English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ II tháng 3/2019 (542)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Kỳ II tháng 3/2019 (542)

Ra hàng tháng. Năm thứ 58

 

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư

TCTK họp báo về Đề án thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát

Hội nghị Đại biểu công chức, viên chức và người lao động cơ quan Tổng cục Thống kê năm 2019

 Ninh Thuận: Tập trung triển khai Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019

¨ NGUYỄN VĂN HƯƠNG

ĐÁNH GIÁ LẠI QUY MÔ TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC

Kinh nghiệm quốc tế và nguyên tắc về đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trong nước ở Việt Nam

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước 2 tháng đầu năm 2019

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đô la Mỹ cả nước tháng Hai năm 2019

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam: Những vấn đề đặt ra

¨ TS. NGUYỄN BÍCH LÂM

Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều lần thứ hai: Lợi ích và cơ hội cho Việt Nam

¨ THU HƯỜNG

Sức bật của ngành công nghiệp nội dung số

¨ ThS. LÊ THỊ MINH TRÍ

Kinh nghiệm phát triển dịch vụ hỗ trợ vận tải biển của một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam

¨ ThS. VŨ ANH TUẤN - TS. LÊ THỊ VIỆT NGA

Doanh nghiệp vận tải nội địa - Bài toán nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ

¨ THU HIỀN

Thị trường bán lẻ Việt Nam: Những xu hướng chuyển dịch mới

¨ NGUYỄN HỮU CUNG

Thủy sản Việt Nam: Đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu, từng bước xây dựng thương hiệu

¨ ThS. ĐẶNG THỊ THƯ – TS. NGUYỄN VĂN GIAO

3 năm thí điểm triển khai mô hình khu công nghiệp sinh thái: Xu hướng xanh hóa công nghiệp tại Việt Nam

¨ ThS. PHÙNG THỊ KIM PHƯỢNG - ThS. TRẦN THANH TÙNG

Tiếp tục phát huy hiệu quả các chính sách dân tộc thiểu số và miền núi

¨ BÍCH NGỌC

Tăng cường sự tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ Việt Nam trong hội nhập

¨ THU HÒA

Tin địa phương

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ 2017

Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2011-2016 - Bức tranh nhiều điểm sáng

¨ KHÁNH QUỲNH

CẢ NƯỚC CHUNG TAY XÂY DỰNG NTM

Lạng Sơn: Huy động mọi nguồn lực cùng cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới

¨ MINH HÀ

Xây dựng nông thôn mới ở Yên Bái: Những tín hiệu tích cực

¨ GIA LINH

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI

Ảnh hưởng của lao động, năng suất lao động đến chỉ tiêu GDP

¨ TS. ĐẶNG VĂN LƯƠNG

QUỐC TẾ

Những xu hướng chủ đạo của kinh tế thế giới năm 2019

¨ TRÚC LINH

SÁCH HAY THỐNG KÊ

Hà Nội: Cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể tăng nhanh

VUI VUI... THỐNG KÊ

 

Nội dung tóm tắt một số bài số kỳ II tháng 3/2019

 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ NGUYỄN XUÂN PHÚC LÀM VIỆC VỚI

BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

 

Sáng ngày 19/2/2019, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH&ĐT) vinh dự được đón tiếp Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc về thăm và làm việc tại trụ sở cơ quan Bộ. Tham dự trực tiếp tại buổi làm việc có Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng cùng đại diện lãnh đạo một số Bộ, ngành: Văn phòng Chính phủ, Bộ Công Thương, Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; Lãnh đạo Bộ KH&ĐT, lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ KH&ĐT. Toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của Bộ KH&ĐT cùng theo dõi buổi làm việc qua 5 điểm cầu trực tuyến của các đơn vị thuộc Bộ.

Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đã báo cáo những kết quả đạt được của ngành và cơ quan Bộ KH&ĐT sau 3 năm thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng tại buổi làm việc đầu tiên với Bộ trong nhiệm kỳ vào ngày 21/4/2016. Trước hết, Bộ KH&ĐT đã đổi mới mạnh mẽ trong tư duy và hành động, thay đổi cách nghĩ, cách làm, nâng cao chất lượng công tác tham mưu cho Chính phủ; đổi mới mạnh mẽ trong công tác xây dựng thể chế; quyết tâm tháo gỡ những nút thắt, khó khăn, vướng mắc; chủ động nghiên cứu, xây dựng, kiến tạo những cơ chế, thể chế, động lực mới vượt trội, hiệu quả hơn, đón bắt được những xu hướng tiến bộ mới của thế giới, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực, giải phóng nguồn lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội. Thứ hai, có nhiều đổi mới hiệu quả, nhạy bén, kịp thời trong công tác tham mưu, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ, thể hiện được bản lĩnh, trí tuệ và quyết tâm của một cơ quan tham mưu chiến lược quan trọng của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Thứ ba, giữ vững được ngọn cờ cải cách, luôn đi đầu trong đổi mới, nhất là trong công tác kế hoạch hóa, một trong những nhiệm vụ chủ yếu của ngành và Bộ KH&ĐT. Thứ tư, thu được nhiều kết quả tích cực, đáng khích lệ trong công tác tổ chức cán bộ, thể hiện sự quyết tâm trong cải cách, đổi mới; mạnh dạn và tin tưởng cán bộ trẻ, có trình độ, có đạo đức trong công tác luân chuyển, bổ nhiệm lãnh đạo. Trong thời gian qua, Bộ đã có sự thay thế và chuyển giao lãnh đạo giữa một số cán bộ chủ chốt. Đến nay, Bộ đã hoàn thành công tác bổ sung cán bộ lãnh đạo cấp Thứ trưởng, trong đó 3/5 đồng chí Thứ trưởng là cán bộ trẻ (dưới 50 tuổi), có năng lực, trình độ, bản lĩnh, trí tuệ đáp ứng yêu cầu công việc ngày càng nhiều và phức tạp, góp phần tạo nguồn cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược có chất lượng cho Đảng và Nhà nước.

Sau báo cáo của Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng là báo cáo cụ thể về kết quả hoạt động của một số đơn vị thuộc Bộ trong thời gian qua.

Phát biểu tại buổi làm việc, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định rõ Bộ KH&ĐT có vị trí đặc biệt quan trọng, là cơ quan tham mưu về kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Theo Thủ tướng, trong năm 2018 nói riêng và những năm gần đây nói chung, ngành Kế hoạch và Đầu tư đạt được nhiều thành quả: Kịp thời đánh giá các rủi ro, hoàn thiện các kịch bản tăng trưởng trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp; Hoàn thiện thể chế trong đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch, qua đó, bãi bỏ quy hoạch gây cản trở hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp; Mạnh dạn đề xuất gỡ bỏ giấy chứng nhận đăng ký đầu tư dự án BOT, BT, bãi bỏ quy hoạch sân golf...; Tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, chủ động tham mưu trình Chính phủ ban hành nghị quyết về chương trình hành động cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong quá trình hội nhập; Hoàn thành báo cáo kiểm kê đánh giá thực chất các nguồn lực của nền kinh tế theo kết luận của Bộ Chính trị; Thúc đẩy mạnh mẽ thu hút đầu tư nước ngoài... Bên cạnh đó, Thủ tướng yêu cầu Bộ KH&ĐT cần thẳng thắn nhìn nhận một số yếu kém cần khắc phục như: Công tác đánh giá quản lý giải ngân vốn đầu tư công còn chậm, công tác quản lý, phân bổ còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt; công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều bất cập...

Tiếp sau đó, Thủ tướng nêu ra những thách thức đối với Việt Nam mà Bộ KH&ĐT cần lưu tâm như: Bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp; Nguy cơ Việt Nam tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình là rất lớn; Nhiều vấn đề văn hóa, xã hội nổi lên có thể kìm hãm sự phát triển, chênh lệch giàu nghèo có xu hướng gia tăng, vấn đề nhân khẩu học, già hóa dân số đang tạo nên những áp lực lớn đối với hệ thống an sinh xã hội và tương lai phát triển bền vững của Việt Nam; Những thách thức về biến đổi khí hậu, môi trường, tài nguyên đang ngày càng trở nên cấp bách, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước; Nguy cơ về tham nhũng tiêu cực ở một bộ phận cán bộ...

