English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện số 1+2/2019 (538)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Số 1+2/2019 (538)

Ra hàng tháng. Năm thứ 58

 

Thư của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê gửi công chức, viên chức và người lao động ngành Thống kê nhân dịp Xuân Kỷ Hợi 2019

Một số hoạt động Thống kê nổi bật trong năm 2018

¨ THU HÒA

Ngành Thống kê năm 2018 – Những kết quả nổi bật

¨ TS. NGUYỄN BÍCH LÂM

Phương hướng nhiệm vụ công tác ngành Thống kê năm 2019

Động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2019 – những điểm nhấn cơ bản

Kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2018: Những gam màu sáng

¨ BÍCH NGỌC

Việt Nam – Dấu ấn đối ngoại năm 2018

¨ THU HƯỜNG

Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng ấn tượng

¨ TS. PHẠM ĐÌNH THÚY

Điểm sáng nông nghiệp năm 2018

¨ ThS. LÊ TRUNG HIẾU

Xuất nhập khẩu hàng hóa dấu ấn năm 2018, thách thức trong năm 2019

¨ ThS. PHẠM THỊ QUỲNH LỢI

Thu hút đầu tư nước ngoài: Thực trạng và định hướng phát triển

¨ NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THANH

Lạm phát năm 2018 tác động điều hành giá hiệu quả của Chính phủ

¨ ThS. ĐỖ THỊ NGỌC

Giảm nghèo giai đoạn 2016-2020: Cách nhìn khác về thoát nghèo

¨ MINH THƯ

Chính sách dân số trong tình hình mới hướng đến nâng cao chất lượng dân số

Kết quả Tổng điều tra Kinh tế năm 2017: Doanh nghiệp FATS tại Việt Nam giai đoạn 2012-2016 - Một số kết quả chính

¨ THU HƯỜNG

Thanh Hóa – Tăng trưởng kinh tế năm 2018 cao nhất từ trước đến nay

¨ TRỊNH XUÂN PHÚ

Lạng Sơn: Năm 2018 kinh tế - xã hội có nhiều khởi sắc

¨ LÊ THỊ VÂN ANH

Kinh tế thế giới năm 2018 và triển vọng năm 2019

¨ TIẾN LONG

Tết Táo quân – Nét đẹp trong văn hóa người Việt

¨ NGỌC LINH

Đầm ấm tết nguyên đán cổ truyền của những người con xa xứ

Mứt Tết: Nét tinh hoa ẩm thực cổ truyền Việt

¨ TRÚC LINH

Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân gian trong thời đại mới

¨ THU HÒA

Tản mạn Hà Nội phố

¨ KHÁNH QUỲNH

Bí mật về Cocktail

Giáo dục và đào tạo Thái Bình: Trên lộ trình đổi mới căn bản toàn diện

¨ NGUYỄN VĂN HIỂN

Ngành Giáo dục và đào tạo huyện Vũ Thư: Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục

Huyện Hưng Hà: Nâng cao hiệu quả công tác quản lý giáo dục và đào tạo

Ngành Giáo cụ và đào tạo Quỳnh Phụ: Điểm sáng trong nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

¨ NGUYỄN VĂN ROANH

 

Nội dung tóm tắt một số bài trong số 1+2/2019

 

THƯ CỦA TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THỐNG KÊ GỬI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VÀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NGÀNH THỐNG KÊ NHÂN DỊP XUÂN KỶ HỢI 2019

Nhân dịp Tết cổ truyền của dân tộc và đón Xuân Kỷ Hợi 2019, thay mặt Lãnh đạo Tổng cục Thống kê, tôi thân ái gửi đến các công chức, viên chức và người lao động trong toàn ngành Thống kê cùng gia đình lời chúc mừng năm mới; lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng và tiếp tục đạt được nhiều thắng lợi.

Các đồng nghiệp thân mến,

Năm 2018, trong bối cảnh đất nước và quốc tế có những thuận lợi và khó khăn đan xen, ngành Thống kê đã triển khai Kế hoạch công tác với nhiều nhiệm vụ lớn, một mặt phải bảo đảm tốt nhất thông tin thống kê phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, đánh giá, dự báo tình hình và xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các cơ quan Đảng, Nhà nước ở Trung ương và địa phương; mặt khác triển khai các công việc có tính chất quan trọng, lâu dài như: Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thống kê; cải tiến phương pháp chế độ thống kê; chuẩn bị cho Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019; xây dựng chức năng nhiệm vụ và sắp xếp lại tổ chức, bộ máy của Ngành... Song, ngành Thống kê tiếp tục nhận được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Lãnh đạo Bộ, Ban Cán sự Đảng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; sự ủng hộ, phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương; cùng sự nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức của toàn thể công chức, viên chức và người lao động nên toàn Ngành đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, thế và lực của Ngành tiếp tục được củng cố và có bước phát triển mới. Thông tin thống kê thực sự là công cụ mạnh mẽ để đánh giá tình hình, xây dựng chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Công tác đảm bảo thông tin thống kê được thực hiện tốt, ngày càng nâng lên về số lượng và chất lượng, tiếp tục khẳng định là kênh thông tin chính thống phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nền kinh tế - xã hội của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Trong bối cảnh kinh tế thế giới có những biến động khó lường, khó khăn trong nước do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thông tin thống kê đã phản ánh kịp thời tình hình thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về những giải pháp chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, Tổng cục Thống kê đã xây dựng và cập nhật kịch bản tăng trưởng kinh tế từng quý với các giải pháp cụ thể báo cáo Bộ trưởng, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ làm căn cứ trong chỉ đạo, điều hành nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2018. Đồng thời, hàng tháng trước mỗi phiên họp Chính phủ thường kỳ, Tổng cục đã báo cáo Bộ trưởng, Lãnh đạo Bộ và Văn phòng Chính phủ những nét chủ yếu về kinh tế - xã hội trong tháng, trong quý; làm rõ thêm các vấn đề trọng tâm cũng như những giải pháp cụ thể cần nhấn mạnh trong chỉ đạo điều hành. Bên cạnh đó, Tổng cục Thống kê cũng đã chủ động phối hợp tốt với các Bộ, ngành xây dựng kịch bản điều hành giá tiêu dùng, tham mưu cho Bộ trưởng và Chính phủ trong công tác quản lý, điều hành giá để Chính phủ điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý như xăng, dầu, điện, dịch vụ y tế, giáo dục... phù hợp với thực tiễn, tiệm cận dần với giá thị trường, đồng thời vẫn bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới mức Quốc hội đề ra.

Năm 2018, công tác phân tích và dự báo tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh, nhất là các chuyên đề phân tích chuyên sâu. Tổng cục Thống kê đã hoàn thành một số báo cáo như: Báo cáo kết quả kiểm kê, đánh giá thực chất tình hình các nguồn lực của nền kinh tế; Báo cáo đánh giá thí điểm quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016- 2018; Báo cáo đánh giá thực trạng Năng suất lao động của Việt Nam; Báo cáo Thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam so với các nước trong khu vực.

