 2018 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại và tiềm ẩn yếu tố khó lường. Thương mại toàn cầu tăng chậm hơn dự báo do những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung ngày càng diễn biến phức tạp. Lạm phát toàn cầu những tháng đầu năm có xu hướng tăng cao hơn năm 2017 do giá năng lượng, đặc biệt là giá dầu bình quân tăng mạnh. Bên cạnh đó, căng thẳng thương mại giữa các nước lớn cùng với xu hướng gia tăng chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch có tác động đến sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam và các nước trong khu vực. Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tích cực trong năm 2017, nền kinh tế nước ta cũng đối mặt tình hình thời tiết diễn biến phức tạp, tác động đến giá lương thực, thực phẩm, ảnh hưởng tới mục tiêu kiểm soát lạm phát; giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp.

Với phương châm hành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả”, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành và địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tại các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2018 tiếp tục chuyển biến tích cực, đạt nhiều kết quả nổi bật như sau:

Kinh tế Việt Nam năm 2018 khởi sắc trên cả ba khu vực sản xuất, cung - cầu của nền kinh tế cùng song hành phát triển. Tăng trưởng kinh tế năm 2018 đạt 7,08% so với năm 2017 - mức tăng cao nhất 11 năm qua. Chất lượng tăng trưởng và môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh. Nền tảng kinh tế vĩ mô được củng cố và từng bước được tăng cường. Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng giảm dần. An sinh xã hội được quan tâm thực hiện.

I. KẾT QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2018

1. Tăng trưởng kinh tế và các cân đối vĩ mô

(…)GDP cả năm 2018 tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở về đây. Mức tăng trưởng năm nay vượt mục tiêu 6,7% đặt ra là kết quả sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước. Trong mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6%; khu vực dịch vụ tăng 7,03%, đóng góp 42,7%. Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17% so với năm 2017; tích lũy tài sản tăng 8,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 12,81%. (…)

2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 ước tính đạt 244,7 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017 (vượt mục tiêu Quốc hội đề ra là tăng 7%-8% và Nghị quyết 01 của Chính phủ là tăng 8%-10%), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 69,2 tỷ USD, tăng 15,9% so với năm 2017, chiếm 28,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 175,5 tỷ USD, tăng 12,9%, chiếm 71,7% (giảm 0,6 điểm phần trăm so với năm 2017). (…)

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2018 ước tính đạt 237,5 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm trước, trong đó có 36 mặt hàng ước tính kim ngạch nhập khẩu đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 90,4% tổng kim ngạch, trong đó có 4 mặt hàng trên 10 tỷ USD.

Ước tính cả năm 2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa thiết lập mức kỷ lục mới với 482,2 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 7,2 tỷ USD, là năm có giá trị xuất siêu lớn nhất từ trước đến nay, cao hơn rất nhiều mức xuất siêu 2,1 tỷ USD của năm 2017, vượt xa mục tiêu Quốc hội đề ra là tỷ lệ nhập siêu dưới 3%.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

(…) Năm 2018, cả nước có 131.275 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tuy nhiên số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động cũng tăng cao. Làm rõ hơn vấn đề này, Tổng cục trưởng Nguyễn Bích Lâm cho biết: Trong tổng số 90.651 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động thì có 27.126 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (tăng 25,1%, số doanh nghiệp này có thể quay trở lại hoạt động sau khi nâng cấp, đầu tư máy móc thiết bị hoặc chuyển đổi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh...); 63.525 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể (tăng 63,4%). Đối với số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể này, trong năm 2018, Cục đăng ký kinh doanh của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã và đang thực hiện rà soát toàn bộ các doanh nghiệp đã giải thể trong những năm trước đây. Kết quả cho thấy, có đến 18 nghìn doanh nghiệp trong số này không hoạt động, chờ giải thể từ nhiều năm nay, nên nếu loại trừ số doanh nghiệp này thì tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ giải thể trong năm 2018 chỉ tăng 16,9%, thay vì 63,4% như hiện nay.

4. Thu hút đầu tư nước ngoài

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/12/2018 thu hút 3.046 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 17.976,2 triệu USD, tăng 17,6% về số dự án và giảm 15,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017.