Với các định hướng, tầm nhìn vào năm 2030 là Việt Nam hướng tới trở thành một quốc gia phát triển thịnh vượng, Thủ tướng đề nghị Bộ KH&ĐT cùng các Bộ, ngành nỗ lực, sáng tạo hơn nữa, huy động mọi nguồn lực, cần đánh giá, hiểu rõ mục tiêu, những định hướng chiến lược, các lĩnh vực cần tập trung cải cách, đổi mới, tiếp tục xây dựng thể chế vượt trội, hiệu quả hơn; luôn phấn đấu xứng đáng là cơ quan tham mưu chiến lược, tổng hợp về phát triển kinh tế - xã hội quan trọng nhất của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Cuối bài phát biểu, Thủ tướng ghi nhận công tác chuẩn bị xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021- 2030 và Kế hoạch 5 năm 2021-2025 mà Bộ KH&ĐT có vai trò chủ đạo trong Tổ Biên tập và đưa ra 5 yêu cầu mới đối với Bộ KH&ĐT trong giai đoạn tới, đồng thời ghi nhận những kiến nghị cũng như ủng hộ những đề xuất của Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng tại báo cáo.

Đáp từ sự chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng cảm ơn sự quan tâm của Thủ tướng đối với Bộ KH&ĐT và xác định 5 yêu cầu mới mà Thủ tướng đặt ra đối với Bộ KH&ĐT trong giai đoạn tới và công tác xây dựng chiến lược là tư tưởng chỉ đạo quan trọng để chuyển hóa thành năng lượng, động lực và tự tin thực hiện thành công nhiệm vụ năm 2019. Thay mặt cán bộ công chức viên chức ngành Kế hoạch và Đầu tư, Bộ trưởng xin hứa quyết tâm giữ vững ngọn cờ cải cách và thắp sáng ngọn lửa đổi mới, dũng cảm vượt qua chính mình, hiện thực hóa khát vọng về phát triển đất nước, đổi mới sáng tạo, kiến tạo và phát triển, vươn lên, cống hiến và không ngừng củng cố phát huy sự đoàn kết, bản lĩnh và trí tuệ của cơ quan đầu ngành trong quản lý nhà nước tham mưu chiến lược cho Đảng, Chính phủ giúp đất nước ngày một phát triển. Bước sang năm 2019 với chủ đề là kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả và bứt phá, Bộ sẽ tiên phong đi đầu và bắt tay ngay vào trong các công việc được giao từ đầu năm./.

 

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

 

TS. Nguyễn Bích Lâm

Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

 

Sau khủng hoảng nợ công năm 2010 và suy thoái kinh tế thế giới kéo dài cùng những thách thức từ nội tại nền kinh tế, giai đoạn 2011-2017 thực sự là thời điểm khó khăn của nước ta, song vượt lên mọi trở ngại, Việt Nam là một trong những quốc gia đã đạt được tốc độ tăng trưởng đáng kể. Bình quân giai đoạn 2011-2017, tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 6,08%/năm; năm 2018 đạt 7,08%, là quốc gia có mức tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên chất lượng tăng trưởng đã song hành cùng tốc độ tăng trưởng hay chưa? Đây thực sự là bài toán khó mà Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn trăn trở.

Tăng trưởng kinh tế trong nước có nhiều chuyển biến tích cực

Đối mặt với cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, cùng với sự mất cân đối trong nhiều năm của nội tại nền kinh tế, những năm qua, Việt Nam đã nỗ lực chèo lái con thuyền kinh tế trong khó khăn, thử thách để duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý. Nhiều chuyên gia kinh tế khẳng định, giai đoạn 2011-2017, tăng trưởng kinh tế nước ta đã thoát khỏi sự phụ thuộc vào các giải pháp kích cầu ngắn hạn và ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên; kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát, đạt mục tiêu Quốc hội đặt ra; một số ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội then chốt tiếp tục thu được kết quả quan trọng; môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện; thu hút khách quốc tế, đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp mới thành lập tăng mạnh trong những năm gần đây; an sinh xã hội được bảo đảm; an ninh chính trị - xã hội ổn định. Điều này được minh chứng qua những số liệu thống kê cụ thể: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 đạt 6,24%, năm 2012 giảm xuống còn 5,25%, từ năm 2013 đã dần phục hồi với tốc độ tăng 5,42%, năm 2014 đạt 5,98%, năm 2015 đạt 6,68%, năm 2016 đạt 6,21%, năm 2017 đạt 6,81% và năm 2018 đạt 7,08%. Bình quân giai đoạn 2011-2018, tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 6,2%/năm, là quốc gia có mức tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới.