Cùng với việc thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo thông tin thống kê, trong năm 2018, chúng ta đã thực hiện thành công các cuộc điều tra thường xuyên, tổ chức tốt các cuộc điều tra đột xuất phục vụ kịp thời yêu cầu thông tin cho quản lý, điều hành đất nước. Việc thực hiện Luật Thống kê, các Đề án và Chiến lược phát triển của Ngành được triển khai tích cực và hiệu quả như Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu GRDP và điều chỉnh quy mô GDP, GRDP; Đề án Hội nhập Thống kê ASEAN giai đoạn 2016-2020; Đề án ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin - truyền thông trong Hệ thống thống kê Nhà nước giai đoạn 2017-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Bên cạnh đó, đã xây dựng Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát. Cũng trong năm 2018, ngành Thống kê đã tập trung hoàn thiện môi trường pháp lý với việc xây dựng vị trí, chức năng, nhiệm vụ và bố trí, sắp xếp lại tổ chức bộ máy các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục và cơ quan Cục Thống kê cấp tỉnh, trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư; tiến hành dự thảo quy định về phương án sắp xếp các Chi cục Thống kê cấp huyện thành Chi cục Thống kê liên huyện và lộ trình, chỉ tiêu giảm số lượng Chi cục Thống kê cấp huyện... Đây là những văn bản pháp lý quan trọng, có ý nghĩa góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của ngành Thống kê, trong bối cảnh thực hiện chỉ đạo của Đảng và Chính phủ sắp xếp lại tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế hành chính.

Công tác phương pháp, chế độ, tổ chức cán bộ, quản lý tài chính, ứng dụng phát triển công nghệ thông tin, nghiên cứu khoa học, thanh tra, tuyên truyền, thi đua khen thưởng và các công tác khác được triển khai tích cực, đạt hiệu quả cao. Công tác thống kê nước ngoài và hợp tác quốc tế tiếp tục được chú trọng, đổi mới. Năm 2018, chúng ta tổ chức thành công Hội nghị Tổng điều tra dân số thế giới lần thứ 29; Hội thảo phổ biến hoạt động thống kê của Ủy ban Thống kê Cộng đồng ASEAN...

Bên cạnh những kết quả đạt được về công tác chuyên môn, năm 2018, ngành Thống kê còn tổ chức nhiều hoạt động thiết thực chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc như: Hội thi đôi đũa vàng GSO lần thứ 3 của Công đoàn cơ quan Tổng cục Thống kê, Hội thao của Cục Thống kê thuộc các khu vực trên cả nước, qua đó tăng thêm sự hiểu biết, hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm trong công tác thống kê, nâng cao lòng yêu Ngành, yêu nghề của công chức, viên chức và người lao động trong Ngành.

Có được những thành tích đó, một mặt nhờ sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ trưởng, Ban Cán sự Đảng bộ, sự phối hợp của các Bộ, ngành, địa phương, Lãnh đạo Tổng cục đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, đoàn kết, hợp tác của toàn thể công chức, viên chức và người lao động ngành Thống kê.

Các đồng nghiệp thân mến,

Năm 2019 đến với chúng ta cùng nhiều thuận lợi và khó khăn thách thức mới. Phát huy truyền thống đoàn kết và những kết quả, kinh nghiệm đã có, toàn Ngành quyết tâm phấn đấu, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác thống kê, công tác phân tích và dự báo tình hình kinh tế vĩ mô phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương; Thực hiện tốt Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019; Triển khai thực hiện Đề án thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát; Xây dựng Thông tư quy định năm 2020 làm năm gốc thay cho năm 2010 để biên soạn các chỉ tiêu thống kê theo giá so sánh; Nghiên cứu, cải tiến và áp dụng một số phương pháp thống kê mới; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thống kê...

Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2019, công chức, viên chức và người lao động toàn Ngành hãy tích cực thi đua, nêu cao hơn nữa ý thức trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, phát huy sáng kiến, đổi mới lề lối làm việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Chúc toàn thể công chức, viên chức và người lao động ngành Thống kê cùng gia đình dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và giành nhiều thắng lợi mới!

                                                                                Thân ái,

 

 

                                                                          NGUYỄN BÍCH LÂM

 

NGÀNH THỐNG KÊ NĂM 2018 – NHỮNG KẾT QUẢ NỔI BẬT

TS. Nguyễn Bích Lâm

Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

Có lẽ chưa có lúc nào công tác thống kê lại được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm như hiện nay, minh chứng là tần suất lãnh đạo cấp cao của Chính phủ trực tiếp làm việc với ngành Thống kê. Ngay từ đầu năm, tháng 01/2018, tại Hội nghị Triển khai kế hoạch công tác năm 2018 của ngành Thống kê, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đến tham dự và chỉ đạo. Tại đây, Thủ tướng đã chỉ rõ tầm quan trọng của công tác thống kê trong công tác chỉ đạo, điều hành đất nước. Tháng 11/2018, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ có buổi họp phiên thứ nhất với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) và các Bộ, ngành có liên quan về công tác chuẩn bị cho Tổng điều tra dân số nhà ở năm 2019; Sau đó 1 tháng, ngày 10/12/2018, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chủ trì Hội nghị thống kê Bộ, ngành 2018; Tổng cục Thống kê cũng đã tổ chức Hội nghị sơ kết 2 năm thực hiện quy chế phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Tổng cục Thống kê, với sự có mặt của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn... Sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước đối với công tác thống kê là nguồn động viên to lớn đối với toàn thể công chức, viên chức ngành Thống kê, đã góp phần giúp cho hoạt động thống kê đạt những kết quả đáng ghi nhận trong năm 2018.

Năm 2018, ngành Thống kê triển khai kế hoạch công tác với nhiều nhiệm vụ quan trọng: Thực hiện tốt công tác phổ biến thông tin thống kê bảo đảm phục vụ kịp thời sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, đánh giá, dự báo tình hình và xây dựng kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các cơ quan Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương; mặt khác triển khai các công việc có tính chất quan trọng, lâu dài như: Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thống kê; cải tiến phương pháp chế độ thống kê; chuẩn bị cho Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019; xây dựng chức năng nhiệm vụ và sắp xếp lại tổ chức, bộ máy của Ngành...