5. Khách quốc tế đến Việt Nam

Hoạt động du lịch trong năm 2018 đạt được kết quả ấn tượng với số khách quốc tế đến nước ta đạt mức kỷ lục 15,5 triệu lượt người, tăng 19,9% so với năm 2017 (tăng hơn 2,6 triệu lượt khách). (…)

6. Lạm phát được kiểm soát

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2018 giảm 0,25% so với tháng trước; CPI bình quân năm 2018 tăng 3,54% so với năm 2017, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra; CPI tháng 12/2018 tăng 2,98% so với tháng 12/2017.

Lạm phát cơ bản tháng 12/2018 tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2018 tăng 1,48% so với bình quân năm 2017.

7. Một số tình hình xã hội

Đời sống dân cư năm nay nhìn chung được cải thiện. Năm 2018, thu nhập bình quân một người một tháng ước tính đạt 3,76 triệu đồng (tăng 660 nghìn đồng so với năm 2016), bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 10,2%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2018 ước tính là 6,8%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2017.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2018 ước tính 54,3 triệu người, tăng 579,7 nghìn người so với năm 2017. Tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước năm 2018 là 2,00%, trong đó khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,55%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 1,46%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,69%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,85%.

II. THÁCH THỨC, ĐỘNG LỰC VÀ GIẢI PHÁP CHO NĂM 2019

Với độ mở lớn cùng tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác động đan xen nhiều mặt bởi các diễn biến kinh tế quốc tế ngày càng phức tạp, khó lường. Đồng thời, với quy mô kinh tế nhỏ, việc ứng phó với các biến động trong tương lai của Việt Nam có thể sẽ gặp khó khăn hơn bởi dư địa tài chính, tiền tệ hạn hẹp.

(…) Bên cạnh những thách thức, năm 2018 nền kinh tế Việt Nam đã tạo dựng các động lực có tính nền tảng cho tăng trưởng kinh tế năm 2019 và các năm tiếp theo.

(1) Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, gắn kết chặt chẽ với nền kinh tế khu vực và toàn cầu, đánh dấu thời điểm nước ta hoàn thành lộ trình cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và cắt giảm thuế quan theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN, bắt đầu thực thi các cam kết FTA với mức độ cắt giảm sâu rộng. (…)

(2) Kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ sẽ là nền tảng quan trọng đóng góp rất lớn cho kinh tế Việt Nam. Thời gian qua, môi trường kinh doanh của nước ta đã có những cải thiện rõ rệt, cộng đồng doanh nghiệp được thụ hưởng nhiều kết quả về cải cách thông qua việc cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. (…)

(3) Chuyển đổi cơ cấu kinh tế không chỉ diễn ra giữa các ngành kinh tế mà còn có xu hướng chuyển đổi tích cực trong nội bộ ngành sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả về tốc độ và chất lượng trong thời gian tới. (…)

(4) Nhiều năng lực sản xuất mới được bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2019. Dự kiến năm 2019, bên cạnh hơn 3 triệu m2 sàn xây dựng nhà ở và trung tâm thương mại, nhiều dự án, công trình lớn sẽ đi vào sản xuất kinh doanh (…).

(5) Với quy mô dân số trên 95 triệu dân Việt Nam và số lượng khách quốc tế đến nước ta ngày càng tăng cao là thị trường tiềm năng tạo động lực cho khu vực sản xuất, dịch vụ và tăng trưởng năm 2019, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam hiện nằm trong top 10 điểm phát triển du lịch nhanh nhất thế giới với số lượng khách quốc tế dự kiến tiếp tục tăng cao trong năm 2019.