Điều đáng mừng trong những năm qua, Việt Nam không những duy trì được tốc độ tăng trưởng khá mà chất lượng tăng trưởng đã được cải thiện. Thể hiện ở chỗ, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong GDP đã giảm từ 19,57% năm 2011 xuống 15,34% năm 2017; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 32,24% lên 33,40%; khu vực dịch vụ tăng từ 36,73% lên 41,26%. Xét từng khu vực kinh tế cho thấy những chuyển biến đáng kể về chất. Đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản: Sản xuất lúa có xu hướng thu hẹp diện tích, chú trọng chuyển đổi sang lúa chất lượng cao phù hợp với thị trường; diện tích trồng cây lâu năm có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt với những loại cây trồng, sản phẩm phục vụ xuất khẩu; nuôi trồng thủy sản chuyển dịch mạnh mẽ sang nuôi trồng các loài trọng điểm dùng làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu... Đối với khu vực công nghiệp và xây dựng: Giảm tỷ trọng ngành khai khoáng, tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; xuất hiện ngày càng nhiều các ngành mới, có công nghệ phát triển... Hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa với kim ngạch hai chiều tăng cao, nhập siêu giảm mạnh; quy mô xuất khẩu hàng hóa tăng cao; cơ cấu hàng xuất khẩu thay đổi theo hướng gia tăng sản phẩm chế biến và tinh chế...

Một trong những thành công đáng kể của nước ta trong thời gian qua là vừa duy trì tốc độ tăng trưởng khá, vừa kiềm chế lạm phát thành công. Nhớ lại, năm 2011, lạm phát của nước ta ở mức 18,58%, cao nhất trong các nước thuộc khối ASEAN, nhưng đến năm 2017 giảm xuống chỉ còn 3,53% (bình quân mỗi năm giai đoạn 2011 – 2017 lạm phát tăng 6,33%), năm 2018 là 3,54%. Có được kết quả đó là nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ trong thực hiện đồng bộ các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội, áp dụng chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam, góp phần tăng thu nhập thực của người dân.

Bên cạnh đó, độ mở của nền kinh tế nước ta khá cao, thuộc nhóm nước có độ mở khá trong khu vực ASEAN. Số liệu thống kê cho thấy, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ so với GDP tăng cao trong những năm gần đây: Năm 2011 đạt 162,9%, năm 2012 đạt 156,5%, năm 2013 đạt 165,1%, năm 2014 đạt 169,5%, năm 2015 đạt 178,8%, năm 2016 đạt 184,7%, năm 2017 đạt 200,3% và năm 2018 là 208,6%. Điều này chứng tỏ Việt Nam đã khai thác được thế mạnh của kinh tế trong nước, đồng thời tranh thủ được thị trường thế giới. Đây là kết quả của quá trình hội nhập với thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa. Cán cân vãng lai của nền kinh tế được cải thiện. Sau một thời gian dài luôn ở trong tình trạng thâm hụt, giai đoạn 2011-2017, lần đầu tiên cán cân vãng lai của Việt Nam duy trì trạng thái thặng dư. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kết thúc năm 2011 cán cân vãng lai của Việt Nam đã bắt đầu thặng dư, dù mức thặng dư không lớn, chỉ 48 triệu USD; năm 2017 ước tính 4676 triệu USD.

Chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế được cải thiện còn thể hiện ở sự tăng bậc của một số chỉ số như: Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam từ thứ hạng 68/131 năm 2007 đã tăng lên 55/137 năm 2017; Xếp hạng môi trường kinh doanh năm 2018 đứng thứ 68/190, tăng 14 bậc so đánh giá năm 2017; Chỉ số nhà quản trị mua hàng và Hệ số tín nhiệm quốc gia đều được nâng lên.