Kết thúc năm 2018, ngành Thống kê đã đạt được một số kết quả nổi trội trên các mặt công tác. Cụ thể:

Một là, công tác biên soạn và phổ biến thông tin thống kê tiếp tục được thực hiện nề nếp và có nhiều đổi mới. Nội dung các báo cáo đã có nhiều cải tiến theo hướng phản ánh sát thực tế diễn biến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, những kết quả đạt được, khó khăn, thách thức của các ngành, lĩnh vực qua từng quý và cả năm. Bên cạnh việc biên soạn và phổ biến kịp thời các Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, Tổng cục đã soạn thảo các ấn phẩm thống kê chuyên đề phục vụ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đối tượng dùng tin. Một trong những kết quả nổi bật đó là, Tổng cục không chỉ chủ động xây dựng và cập nhật kịch bản tăng trưởng kinh tế từng quý với các giải pháp cụ thể; mà trước mỗi phiên họp Chính phủ thường kỳ, Tổng cục đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ những nét chủ yếu về kinh tế - xã hội trong tháng, trong quý; làm rõ thêm các vấn đề trọng tâm cũng như những giải pháp cụ thể cần quan tâm trong chỉ đạo điều hành. Ngoài ra, Tổng cục cũng đã phối hợp tốt với các Bộ, ngành tham mưu cho Bộ trưởng và Chính phủ trong công tác quản lý, điều hành giá. Cụ thể đã xây dựng và cung cấp các phương án điều chỉnh giá để Chính phủ điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý như xăng, dầu, điện, dịch vụ y tế, giáo dục... phù hợp với thực tiễn, tiệm cận dần với giá thị trường, đồng thời vẫn bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới mức Quốc hội đề ra. Không chỉ thực hiện tốt ở Trung ương, tại địa phương, các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tập trung đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, phục vụ thiết thực cho việc chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách của địa phương; phối hợp với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018. Tất cả những điều đó cho thấy, thông tin thống kê đang ngày càng khẳng định vị trí, vai trò không thể thiếu trong công tác quản lý, điều hành và thực sự trở thành công cụ mạnh mẽ để nhận thức xã hội. Đây là một trong những bằng chứng rõ nét, xác thực trong xu hướng của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam trong xây dựng “chính sách dựa trên bằng chứng”.

Bên cạnh việc phục vụ tốt yêu cầu thông tin của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, Tổng cục Thống kê tiếp tục thực hiện tốt việc cung cấp thông tin thường xuyên, đột xuất tới các đối tượng dùng tin khác trong nước, các tổ chức quốc tế như: Cơ quan Thống kê Liên hợp quốc, Ban thư ký ASEAN, IMF, WB, FAO, ESCAP, ILO, Đại sứ quán của nhiều nước...

Công tác biên soạn các ấn phẩm thống kê cũng được đẩy mạnh, bên cạnh Niên giám thống kê quốc gia, Niên giám thống kê cấp tỉnh thì Niên giám thống kê cấp huyện cũng được các Cục Thống kê xuất bản với nội dung và hình thức phong phú. Đặc biệt, năm 2018 là năm đầu tiên Tổng cục Thống kê đã biên soạn dự thảo Sách Trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2018.

Một số hoạt động hợp tác song phương nổi bật trong năm 2018, đó là: Ký kết và triển khai “Chương trình hợp tác kỹ thuật công nghệ thông tin và truyền thông cho Thống kê chính thức” với cơ quan Thống kê Nhật Bản; Ký kết và triển khai dự án hỗ trợ kỹ thuật “Cải thiện hệ thống thống kê quốc gia Việt Nam” với Cơ quan hợp tác phát triển I-ta-li-a và Viện Thống kê I-ta-li-a. Bên cạnh đó, TCTK đã thực hiện những hoạt động hợp tác với Thống kê các nước và các tổ chức như: Đánh giá hiệu quả hợp tác giữa hai bên với Thống kê Thổ Nhĩ Kỳ; Hỗ trợ đào tạo về thống kê cho 14 cán bộ Thống kê Lào trong thời gian 03 tháng tại trường Cao đẳng Thống kê Bắc Ninh; Thiết lập quan hệ hợp tác song phương với Thống kê Ô-man; Phối hợp với Thống kê Đan Mạch xây dựng đề xuất hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực dữ liệu hành chính; Hợp tác với Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế quốc gia Pháp (INSEE), thiết lập lại hợp tác với INSEE để hỗ trợ nâng cao năng lực thống kê cho lĩnh vực thống kê tài khoản quốc gia.

Hai là, công tác điều tra và xử lý thông tin thống kê được thực hiện thống nhất, bài bản. Trong năm 2018, toàn Ngành đã thực hiện 26 cuộc điều tra lớn, quan trọng trong kế hoạch, trong đó tập trung vào một số cuộc điều tra như: Điều tra doanh nghiệp năm 2018; Khảo sát mức sống dân cư kết hợp điều tra quyền số chỉ số giá tiêu dùng và các cuộc điều tra thường xuyên khác. Điểm nổi bật trong triển khai Điều tra doanh nghiệp năm 2018, đó là việc khai thác triệt để các thông tin từ hồ sơ hành chính ngành Thuế. Hướng đổi mới này vừa làm giảm đáng kể gánh nặng, tiết kiệm thời gian cho các doanh nghiệp khi trả lời bảng hỏi, vừa giảm đáng kể công sức và kinh phí tổ chức điều tra cho ngành Thống kê.

Xử lý kết quả các cuộc điều tra được thực hiện theo đúng phương án của từng cuộc điều tra. Các chương trình phần mềm tin học chuyên ngành về nhập tin, xử lý các cuộc điều tra được cập nhật thường xuyên và sử dụng tương đối hiệu quả. Năm 2018, Tổng cục Thống kê tiếp tục đẩy mạnh thí điểm việc áp dụng thu thập thông tin bằng thiết bị điện tử di động (CAPI) trong một số cuộc điều tra như: Điều tra giá tiêu dùng, Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình... việc áp dụng CAPI trong thu thập thông tin cho thấy đã hạn chế được sai sót do người nhập tin và rút ngắn thời gian xử lý so với cách nhập tin truyền thống. Đặc biệt, trong năm 2018, Tổng cục đã tập trung nguồn lực để chuẩn bị cho Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019.

Ba là, việc hợp tác chia sẻ thông tin với các Bộ, ngành Trung ương và Sở, ngành địa phương đạt nhiều kết quả đáng khích lệ. Tổng cục đã chủ động phối hợp tốt với các Bộ, ngành trong việc cung cấp, chia sẻ thông tin. Trong năm 2018, Tổng cục tiếp tục ký Quy chế phối hợp và chia sẻ thông tin với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Kho bạc Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Hiện tại, Tổng cục Thống kê đã ký quy chế phối hợp và chia sẻ thông tin với 13 Bộ, ngành.

Một hoạt động nổi bật của Thống kê Bộ, ngành năm 2018, đó là, vào tháng Mười hai, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) đã tổ chức Hội nghị thống kê Bộ, ngành năm 2018 nhằm đánh giá kết quả giai đoạn 2014-2018 và đề ra nhiệm vụ cho giai đoạn tiếp theo. Hội nghị đã vinh dự đón Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đến dự và chủ trì Hội nghị. Đồng thời, cũng trong năm này, Tổng cục đã tổ chức sơ kết 2 năm thực hiện quy chế phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Thuế. Qua đánh giá, công tác này đã phát huy hiệu quả rất tích cực và có thể coi là hình mẫu cho việc phối hợp, chia sẻ thông tin giữa Tổng cục Thống kê với các Bộ, ngành.