Trong điều kiện tự do hóa thương mại và Cách mạng công nghiệp 4.0 vừa tạo dựng cơ hội phát triển cho kinh tế Việt Nam, đồng thời cũng đưa đến những thách thức gây nguy cơ Việt Nam bị bỏ lại xa hơn các quốc gia trên thế giới, bên cạnh đó quy mô kinh tế Việt Nam hiện còn nhỏ, dư địa tài chính, tiền tệ hạn hẹp, để phát huy hiệu quả của các động lực tăng trưởng, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, năm 2019 cần tập trung vào một số giải pháp sau:

1. Chính phủ và các địa phương trong cả nước cần tập trung rà soát, bổ sung và hoàn thiện thể chế, cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh đang là rào cản đối với hoạt động của doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh cá thể, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực thi hiệu quả thủ tục một cửa tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và phát triển, đồng thời rà soát các thủ tục liên quan tới giải thể, phá sản doanh nghiệp bảo đảm nhanh và hiệu quả. (…)

2. Tiến hành xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật để thực hiện có hiệu quả Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, đồng thời tích cực vận động sớm phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU. (…)

3. Chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế để hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. (…)

4. Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông và công nghệ thông tin. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao, có ý nghĩa nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế.

5. Ban hành và thực thi các giải pháp mang tính đột phá, tạo áp lực để các tổ chức kinh tế tiếp cận, ứng dụng công nghệ, từng bước nâng cao năng lực đổi mới, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh. (…)

6. Để nền kinh tế có thể hòa nhập, không bị bỏ lại phía sau trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ cần đổi mới phương thức thu hút đầu tư nước ngoài, tập trung thu hút các nhà đầu tư hàng đầu thế giới, đang nắm giữ công nghệ nguồn có năng lực quản trị hiện đại, năng lực cạnh tranh cao đầu tư vào Việt Nam, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, ngăn ngừa việc chuyển dịch các dòng vốn gây ô nhiễm môi trường, công nghệ lạc hậu vào Việt Nam.

7. Nền kinh tế đứng vững, phát triển thành công trong xu thế của cách mạng công nghiệp 4.0 phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực và đội ngũ lao động có trình độ, biết đổi mới sáng tạo, biết đưa ra ý tưởng mới. (…)

8. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, chính sách đối với người có công với cách mạng, bảo đảm công khai, minh bạch, kịp thời, đúng đối tượng. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ./.

Tổng Cục Thống Kê

 

ĐỨC TIÊN PHONG XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ XANH

Trúc Linh

Trong những thập kỷ qua, nước Đức vốn là trung tâm công nghiệp của châu Âu và là nền kinh tế lớn thứ ba trong các nước OECD, đã chủ động phát triển các chính sách môi trường đầy tham vọng trên cả phương diện trong nước và quốc tế. Khung pháp lý về môi trường của Đức đã tạo vị thế cho đất nước này không chỉ tiên phong trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, mà còn là một ví dụ điển hình về thúc đẩy nền kinh tế carbon thấp có tính cạnh tranh so với các nền kinh tế phát triển khác.

Các chính sách phát triển kinh tế xanh

Các định hướng phát triển kinh tế xanh của Đức tuân theo định hướng phát triển chung của các nước thuộc khu vực Liên minh châu Âu (EU), đó là “Chiến lược châu Âu 2020”. Chiến lược này đặt ra mục tiêu quan trọng là tạo việc làm, gắn kết xã hội và phát triển bền vững. (…)

Khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo được xem là một lĩnh vực điển hình của Đức trong triển khai kinh tế xanh. Cũng như nhiều nước trên thế giới, Đức đã thực hiện chiến lược chuyển đổi hệ thống năng lượng thành “Nền kinh tế năng lượng xanh”. Mục tiêu tổng quát của việc chuyển đổi này là giảm phát thải khí nhà kính và giảm sự phụ thuộc lớn vào nhập khẩu năng lượng. (…)

Những kết quả đạt được

Nếu như 10 năm trước, nguồn năng lượng tái tạo chỉ mới chiếm 7% trong “thực đơn năng lượng” của nước Đức thì đến năm 2018, tỷ lệ sản xuất điện từ nguồn năng lượng tái tạo ở Đức (bao gồm điện mặt trời, điện gió, thủy điện và điện sinh học) đã lên đến 36% tổng sản lượng điện toàn liên bang. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, tỷ lệ điện từ năng lượng tái tạo đã vượt qua tỷ lệ từ nguồn than đá, đánh dấu cột mốc quan trọng trong tiến trình xây dựng nền kinh tế xanh của nước Đức. (…)

Như vậy, với những nỗ lực và mục tiêu đầy tham vọng, những kết quả tích cực bước đầu trong việc chuyển đổi từ nền kinh tế carbon sang nền kinh tế xanh, Đức được kỳ vọng sẽ có nhiều bước đột phá mới để trở thành quốc gia có nền kinh tế “năng lượng xanh” đầu tiên trên thế giới vào năm 2050./.