Một số yếu tố trực tiếp tác động đến chất lượng tăng trưởng cũng có tiến bộ đáng kể như: Năng suất lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp... NSLĐ của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm. NSLĐ xã hội của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành giai đoạn 2011-2017 lần lượt là: 55,2 triệu đồng/ lao động; 63,1 triệu đồng/lao động; 68,7 triệu đồng/lao động; 74,7 triệu đồng/lao động; 79,4 triệu đồng/lao động; 84,5 triệu đồng/lao động và 93,2 triệu đồng/lao động. Bình quân giai đoạn 2011-2017, NSLĐ của toàn nền kinh tế tăng 4,7%/năm. Năm 2018, NSLĐ của toàn nền kinh tế Việt Nam theo giá hiện hành đạt 102 triệu đồng/lao động (tương đương 4512 USD), tăng 346 USD so với năm 2017; theo giá so sánh, NSLĐ tăng 5,93% so với năm 2017. Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) cho tăng trưởng GDP của Việt Nam thời gian qua cũng được nâng lên: Giai đoạn 2001-2010 chỉ đạt 4,3%; giai đoạn 2011-2015 đã tăng lên, đạt 33,58%; giai đoạn 2016-2018 đạt 43,3%.

Nâng cao chất lượng tăng trưởng - bài toán đặt ra

Mặc dù kinh tế Việt Nam đã có những bước tăng trưởng khá, thu hẹp dần khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực và trên thế giới, song chất lượng tăng trưởng kinh tế của nước ta trong giai đoạn 2011-2017 còn thấp và thiếu bền vững, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Các yếu tố như: Năng suất các nhân tố tổng hợp, năng suất lao động, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng cho sản xuất và hiệu quả đầu tư đều có những hạn chế nhất định. Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) cho tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2011-2015 đã tăng, song vẫn thấp so với các nước trong khu vực (tỷ lệ đóng góp TFP của Thái Lan trong giai đoạn 2011-2015 là 59% và Phi-lip-pin là 46%). Điều này cho thấy, trình độ phát triển khoa học và công nghệ, kỹ năng tổ chức và quản lý trong sản xuất, kinh doanh của lao động Việt Nam còn chưa đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại.

Năng suất lao động dù đã có những cải thiện song mức NSLĐ hiện nay của nước ta vẫn rất thấp so với một số nước trong khu vực. Tính theo PPP năm 2011, mức NSLĐ của Việt Nam năm 2017 đạt 10.232 USD, chỉ bằng 7,2% mức NSLĐ của Xin-ga-po, 18,4% của Ma-lai-xi-a, 36,2% của Thái Lan, 43% của In-đô-nê-xi-a và bằng 55% của Phi-lip-pin. Điểm đáng chú ý về chênh lệch mức NSLĐ giữa Việt Nam với các nước vẫn tiếp tục gia tăng. Đây chính là thách thức nền kinh tế Việt Nam phải giải quyết để có thể bắt kịp mức NSLĐ của các nước.

Chi phí đầu vào cho sản xuất của Việt Nam có xu hướng tăng dần qua các năm. Tỷ lệ chi phí trung gian so với giá trị sản xuất của toàn bộ nền kinh tế năm 2000 là 56,5%, năm 2007 tăng lên 63,1%, năm 2012 là 65,1% và năm 2017 ước tính lên tới 68%.

Mức tiêu hao năng lượng cho sản xuất của Việt Nam cũng có xu hướng tăng dần. Năm 2000, để sản xuất ra 1 đồng GDP cần 0,1 đồng năng lượng, đến năm 2007 cần 0,13 đồng, năm 2012 cần 0,24 đồng và năm 2017 cần 0,26 đồng. Như vậy, để sản xuất ra 1 đồng GDP thì mức tiêu hao năng lượng năm 2017 đã gấp tới 2,6 lần năm 2000.