Bốn là, công tác phân tích và dự báo tiếp tục được quan tâm và đẩy mạnh. Trong năm 2018, nhiều chuyên đề phân tích chuyên sâu đã hoàn thành, đạt chất lượng và được đánh giá cao, nổi bật như: Báo cáo kết quả kiểm kê, đánh giá thực chất tình hình các nguồn lực của nền kinh tế; Dự thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế; Báo cáo đánh giá thí điểm quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016-2018; Báo cáo đánh giá thực trạng Năng suất lao động của Việt Nam; Báo cáo Thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam so với các nước trong khu vực; Báo cáo Tăng trưởng các vùng kinh tế trọng điểm và tác động tới tăng trưởng chung của nền kinh tế giai đoạn 2011-2016; Báo cáo Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam 3 năm 2016-2018;

Xây dựng đề cương chuyên đề “Quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”: Báo cáo phân tích về Lạm phát và công tác điều hành của Chính phủ trong việc kiểm soát lạm phát giai đoạn 2008-2017; Báo cáo Phân tích giá dịch vụ công và phản ứng của người dân trong hoạt động y tế ở Việt Nam giai đoạn 2010-2017... Ngoài ra, Tổ phân tích và dự báo thống kê đã biên soạn một số chuyên đề nhằm đưa ra những bằng chứng, sự lý giải thuyết phục về sự biến động của nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm, cũng như cả năm 2018. Rõ ràng, việc thành lập Tổ phân tích và dự báo thống kê đã phát huy tác dụng lớn trong nghiên cứu, soạn thảo các chuyên đề phân tích chuyên sâu phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của các cấp quản lý, cũng như các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách. Vì vậy, việc nhân rộng mô hình này đối với các Cục Thống kê địa phương cần được quan tâm.

Năm là, công tác thực hiện Luật thống kê, Chiến lược phát triển thống kê và các đề án khác của Ngành được thực hiện nghiêm túc, đúng tiến độ đề ra.

Trong năm 2018, với sự chủ động, tích cực của các đơn vị, công tác xây dựng và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thống kê đã đạt được những kết quả tích cực cả về tiến độ và chất lượng, cụ thể: Tổng cục đã hoàn thiện việc xây dựng vị trí, chức năng, nhiệm vụ và bố trí, sắp xếp lại tổ chức bộ máy các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục và cơ quan Cục Thống kê cấp tỉnh và trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thống kê trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Đồng thời, đang tiến hành Dự thảo quy định về phương án sắp xếp các Chi cục Thống kê cấp huyện thành Chi cục Thống kê liên huyện và lộ trình, chỉ tiêu giảm số lượng các Chi cục Thống kê cấp huyện để bổ sung vào dự thảo quyết định này. Tổng cục đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 60/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 quy định chi tiết nội dung chế độ báo cáo thống kê cấp quốc gia; Chế độ báo cáo thống kê ngành Kế hoạch Đầu tư và Thống kê (phần Thống kê) đang lấy ý kiến thẩm định của cơ quan chức năng trước khi trình Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành. Tổng cục cũng đã hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Bảng phân loại tiêu dùng theo mục đích của hộ gia đình Việt Nam, Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam 2018 thay thế hệ thống ngành kinh tế Việt Nam 2007, Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam...

Năm 2018, ngành Thống kê đã thực hiện: 357 cuộc thanh tra chuyên ngành (Tổng cục Thống kê thực hiện 04 cuộc, các Cục Thống kê thực hiện 353 cuộc) đối với 415 đối tượng thanh tra là tổ chức; trong đó, 306 cuộc thanh tra thành lập đoàn, 47 cuộc thanh tra độc lập. Nội dung thanh tra chủ yếu: Thanh tra việc thực hiện phương án điều tra thống kê (344 cuộc, chiếm 96,4% tổng số cuộc thanh tra chuyên ngành) và thanh tra việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê (13 cuộc, chiếm 3,6% tổng số cuộc thanh tra chuyên ngành).

Một trong những công việc rất phức tạp, đòi hỏi tốn nhiều công sức và cần có sự vào cuộc của các Vụ Thống kê chuyên ngành, các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đó là thực hiện Đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và điều chỉnh quy mô GDP, GRDP. Kết quả công tác biên soạn GRDP 6 tháng đầu năm và cả năm 2018 đã được thực hiện và công bố đúng theo kế hoạch. Bên cạnh đó, Tổng cục đã tổ chức rà soát số liệu GRDP chính thức 6 tháng đầu năm và cả năm 2016, về cơ bản đã hình thành dãy số liệu GRDP giai đoạn 2011-2015 để làm căn cứ phục vụ địa phương, làm gốc tính tập trung GRDP cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 6 tháng, cả năm 2017 và năm 2018.

Về điều chỉnh GDP và GRDP giai đoạn 2010-2017, Tổng cục đã ban hành kế hoạch điều chỉnh và nhiệm vụ cụ thể của từng Vụ Thống kê chuyên ngành; căn cứ vào nguồn thông tin từ các cuộc Tổng điều tra và các cuộc điều tra chuyên ngành hàng năm, vào dữ liệu do Tổng cục Thuế cung cấp, Tổng cục đã tiến hành rà soát số liệu GDP giai đoạn 2015- 2017, sau khi xem xét đảm bảo yêu cầu sẽ tiếp tục tiến hành rà soát GDP giai đoạn 2010-2014. Đối với điều chỉnh GRDP cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng được tiến hành tương tự như điều chỉnh GDP của cả nước. Đến nay dãy số liệu GDP, GRDP giai đoạn 2010-2017 đã hoàn thành, Tổng cục sẽ báo cáo Bộ trưởng và Thủ tướng Chính phủ kết quả điều chỉnh GDP giai đoạn 2010-2017.

Các Đề án khác của Ngành được tiếp tục triển khai đúng tiến độ như: Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát; Đề án Hội nhập Thống kê ASEAN giai đoạn 2016-2020; Đề án xây dựng Bộ chỉ số đánh giá mức độ hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; Đề án ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin - truyền thông trong Hệ thống thống kê Nhà nước giai đoạn 2017-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Đặc biệt, Tổng cục đã chủ trì biên soạn Bộ chỉ tiêu và Báo cáo đánh giá mức độ phát triển doanh nghiệp cả nước và các địa phương năm 2017, giai đoạn 2010-2017, đồng thời phối hợp với Ban Chỉ đạo Đổi mới và phát triển doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức thành công cuộc họp báo công bố Bộ chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển doanh nghiệp cả nước và các địa phương năm 2017, giai đoạn 2010-2017 tại Văn phòng Chính phủ đúng ngày 13/10/2018 - Ngày Doanh nhân Việt Nam, cuộc họp báo do Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ chủ trì.

