English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
Tạp chí Con số và Sự kiện 
Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 5/2019 (545)

CON SỐ VÀ SỰ KIỆN

Tạp chí của Tổng cục Thống kê

ISNN 0866-7322. Kỳ 1 tháng 5/2019 (545)

Ra hàng tháng. Năm thứ 58

 

HOẠT ĐỘNG TRONG NGÀNH

Lễ ký kết Chương trình phối hợp công tác giữa Tổng cục Thống kê và Tổng cục Thủy sản

Kỳ họp hợp tác song phương lần thứ 23 giữa Tổng cục Thống kê và Thống kê Hàn Quốc

ĐÁNH GIÁ LẠI QUY MÔ TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC

Đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trong nước

KINH TẾ - XÃ HỘI

Tình hình kinh tế - xã hội cả nước 4 tháng đầu năm 2019

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đô la Mỹ cả nước tháng Tư năm 2019

Việt Nam hiện thực hóa xây dựng Chính phủ điện tử

¨ MINH HÀ

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2018 của Việt Nam

¨ ThS. ĐỖ THU HƯƠNG

Ngành cá tra Việt Nam – giữ vững đà tăng trưởng

¨ ThS. TRẦN THU HẰNG – ThS. VŨ THỊ THANH THỦY

Những kết quả đạt được sau 5 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp

¨ NGỌC LINH

Sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Ấn Độ và bài học cho Việt Nam

¨ ThS. VŨ THỊ THÚY HẰNG

Thị trường lao động Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0

¨ ThS. PHẠM THỊ THU HIỀN

Tin địa phương

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ 2017

Ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh qua kết quả Tổng điều tra kinh tế 2017

CẢ NƯỚC CHUNG TAY XÂY DỰNG NTM

Hà Giang khai thác tiềm năng du lịch góp phần xây dựng nông thôn mới

¨ THU HIỀN

Năm 2019 – Thái Bình xây dựng Nông thôn mới trong khí thế mới

¨ BÍCH NGỌC

SÁCH HAY THỐNG KÊ

Doanh nghiệp xây dựng Việt Nam có xu hướng tăng trong giai đoạn 2010 – 2016

QUỐC TẾ

Phát triển kinh tế tuần hoàn trên thế giới

¨ GIA LINH

NAM ĐỊNH – TIỀM NĂNG VÀ CƠ HỘI HỢP TÁC ĐẦU TƯ

Nam Định: Điểm đến hấp dẫn cho hợp tác đầu tư cùng phát triển

¨ TRẦN ANH DŨNG

Để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

¨ TRỌNG NGHĨA

Thành phố Nam Định – Định hình rõ nét các chức năng của trung tâm vùng Đồng bằng sông Hồng

¨ HOÀNG NGUYÊN DỰ

Huyện Trực Ninh: Tạo động lực cho phát triển công nghiệp

¨ TRỊNH TRUNG LONG

Nội dung tóm tắt một số bài trong số kỳ I tháng 5/2019

 

ĐÁNH GIÁ LẠI QUY MÔ TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC

 

Là căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch, hoạch định chính sách trung hạn và dài hạn phù hợp với năng lực của quốc gia”

LTS. Tại Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2018 của ngành Thống kê, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã giao nhiệm vụ cho ngành Thống kê chủ trì tính toán đánh giá lại quy mô GDP. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, thời gian qua, Tổng cục Thống kê đã tập trung lực lượng thực hiện rà soát, đánh giá lại quy mô GDP. Phóng viên Tạp chí Con số và Sự kiện đã có buổi trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê về vấn đề này.