Một yếu tố nữa tác động không nhỏ đến chất lượng tăng trưởng kinh tế là hiệu quả đầu tư. Trong nhiều năm qua, nền kinh tế nước ta vận hành theo mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào yếu tố vốn. Giai đoạn 2001-2010, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển bằng 41,6% GDP, đến giai đoạn 2011-2017, tỷ lệ đã giảm xuống còn 32,1% GDP, năm 2018 là 33,5%, đây vẫn là mức cao so với nhiều nước trong khu vực. Không thể phủ nhận, trong một giai đoạn, việc huy động được nguồn vốn lớn đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng do sử dụng vốn lãng phí, thất thoát nên hiệu quả đầu tư thấp, thể hiện qua chỉ số ICOR. Kết quả tính toán của Tổng cục Thống kê cho thấy, hệ số ICOR của Việt Nam ở mức 4,04 những năm 2001-2005 tăng lên 6,08 giai đoạn 2006-2010 và 6,25 giai đoạn 2011-2015, nói cách khác, để tạo ra 1 đồng GDP phải đầu tư 6,25 đồng (giai đoạn 2011-2015). Đây là hệ số ICOR cao so với một số nước trong khu vực (giai đoạn 2011-2015) như: Phi-lip-pin 3,98, Ma-lai-xi-a 5,05, nhưng lại thấp hơn In-đô-nê-xi-a 6,56 và Thái Lan 15,85. Tuy nhiên, trong năm 2017 và 2018, hệ số ICOR của nền kinh tế nước ta đã được cải thiện: Năm 2017 là 6,11 và 2018 là 5,97; bình quân giai đoạn 2016-2018 đạt 6,17 (thấp hơn giai đoạn 2011-2015 là 6,25). Hiệu quả đầu tư còn được thể hiện qua chỉ số lan tỏa kinh tế, trong giai đoạn 2011-2017, vốn đầu tư vào khu vực nông, lâm, thủy sản tuy chỉ chiếm 5%-6% tổng vốn đầu tư của cả nền kinh tế nhưng khu vực này đã tạo ra 15%-19% GDP của cả nước; trong khi đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tuy tạo ra 32%-33% GDP nhưng vốn đầu tư của khu vực này chiếm tới 43%-48%; khu vực dịch vụ tạo ra 37%-41% GDP nhưng vốn đầu tư chiếm tới 47%-51%. Điều này cho thấy, đầu tư của khu vực công nghiệp và xây dựng, dịch vụ chưa hiệu quả, khu vực nông, lâm, thủy sản tuy có khá hơn song cũng chưa đạt kết quả mong muốn.

Thứ hạng một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của Việt Nam và một số nước ASEAN trong Bảng xếp hạng các nền kinh tế thế giới năm 2017 (…)

 (*) Số liệu năm 2016. (**) Chỉ số HDI năm 2015.

Bức tranh kinh tế Việt Nam qua các chỉ tiêu về chất lượng tăng trưởng cho thấy, những mảng sáng tối đan xen, khi khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực đã được rút ngắn; nhưng cũng có khá nhiều yếu tố bất ổn khi bội chi ngân sách Nhà nước còn cao, nợ công tăng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp... Để đẩy mạnh quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam ổn định và bền vững, Chính phủ cần thực hiện đồng bộ 3 nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; nhóm giải pháp về phát triển khoa học và công nghệ và nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Đối với nhóm giải pháp về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, cần hoàn thiện thể chế kinh tế, cải cách thủ tục hành chính, kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi; nghiên cứu, hoàn thiện chính sách thuế; đổi mới phương thức đầu tư vào các ngành kinh tế có độ lan tỏa lớn, các ngành cung cấp sản phẩm cho thị trường nội địa; cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng sử dụng tổng hợp, hiệu quả các nguồn lực kinh tế; tạo lập và thực thi các chính sách nâng cao năng suất lao động; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế đồng bộ; thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng thị trường, đảm bảo cân đối xuất nhập khẩu, kiểm soát nhập siêu...

Đối với nhóm giải pháp về phát triển khoa học và công nghệ, cần chủ động nắm bắt cơ hội, tận dụng tối đa lợi thế từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin; tập trung đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu, xác định các lĩnh vực khoa học công nghệ cần ưu tiên phát triển; đẩy mạnh xã hội hóa và đổi mới cơ chế huy động và sử dụng NSNN cho phát triển khoa học công nghệ...

Đối với nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Nhà nước cần xây dựng hệ thống khung pháp lý và chính sách khuyến khích phát triển nguồn nhân lực; nâng cao chất lượng lực lượng lao động, tập trung đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu về lao động của nền kinh tế trong bối cảnh của CMCN 4.0; thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao; hoàn chỉnh phân cấp quản lý Nhà nước về giáo dục, đào tạo...

Với khát vọng vươn lên của cả dân tộc, dưới sự điều hành của Chính phủ theo phương châm “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, toàn bộ hệ thống chính trị, các tổ chức và cá nhân cần nỗ lực, nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc để xây dựng đất nước ngày một phồn vinh./.