Bên cạnh các thành tích đã đạt được, ngành Thống kê vẫn còn tồn tại những hạn chế, tập trung vào các nhóm chủ yếu sau: (i) Công tác thu thập thông tin thống kê: Một số Bộ, ngành chưa chấp hành đúng quy định về chế độ báo cáo thống kê tổng hợp của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành; Điều tra viên chủ quan chưa nghiên cứu kỹ tài liệu, chưa nắm chắc nghiệp vụ nên còn để sai sót trong quá trình điều tra... (ii) Chất lượng thông tin thống kê: Vẫn còn hiện tượng không sử dụng thông tin đầu vào từ kết quả điều tra để làm báo cáo thống kê tại một số đơn vị; kết quả điều tra của một số địa bàn điều tra trong một số cuộc điều tra vẫn còn có sự sai lệch so với kết quả phúc tra. (i) Việc nghiên cứu và ứng dụng phương pháp thống kê mới trong hoạt động thống kê chưa thực sự quyết liệt. (iv) Công tác tổ chức, cán bộ và quản lý tài chính còn có những bất cập; (v) Công tác kiểm tra, giám sát đối với các cuộc điều tra chưa thường xuyên, chưa được coi trọng và quan tâm đúng mức, chưa giải quyết triệt để các khó khăn, vướng mắc của điều tra viên ngay tại địa bàn điều tra; vẫn còn một số công chức không thực hiện nghiêm túc quy định phổ biến thông tin thống kê; phát ngôn không chuẩn mực về chất lượng số liệu thống kê...

Bước sang năm 2019, ngành Thống kê tiếp tục thực hiện nhiều nhiệm vụ nặng nề, từ công tác về nghiệp vụ chuyên môn thường xuyên, các nhiệm vụ đột xuất phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến việc thực hiện đề án lớn, thực hiện điều tra, tổng điều tra lớn như: Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, điều chỉnh quy mô GDP và GRDP, Đề án khu vực kinh tế chưa được quan sát... Chính vì vậy, thành tựu ngành Thống kê đạt được trong năm 2019 tới đây phụ thuộc chủ yếu vào chính sự quyết tâm, nỗ lực rất cao từ mỗi công chức, viên chức ngành Thống kê./.

 

ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2019

– NHỮNG ĐIỂM NHẤN CƠ BẢN

 

LTS. Năm 2018, có thể nói là một năm thành công của nước ta trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, ngoại giao... Với mức tăng GDP ấn tượng đạt 7,08%, bước sang năm 2019, Quốc hội đã đề ra mục tiêu tăng trưởng đạt 6,6%- 6,8%, đây là mục tiêu cao bởi tăng trưởng của 1% GDP năm sau sẽ cao hơn 1% GDP của năm trước. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương và toàn xã hội. Vậy những yếu tố nào tạo động lực tăng trưởng cho đất nước và giải pháp đặt ra là gì để đạt được mục tiêu tăng trưởng đó. Tạp chí Con số và Sự kiện đã có bài phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê xoay quanh chủ đề này. (…)

PV: Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV đã ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, trong đó đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 6,6%-6,8%. Đây có thể nói là mục tiêu khá cao, vậy theo Ông đâu là những yếu tố quan trọng tạo động lực tăng trưởng trong năm 2019?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Trên cơ sở những kết quả quan trọng đạt được trong năm 2018, kinh tế - xã hội nước ta năm 2019 có khá nhiều thuận lợi. Theo tôi, những yếu tố quan trọng tạo động lực tăng trưởng cho đất nước trong năm 2019, đó là: Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn tư nhân và vốn FDI cho phát triển, nền kinh tế bổ sung thêm nhiều năng lực sản xuất mới, hoạt động thương mại quốc tế mở rộng và cuối cùng là động lực từ các ngành, lĩnh vực then chốt.

Thời gian qua, các Bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai hàng loạt các Nghị quyết của Chính phủ về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Số doanh nghiệp thành lập mới liên tiếp đạt kỷ lục: Năm 2016 có hơn 110 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, năm 2017 có gần 127 nghìn doanh nghiệp, năm 2018 có hơn 131 nghìn doanh nghiệp thành lập mới. Trong năm 2019, Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội doanh nghiệp tiếp tục các nỗ lực nhằm cải thiện thực chất môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp thông qua cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện khung khổ pháp lý về đầu tư kinh doanh, tạo lập các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, như: Luật Quy hoạch sửa đổi có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019 sẽ bãi bỏ các quy hoạch về đầu tư phát triển hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm cụ thể, ấn định khối lượng, số lượng hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm được sản xuất, tiêu thụ; Quyết định số 3720/QĐ-BCT ngày 11/10/2018 của Bộ Công Thương ban hành phương án cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh giai đoạn 2019-2020, trong đó đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa và chuyển hậu kiểm 202 trên tổng số 561 điều kiện, hay như Quyết định số 2141/QĐ-BTC ngày 20/11/2018 của Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa 176 thủ tục hành chính...

Cơ cấu kinh tế đang tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế không chỉ diễn ra giữa các ngành kinh tế mà còn có xu hướng chuyển đổi tích cực trong nội bộ ngành. Cụ thể: Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ loại cây có giá trị thấp sang loại cây có giá trị cao hoặc nuôi trồng thủy sản mang lại hiệu quả rõ rệt. Cơ cấu ngành hàng, sản phẩm xuất khẩu đã thể hiện khá rõ kết quả: Tăng tỷ trọng các ngành, sản phẩm có lợi thế và thị trường tiêu thụ như thủy sản (nhất là tôm nước lợ), rau, hoa quả, các loại cây công nghiệp giá trị cao, đồ gỗ và lâm sản; giảm các ngành hàng, sản phẩm có hiệu quả kinh tế thấp. Bên cạnh đó, lĩnh vực công nghiệp đang chuyển dịch theo hướng phát triển các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao và giá trị xuất khẩu lớn; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng qua các năm, giảm dần phụ thuộc vào khai thác khoáng sản và tài nguyên. Khu vực dịch vụ được cơ cấu lại theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, tập trung đầu tư cơ sở vật chất và phát triển đa dạng các sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm có năng lực cạnh tranh, trong đó hình thành một số sản phẩm dịch vụ hiện đại, chất lượng cao như dịch vụ y tế, bảo hiểm...

Đáng chú ý là, tăng trưởng kinh tế dần dịch chuyển sang chiều sâu, thể hiện ở mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và năng suất lao động trong tăng trưởng của nền kinh tế ngày một lớn. Tỷ lệ đóng góp của TFP trong tăng trưởng GDP năm 2018 đạt 43,5%, bình quân giai đoạn 2016-2018 đạt 43,3%, cao hơn nhiều so với mức 33,6% của giai đoạn 2011-2015. Năng suất lao động tiếp tục cải thiện theo hướng tăng đều qua các năm, bình quân 3 năm 2016- 2018 tăng 5,7%/năm, cao hơn mức tăng bình quân 4,3%/năm trong giai đoạn 2011-2015.