 

Sách hay Thống kê: “THÔNG TIN THỐNG KÊ GIỚI TẠI VIỆT NAM 2016”

Trong công cuộc đổi mới đất nước, phụ nữ đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của cả nước. Song, vẫn còn đó khoảng cách bất bình đẳng giới ở các lĩnh vực và việc thực thi thu hẹp dần khoảng cách này là mục tiêu của toàn xã hội.

Nhằm tăng cường công bố, khuyến khích các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong toàn xã hội quan tâm và sử dụng thông tin thống kê giới trong việc phân tích, xem xét sự khác biệt và bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới; qua đó góp phần xây dựng và phản biện các chính sách, chương trình, hướng đến đảm bảo lợi ích tối đa cho cả phụ nữ và nam giới, Tổng cục Thống kê biên soạn cuốn sách “Thông tin thống kê giới tại Việt Nam 2016”. Các số liệu trong cuốn sách được tính toán từ kết quả các cuộc điều tra của Tổng cục Thống kê, các Bộ, ngành và các cơ quan, tổ chức; số liệu cũng được thu thập từ hệ thống báo cáo thống kê chính thức của các cơ quan quản lý Nhà nước của Việt Nam.

Sách dày 292 trang, in 4 màu trên giấy couches, gồm hai phần: (i) Phần thứ nhất: Giới thiệu chung. Phần này giới thiệu các thông tin liên quan đến Khung pháp lý về bình đẳng giới; Trình tự các sự kiện liên quan đến bình đẳng giới và phụ nữ ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1483, dưới Triều đại Lê cho đến ngày nay. (…)./.

 

NGÀNH Y TẾ THÁI BÌNH: VÌ SỰ NGHIỆP CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

Phạm Văn Dịu

 

Trong những năm qua, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức, song toàn ngành Y tế Thái Bình đã nỗ lực nâng cao trình độ chuyên môn, ý thức đạo đức nghề nghiệp, đẩy mạnh sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh.

Trong 2 năm 2017 - 2018, công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống dịch bệnh, thực hiện các chương trình mục tiêu, xây dựng chuẩn quốc gia, y tế xã, dân số - kế hoạch hóa gia đình của ngành Y tế Thái Bình được quan tâm chỉ đạo và đã đạt nhiều kết quả tích cực. Năm 2017, toàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh, ngộ độc lớn trên địa bàn và không có trường hợp tử vong do dịch bệnh; kiểm soát tốt mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh (đạt 109,6 trẻ trai/100 trẻ gái), thấp nhất trong 5 năm gần đây. Công tác khám, chữa bệnh có nhiều bước đột phá, mạng lưới y tế được đầu tư mở rộng, công tác hành nghề y dược tư nhân có bước phát triển mới, thực hiện khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế được mở rộng đến tận các trạm y tế xã.

(…) Nhằm góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016- 2020, ngành Y tế Thái Bình sẽ tiếp tục củng cố, nâng cao hiệu quả và tăng cường đầu tư cho mạng lưới y tế dự phòng và y tế cơ sở; chủ động phòng chống dịch bệnh, không để các dịch bệnh nguy hiểm xảy ra ở quy mô lớn; tiếp tục thực hiện đồng bộ các biện pháp để nâng cao chất lượng khám, điều trị và chất lượng các dịch vụ y tế; tăng cường đầu tư xây dựng và nâng cấp các bệnh viện và trạm y tế ở những địa bàn khó khăn, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng khám bệnh BHYT tại tuyến y tế cơ sở.../.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 11/2018 (536)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 10/2018 (535)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 9/2018 (534)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 8/2018 (533)
  Tạp chí Con số và Sự kiện số 7/2018 (532)