 

THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM: NHỮNG XU HƯỚNG CHUYỂN DỊCH MỚI

 

Nguyễn Hữu Cung

Đại học Công nghiệp Hà Nội

 

Trong khoảng 5-10 năm gần đây, thị trường bán lẻ tại Việt Nam đang phát triển theo những xu hướng mới, với các kênh thương mại hiện đại như hệ thống đại siêu thị, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, của hàng chuyên doanh… có sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng, giành thêm được nhiều thị phần từ kênh bán lẻ truyền thống như: Chợ, cửa hàng tạp hóa. Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, những xu hướng này hứa hẹn sẽ đưa thị trường bán lẻ Việt Nam trở thành một trong những thị trường có sức hấp dẫn nhất trong khu vực.

 

Sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam

Sau hơn 10 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thị trường bán lẻ Việt Nam đã có những bước tiến vững chắc và gặt hái được nhiều thành quả tích cực. Theo Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR), thị trường bán lẻ Việt Nam đã hoàn toàn “thay da đổi thịt”, phong phú, đa dạng hơn, đáp ứng kịp thời các nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng thời kỳ hội nhập. Bên cạnh đó, là một quốc gia năng động trong khu vực châu Á và trên thế giới, thị trường bán lẻ Việt Nam luôn được đánh giá là mảnh đất nhiều tiềm năng. (…)

Những xu hướng dịch chuyển mới

Theo số liệu của Bộ Công Thương, hiện nay, bán lẻ truyền thống tuy chiếm 74% thị phần nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ chiếm 1%/năm, trong khi các kênh bán lẻ hiện đại hiện mới chỉ chiếm 26% thị phần nhưng tốc độ tăng trưởng rất mạnh mẽ, đạt 11,8%/năm. Bộ Công Thương dự báo, thị trường bán lẻ Việt Nam đang chuyển dần sang xu hướng đầu tư chuỗi cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini. Hiện, Việt Nam có hơn 3.000 cửa hàng tiện lợi và kênh bán lẻ này sẽ còn tăng trưởng mạnh.Theo đó, các chuỗi cửa hàng tiện lợi tại Việt Nam sẽ tăng trưởng 2 con số trong 3 năm tới và đạt mức 37,4% vào năm 2021 - cao nhất trong số các quốc gia được khảo sát. (…)

Có thể nói, ngành bán lẻ Việt Nam đang trải qua thời khắc thú vị khi quá trình biến chuyển và tiến hóa mạnh mẽ đã ảnh hưởng khá lớn đến hành vi tiêu dùng. Trong thời gian tới, dự báo sẽ ngày càng có nhiều hơn những mô hình bán lẻ mới với những tiện ích hiện đại, phục vụ tối đa nhu cầu trải nghiệm, giải trí lẫn sáng tạo của NTD.

Theo Chiến lược Phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, tốc độ tăng bình quân hàng năm của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giai đoạn đến năm 2020 ước khoảng 13%/năm, giai đoạn 2021-2025 đạt 14%/năm.(…) ./.

 

TIẾP TỤC PHÁT HUY HIỆU QUẢ CÁC CHÍNH SÁCH DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI

 

Bích Ngọc

 

Phát triển vùng dân tộc thiểu số, miền núi (DTTS, MN) được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và phát triển bền vững. Trong nhiều năm qua, hệ thống pháp luật về dân tộc, miền núi không ngừng được hoàn thiện cùng với việc ưu tiên bố trí, huy động nguồn lực để thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế vùng DTTS, MN về mọi mặt trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh của vùng DTTS, MN và phù hợp với định hướng phát triển chung của cả nước.