Việc cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh đã tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư, mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khu vực kinh tế tư nhân đang từng bước giữ vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế với tỷ lệ đầu tư tiếp tục gia tăng: Năm 2018 chiếm 42,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; dự kiến năm 2019 chiếm 43,7%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2018 đạt 19,1 tỷ USD, là mức cao nhất từ trước đến nay. Đồng thời, với thể chế chính trị ổn định, tăng trưởng kinh tế cao, lạm phát thấp, tỷ giá đồng tiền ổn định cùng nhiều chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư hấp dẫn, Việt Nam đang là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài. Năm 2019, dự kiến khu vực FDI vẫn tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Nền kinh tế bổ sung thêm nhiều năng lực sản xuất mới, dự kiến năm 2019, bên cạnh hơn 3 triệu m2 sàn xây dựng nhà ở chung cư tăng thêm, nhiều dự án, công trình lớn sẽ đi vào sản xuất kinh doanh như: Tổ hợp Nhà máy Vinfast tại Hải Phòng, dự án đầu tư công trình Nhà máy điện sông Hậu tại tỉnh Hậu Giang, một số công trình thủy điện nhỏ với tổng công suất trên 640MW, dự án BOT Bắc Giang - Lạng Sơn, công trình đường cao tốc La Sơn - Tây Loan tại Thừa Thiên - Huế, dự án ứng dụng công nghệ cao trong nông, lâm nghiệp và chăn nuôi tại tỉnh Yên Bái. Bên cạnh đó, nhiều nhà máy chế biến thực phẩm dự kiến đi vào hoạt động trong năm 2019 như: Nhà máy chế biến nông sản VSIP Hải Dương; Nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi công nghệ cao Nutrico Hà Tĩnh; Nhà máy dừa tươi Kim Thành... và hàng loạt công trình, dự án khác sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội trong năm 2019.

Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, gắn kết chặt chẽ với nền kinh tế khu vực và toàn cầu, đánh dấu thời điểm nước ta hoàn thành lộ trình cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và cắt giảm thuế quan theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN, bắt đầu thực thi các cam kết FTA với mức độ cắt giảm sâu rộng. Việt Nam đã ký kết và chuẩn bị triển khai thực hiện các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) với những cam kết sâu rộng, tiêu chuẩn cao và mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Những thỏa thuận FTA này tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế nước ta với độ mở cao của nền kinh tế, đồng thời tăng cường cơ hội thu hút và tận dụng dòng vốn FDI trong năm 2019 và những năm tiếp theo.

Động lực từ các ngành, lĩnh vực then chốt cũng giữ vai trò đáng kể, công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2019 tiếp tục là động lực quan trọng cho tăng trưởng với sự hỗ trợ tích cực của khu vực doanh nghiệp FDI, đặc biệt là từ các tập đoàn kinh tế lớn, có chuỗi giá trị toàn cầu như Samsung, LG, Fomosa, Toyota... Khu vực doanh nghiệp tư nhân ngày càng phát triển và mở rộng với hàng vạn doanh nghiệp gia nhập thị trường sẽ đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2019.

Du lịch phát triển mạnh, tác động lan tỏa tới nhiều ngành dịch vụ thị trường. Việt Nam đang nằm trong top 10 điểm phát triển du lịch nhanh nhất thế giới với số lượng khách quốc tế năm 2018 đạt trên 15 triệu lượt người, tăng 20% so với năm 2017 và dự kiến tiếp tục tăng cao trong năm 2019. Ngành vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải có mức phát triển khá, trong đó vận tải hàng không tăng trưởng tốt, thị trường tiếp tục sôi động khi có thêm một số hãng hàng không mới hoạt động. Ngành thông tin và truyền thông dự báo thu hút nhiều nhân lực trình độ cao; ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới, tạo nền tảng hạ tầng cho các doanh nghiệp viễn thông nâng cao chất lượng dịch vụ. Dịch vụ kinh doanh bất động sản cũng dự kiến phát triển ở nhiều tỉnh, thành phố do nhu cầu về nhà ở trung bình và thấp còn lớn.

Ngành nông nghiệp tiếp tục phát huy hiệu quả chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Trong năm 2019, Luật Thủy sản, Luật trồng trọt và chăn nuôi cùng các văn bản pháp luật trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sẽ là điều kiện tốt khơi thông các nguồn lực cho phát triển sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Bên cạnh đó, với quy mô của thị trường trong nước trên 95 triệu người, cùng với thị trường lao động ổn định, lực lượng lao động 15 tuổi trở lên năm 2019 ước đạt 55,9 triệu người đang là động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 và các năm tiếp theo.

PV: Những yếu tố kể trên là những điều kiện rất thuận lợi để nước ta tiếp tục phấn đấu thực hiện mục tiêu tăng trưởng đã đề ra, tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu đó, theo Ông cần tập trung thực hiện các giải pháp nào?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Để hoàn thành tốt mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 đã được Quốc hội thông qua, các cấp, các ngành và địa phương phải nhận thức đúng và đầy đủ những khó khăn, thách thức phía trước để kịp thời có các giải pháp khắc phục ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm 2019, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

Một là, Chính phủ và các địa phương trong cả nước cần tập trung rà soát, bổ sung và hoàn thiện thể chế, cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh đang là rào cản đối với hoạt động của doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh cá thể, đẩy mạnh cải cách hành chính, thực thi hiệu quả thủ tục một cửa tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp thành lập và phát triển, đồng thời rà soát các thủ tục liên quan tới giải thể, phá sản doanh nghiệp bảo đảm nhanh và hiệu quả. Chính phủ cần có chính sách và giải pháp phù hợp để khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể chuyển thành doanh nghiệp, tạo dựng điều kiện kinh doanh thuận lợi cho cơ sở cá thể hoạt động ổn định, lâu dài và tuân thủ pháp luật.

Hai là, tiến hành xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật để thực hiện có hiệu quả Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, đồng thời tích cực vận động sớm phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU. Nâng cao kết quả hoạt động mở rộng thương mại quốc tế, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu chính ngạch cho sản phẩm nông sản.

Ba là, chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế để hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. Nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung cho các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ khởi nghiệp; kiểm soát tín dụng ở một số ngành, lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Bốn là, phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông và công nghệ thông tin. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao, có ý nghĩa nâng cao năng lực sản xuất cho nền kinh tế.

Năm là, ban hành và thực thi các giải pháp mang tính đột phá, tạo áp lực để các tổ chức kinh tế tiếp cận, ứng dụng công nghệ, từng bước nâng cao năng lực đổi mới, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tập trung nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Doanh nghiệp Việt Nam cần nhận thức đúng và thực thi phương châm: “Hàng Việt Nam chinh phục người Việt Nam”. Chú trọng phát triển thị trường trong nước, chủ động kết nối, phát triển các kênh phân phối sản phẩm hàng hóa của Việt Nam.

Sáu là, để nền kinh tế có thể hòa nhập, không bị bỏ lại phía sau trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ cần đổi mới phương thức thu hút đầu tư nước ngoài, tập trung thu hút các nhà đầu tư hàng đầu thế giới, đang nắm giữ công nghệ nguồn có năng lực quản trị hiện đại, năng lực cạnh tranh cao đầu tư vào Việt Nam, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, ngăn ngừa việc chuyển dịch các dòng vốn gây ô nhiễm môi trường, công nghệ lạc hậu vào Việt Nam.

Bảy là, nền kinh tế đứng vững, phát triển thành công trong xu thế của cách mạng công nghiệp 4.0 phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực và đội ngũ lao động có trình độ, biết đổi mới sáng tạo, biết đưa ra ý tưởng mới. Vì vậy, Chính phủ phải đổi mới phương thức, chương trình đào tạo, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, trong đó tập trung đào tạo đội ngũ thực hành giỏi để đáp ứng nhu cầu lao động trong xu thế vận hành của cách mạng công nghiệp 4.0. Đây cũng là nhiệm vụ để thực hiện ba khâu then chốt của nền kinh tế: Đổi mới thể chế; xây dựng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực.

Tám là, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, chính sách đối với người có công với cách mạng, bảo đảm công khai, minh bạch, kịp thời, đúng đối tượng. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ.

PV: Ông có thể dự đoán nhanh kinh tế Việt Nam trong năm 2019?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Với những kết quả tươi sáng đạt được trong năm 2018, cùng sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, sự nỗ lực dốc lòng của doanh nghiệp và mọi tầng lớp nhân dân, tôi tin rằng kinh tế Việt Nam năm 2019 sẽ tràn đầy khởi sắc với những niềm hy vọng, những niềm hứng khởi và những thành tựu mới.

PV: Trân trọng cảm ơn Ông!

 

VIỆT NAM: DẤU ẤN ĐỐI NGOẠI NĂM 2018

Thu Hường

Trên cơ sở phát huy những thành công rực rỡ của năm 2017, công tác đối ngoại của Việt Nam năm 2018 tiếp tục ghi nhận những dấu ấn quan trọng, trở thành điểm sáng trong thành tựu chung của đất nước, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế - xã hội đến chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh, thể thao, văn hóa...

Những dấu ấn quan trọng

Trong bối cảnh quan hệ quốc tế năm 2018 bị tác động mạnh bởi điều chỉnh chính sách của các nước lớn, kéo theo những diễn biến nhiều chiều ở các khu vực, tác động không nhỏ tới tình hình mỗi nước, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, với phương châm chủ động, sáng tạo trong cách làm và hiệu quả trong hành động, công tác đối ngoại của Việt Nam năm 2018 vẫn tiếp tục vươn lên khẳng định nhiều dấu ấn mới, góp phần nâng cao thế và lực của đất nước.

Ngoại giao đa phương đưa Việt Nam trở thành địa chỉ tin cậy

Năm 2018 đánh dấu những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động đối ngoại đa phương của Việt Nam với những bước phát triển mới về chất, thể hiện cụ thể trong Chỉ thị 25-CT/TW ngày 8/8/2018 của Ban Bí thư về việc đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030.(…)

Tiếp tục hoàn tất các khuôn khổ quan hệ chiến lược

Năm 2018 cũng ghi nhận các chuyến thăm song phương “nhộn nhịp” giữa Việt Nam và các nước đối tác trên thế giới. Năm 2018, lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã thực hiện 28 chuyến thăm nước ngoài và dự các hội nghị quốc tế lớn, đón tiếp 33 đoàn lãnh đạo cấp cao các nước thăm và dự các hoạt động quan trọng tại Việt Nam và hàng trăm cuộc tiếp xúc cấp cao bên lề các hội nghị đa phương quan trọng. Những chuyến thăm viếng, tiếp xúc cấp cao sôi động đó đã thực sự tạo xung lực mới trong quan hệ với các đối tác trên tất cả các lĩnh vực, phục vụ thiết thực lợi ích an ninh và phát triển của đất nước. (…)

Ngoại giao kinh tế: Thiết lập khuôn khổ bang giao, xác định trọng tâm hỗ trợ

Năm 2018 đánh dấu bước tiến mới của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế, khi Việt Nam trở thành thành thành viên thứ 7 phê chuẩn Hiệp định thương mại thế hệ mới CPTPP. Dự báo khi đi vào triển khai, CPTPP sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 4,7% đến năm 2035 và giúp đưa 600 nghìn người thoát nghèo đến năm 2030 ở mức chuẩn nghèo 5,5 đô la Mỹ/ngày, qua đó đóng góp thiết thực vào việc hướng tới thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. (…)

Bước tiến mới trong tiến trình hội nhập chính trị, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội

Cùng với hội nhập kinh tế, tiến trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng - an ninh cũng có thêm nhiều bước tiến mới. Đóng góp của Việt Nam vào sứ mệnh gìn giữ hoà bình và an ninh quốc tế có sự phát triển về chất, với việc lần đầu tiên chúng ta cử một số cán bộ, chiến sỹ tham gia Phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan. Bên cạnh đó, các cuộc diễn tập chung, tìm kiếm cứu nạn, giao lưu hữu nghị giữa Việt Nam với Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc... cả ở kênh song phương và trong khuôn khổ ASEAN đã góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau và tin cậy chính trị. (…)

Vững tin hướng tới chặng đường phía trước

Với những thành tựu quan trọng đạt được trong năm 2018 và quyết tâm lớn, toàn ngành Đối ngoại đang bước vào năm 2019 với tinh thần sáng tạo, đột phá và vượt lên chính mình, hướng tới thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đại hội Đảng XII và chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 30 vào tháng 8/2018. (…)

Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ đó, toàn Ngành sẽ tiếp tục phấn đấu xây dựng nền ngoại giao Việt Nam chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, xứng tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Với thế và lực mới của đất nước sau hơn 30 năm Đổi mới, với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, tin tưởng rằng công tác đối ngoại của Việt Nam sẽ tiếp tục được khẳng định và gặt hái thêm nhiều thành tựu lớn hơn; phục vụ hiệu quả hơn mục tiêu phát triển bền vững, hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước trong thời gian tới; đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước./.

 

THANH HÓA: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NĂM 2018 CAO NHẤT

TỪ TRƯỚC ĐẾN NAY

Trịnh Xuân Phú

Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Thanh Hóa

Cũng như các địa phương khác trong cả nước, Thanh Hóa thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường. (…) Trong bối cảnh đó, các cấp, các ngành trong Tỉnh đã tập trung triển khai thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra từ đầu năm. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 của Tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. (…)

Có thể thấy, năm 2018, với sự chỉ đạo quyết liệt của các cấp, các ngành; sự nỗ lực của các doanh nghiệp cùng toàn thể nhân dân trong tỉnh nên kinh tế Thanh Hóa tiếp tục tăng trưởng và đạt kết quả cao nhất từ trước đến nay. (…)

Năm 2019 có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện kế hoạch nhiệm kỳ 2015-2020. Để hoàn thành và vượt mức kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, góp phần thực hiện thắng lợi toàn diện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVIII, phấn đấu sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân các dân tộc trong tỉnh phải cùng nhau quyết tâm, nỗ lực phấn đấu cao hơn, quyết liệt hơn nữa trong thực hiện các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn./.