Hiệu quả từ các chính sách

Theo Báo cáo tóm tắt đánh giá 3 năm thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi (giai đoạn 2016 - 2018) của Ủy ban Dân tộc, tổng số dân vùng dân tộc thiểu số là 13,4 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước. Đồng bào DTTS cư trú tại 51 tỉnh, thành phố, trong đó chủ yếu ở các vùng: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải miền Trung. Đó là những vùng khó khăn nhất của nước ta, đồng thời cũng là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Do đó, đồng bào dân tộc thiểu số luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước. (…)

Vẫn còn khoảng cách lớn

 Tuy nhiên, đời sống đồng bào vùng DTTS vẫn còn nhiều khó khăn và tồn tại những khoảng cách khá lớn so với cả nước về nhiều mặt. Số liệu của Báo cáo tóm tắt đánh giá 3 năm thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS, MN cho thấy, thu nhập bình quân của hộ đồng bào DTTS nhiều nơi chỉ bằng 40-50% bình quân thu nhập trong khu vực; tỷ lệ hộ nghèo tại vùng dân tộc thiểu số cao, tính đến cuối năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm tới 52,7% tổng số hộ nghèo cả nước, trong khi dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14,6% tổng dân số nước ta. (…)

Năm 2019 là năm “nước rút” để hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011-2020, do đó cần nhanh chóng giải quyết những vấn đề tồn tại của vùng DTTS, MN để cùng cả nước về đích những mục tiêu như kế hoạch đặt ra. (…) ./.

 

NHỮNG XU HƯỚNG CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ THẾ GIỚI NĂM 2019

Trúc Linh

Kinh tế thế giới năm 2019 được hầu hết các tổ chức kinh tế thế giới dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại, triển vọng trung hạn thiếu vững chắc và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro. Dưới đây là một số yếu tố được các chuyên gia kinh tế nhận định sẽ là những xu hướng chủ đạo trong năm 2019.

Bảo hộ thương mại sẽ tiếp tục gia tăng

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, năm 2019, bảo hộ thương mại nhiều khả năng tiếp tục gia tăng, trong khi các chính sách thuận lợi hóa thương mại giảm đi. Xu hướng bảo hộ mậu dịch, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung, các đòn trả đũa thuế quan đã gây nhiều tổn hại trong năm 2018 và được dự báo sẽ tiếp tục phủ bóng lên nền kinh tế toàn cầu trong năm 2019. (…)

Tự do hóa thương mại vẫn tiếp tục là xu thế chủ đạo

Bên cạnh việc gia tăng bảo hộ thương mại, thế giới cũng chứng kiến nhiều tín hiệu tích cực trong đẩy mạnh tự do hóa thương mại toàn cầu. Năm 2018, một loạt các hiệp định tự do thương mại như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA), FTA Mỹ - Hàn Quốc... được đàm phán thành công và “về đích” đã và đang mang lại động lực lớn cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu. (…)

Cải tổ thương mại đa phương, thúc đẩy liên kết mới

Hệ thống thương mại đa phương, đặc biệt là tổ chức thương mại thế giới WTO đang đứng trước sức ép phải điều chỉnh, thay đổi “luật chơi”. Nhiều khả năng lĩnh vực này sẽ chứng kiến sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các nước lớn, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc, nhằm khẳng định vai trò và bảo vệ lợi ích trong định hình hệ thống thương mại mới. (…)

Cách mạng công nghiệp 4.0 tác động ngày càng sâu sắc và nhiều chiều

Sau vài năm khởi phát, nhờ sự phát triển đột phá của nhiều công nghệ nền tảng (điện toán đám mây, dữ liệu lớn, Internet vạn vật...), Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) chuẩn bị bước vào giai đoạn phát triển bước ngoặt và trở thành một trong những đặc trưng cơ bản của thời đại. (…)

Trong xu hướng này, động lực phát triển quan trọng nhất là đổi mới sáng tạo và nguồn lực phát triển quan trọng nhất là tri thức và nhân lực có năng lực sáng tạo và thích ứng với công nghệ. Trong khi đó, các yếu tố tài nguyên, lao động chi phí thấp... sẽ ngày càng mất dần lợi thế. Điều này cũng sẽ khiến các nước công nghiệp hóa đi sau gặp nhiều khó khăn hơn, nếu chỉ theo đuổi mô hình công nghiệp hóa dựa vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài FDI; đồng thời đặt ra yêu cầu đánh giá lại các mô hình công nghiệp hóa truyền thống và tìm kiếm các mô hình công nghiệp hóa mới phù hợp với điều kiện của CMCN 4.0./.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 5/2019 (545)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 2 tháng 4/2019 (544)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 4/2019 (543)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ I tháng 3/2019 (541)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ II tháng 2/2019 (540)