 

TẾT TÁO QUÂN: NÉT ĐẸP TRONG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

Trong tín ngưỡng của người Việt, bếp có vị trí rất quan trọng, là nơi giữ lửa của mỗi gia đình, thể hiện sự no đủ, quây quần ấm cúng. Táo Quân được xem là vị thần cai quản việc bếp núc và ngăn cản sự xâm phạm của ma quỷ vào thổ cư, giữ bình yên cho mọi người trong nhà... (…)

Lễ cúng Táo Quân không cần quá rườm rà, cầu kỳ nhưng phải chỉn chu và cần sự tôn kính, thành tâm, thể hiện lòng thành của gia chủ với vị thần cai quản đất đai, bếp núc. Lễ vật cúng Táo Quân thường có mũ ông Công ba cỗ hay ba chiếc (hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà). Mũ dành cho các Táo ông thì có hai cánh chuồn, còn mũ Táo bà thì không. Các mũ này được gắn các gương nhỏ hình tròn lóng lánh và những dây kim tuyến màu sắc sặc sỡ. Để giản tiện, cũng có khi người dân chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông Công (có hai cánh chuồn) kèm theo một chiếc áo và một đôi hia. Màu sắc của mũ, áo hay hia ông Công thay đổi hàng năm theo ngũ hành. Năm hành kim thì dùng màu vàng, năm hành mộc thì dùng màu trắng, năm hành thủy thì dùng màu xanh, năm hành hỏa thì dùng màu đỏ và năm hành thổ thì dùng màu đen. Sau lễ cúng ông Táo, những đồ “vàng mã” như mũ, áo, hia và một số vàng thoi bằng giấy sẽ được đốt gửi đến các Táo... (…)

Được coi là ”sự kiện” quan trọng mở đầu cho mỗi mùa lễ Tết cổ truyền, thế nên sau khi tiễn ông Công ông Táo lên chầu trời, nhà nhà bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ cúng ông bà tổ tiên, chuẩn bị sắm sửa cho ngày Tết cận kề. Đến chiều 30 Tết, người dân lại chuẩn bị chu đáo để đón ông Công, ông Táo trở về trần gian tiếp tục làm nhiệm vụ./.

Ngọc Linh (tổng hợp)

 

BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG THỜI ĐẠI MỚI

Thu Hòa

Với những nét văn hóa dân gian đặc trưng, Việt Nam là nước có truyền thống văn hóa truyền miệng, khác với Trung Quốc và Ấn Độ là truyền thống văn hóa chữ viết. Văn hóa dân gian Việt Nam có truyền thống hình thành và phát triển từ rất lâu đời, bắt nguồn từ xã hội nguyên thủy. Đến thời kỳ phong kiến tự chủ, cùng với sự ra đời và phát triển của văn hóa bác học, chuyên nghiệp, cung đình thì văn hóa dân gian vẫn tồn tại và giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của văn hóa cũng như xã hội Việt Nam, đặc biệt là với quần chúng lao động. (…)

Theo Báo cáo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đến nay ở nước ta có hơn 80 lễ hội truyền thống tiêu biểu của các dân tộc Mường, Thái, Tày, Cơ Tu, Mông, Nùng, Dao, Ba Na, Chứt, Khmer, XTiêng, Khơ Mú, Lào, Giáy, Lô Lô, Co, Mạ, Bố Y, Pà Thẻn, Ơ Đu, Tà Ôi, Hà Nhì, Cống, Shi La, Rơ Măm, Ê Đê, Bru-Vân Kiều... được phục dựng bảo tồn, phát triển đúng mục đích, phù hợp với từng dân tộc. Hơn 30 làng/bản/buôn của 25 dân tộc (S’tiêng, Chăm, Ba Na, K’ho, M’Nông, Ê Đê, Vân Kiều, Khơ mú, Mường, Thái, Mông, Lô Lô, Tày, Dao, Khmer, Jrai, Ơ Đu, Chứt, Mạ, Bố Y, H’rê...) được hỗ trợ đầu tư bảo tồn, phát huy giá trị các thiết chế văn hóa truyền thống, lễ hội, làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc, trang phục truyền thống, nghề truyền thống, những nét đẹp trong phong tục tập quán của các dân tộc. (…)

Văn hóa dân gian là những giá trị vật chất và tinh thần do dân gian sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Việc phát huy các di sản văn hóa dân gian trong thời đại mới không chỉ là bảo tồn cho đúng các giá trị nguyên bản, mà còn phải phát triển thêm các giá trị tốt đẹp để làm phong phú đời sống tinh thần của mỗi người dân trong cộng đồng dân tộc. Quá trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian là một quá trình dài, không đơn giản, cần có thời gian và sự chung tay của các cấp quản lý và quần chúng nhân dân, như vậy mới có thể bảo tồn xứng tầm các giá trị và nâng cao đời sống tinh thần dân tộc./.

 

CA TRÙ: LOẠI HINH NGHỆ THUẬT ĐỘC ĐÁO CỦA VIỆT NAM

Ca Trù là loại hình nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, xuất hiện vào đầu thế kỷ XVI. Trong lịch sử hình thành, nghệ thuật Ca Trù xuất phát từ hát Cửa đình. Sau một thời kỳ dài phục vụ nghi lễ tín ngưỡng trong dân gian, tế thành hoàng làng, Ca Trù phát triển trở thành loại hình nghệ thuật thưởng thức không gắn với không gian tín ngưỡng. Năm 2009, Ca Trù được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

Độc đáo của Ca Trù chính là sự phối hợp đa dạng, nhuần nhuyễn giữa thi ca và âm nhạc, đôi khi có cả múa. Hát Ca Trù gồm có Hát Cửa đình, Hát Nhà trò (hát ở đình, đền, miếu); Hát Cửa quyền (trong cung phủ); Hát Nhà tơ (hát ở dinh quan, tư gia các gia đình quyền quý); Hát Ả đào, Hát Cô đầu (hát ở các ca quán)... Tùy vào mỗi không gian diễn xướng, nghệ thuật Ca Trù sẽ có lối hát và cách thức trình diễn riêng. (…)

Với việc được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, Ca Trù đã khẳng định được vị trí quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới. Những năm trở lại đây, Ca Trù đang tìm lại chỗ đứng trong đời sống văn hóa, nhiều câu lạc bộ, hội, nhóm, giáo phường Ca Trù đã ra đời; cùng với đó là công tác đào tạo Đào nương cũng được chú trọng, góp phần nuôi dưỡng và gìn giữ loại hình nghệ thuật đặc sắc này./.

Nhàn Thư

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 6/2019 (547)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 2 tháng 5/2019 (546)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 5/2019 (545)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 2 tháng 4/2019 (544)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 4/2019 (543)