Phóng viên: Xin Ông cho biết tại sao đánh giá lại quy mô GDP lại thực sự cần thiết, nhất là trong thời điểm này?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng, chỉ tiêu này không chỉ phản ánh quy mô, tiềm lực của nền kinh tế mà còn là cơ sở để tính toán nhiều chỉ tiêu kinh  tế - xã hội quan trọng khác. Trong quá trình biên soạn chỉ tiêu GDP, có nhiều vấn đề phát sinh cần phải rà soát, đánh giá lại cả trong ngắn hạn và dài hạn. Lý thuyết tài khoản quốc gia của Thống kê Liên Hợp quốc đưa ra ba vòng đánh giá lại số liệu GDP: Vòng 1 - Đánh giá lại số liệu quý; Vòng 2 - Đánh giá lại số liệu hàng năm; Vòng 3 - Đánh giá lại số liệu định kỳ. Ba vòng điều chỉnh sẽ được thực hiện một phần hay toàn bộ phụ thuộc vào khả năng thực hiện của cơ quan thống kê và thực tiễn tổ chức, quản lý hoạt động kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.

Đánh giá lại số liệu trong vòng 1 và vòng 2 được thực hiện trong ngắn hạn và hầu hết các nước thực hiện thường xuyên trong quá trình biên soạn GDP. Vòng 3 thực hiện điều chỉnh toàn diện được triển khai theo các giai đoạn nhất định, phụ thuộc vào kết quả tổng điều tra, nhu cầu cập nhật phương pháp luận mới, cập nhật gốc so sánh, cũng như áp dụng các bảng phân loại theo khuyến nghị của quốc tế. Thông thường, thông tin từ các cuộc tổng điều tra sẽ được dùng làm căn cứ để đánh giá lại số liệu do tính toàn diện và bao trùm của phạm vi thông tin thu thập từ Tổng điều tra. Những quốc gia có trình độ thống kê tiên tiến đã thực hiện tốt việc cập nhật, đánh giá lại thường xuyên theo số liệu tổng điều tra và điều tra toàn bộ nên ít phải thực hiện đánh giá lại vòng 3, trừ khi cập nhật phương pháp luận mới. Những quốc gia còn có bất cập về phạm vi, nguồn thông tin thu thập nhưng chưa có khả năng xử lý thường xuyên, cần phải tiến hành đánh giá lại vòng 3 để nâng cao chất lượng số liệu, đảm bảo nguyên tắc“tính đúng, tính đủ” và so sánh quốc tế. Như vậy, theo lý luận của hệ thống tài khoản quốc gia, chỉ tiêu GDP cần được tiến hành rà soát, đánh giá lại thường xuyên hàng quý, hàng năm và đánh giá định kỳ theo giai đoạn. Còn tại sao thời điểm này, Việt Nam lại tiến hành đánh giá lại quy mô GDP bởi một số lý do sau:

Thứ nhất, qua các lần tiến hành Tổng điều tra kinh tế 2012 và 2017, Tổng điều tra nông thôn, Nông nghiệp và Thủy sản 2011 và 2016 cho thấy, thông tin từ các cuộc điều tra mẫu hàng năm thực hiện đã bị bỏ sót, do vậy trên cơ sở kết quả từ các cuộc Tổng điều tra này sẽ là một trong những căn cứ quan trọng để TCTK rà soát, đánh giá lại cho đúng, đủ quy mô và cơ cấu chỉ tiêu GDP những năm gần đây. Bên cạnh đó, công tác chia sẻ dữ liệu giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) với các bộ, ngành ngày càng tốt hơn, cùng với thông tin từ các cuộc điều tra, Tổng điều tra, Tổng cục Thống kê đã thu thập được thông tin từ nguồn dữ liệu hành chính của các bộ, ngành.

Thứ hai, Thống kê Việt Nam đang từng bước chuyển đổi từ SNA 1993 sang SNA 2008 theo khuyến nghị của Thống kê Liên Hợp quốc; trong đó tập trung xử lý các hoạt động kinh tế thuộc phạm vi sản xuất theo quan điểm mới về tăng trưởng kinh tế.

Thứ ba, năm 2018 ban hành hai bảng phân loại mới theo chuẩn quốc tế. Ngày 06/7/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg về việc ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam thay cho hệ thống ngành kinh tế năm 2007. Ngày 01/11/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 43/2018/QĐ- TTg về việc ban hành hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam thay cho hệ thống ngành sản phẩm năm 2010. Với việc sử dụng hệ thống phân ngành mới, thống kê các hoạt động kinh tế của nước ta sẽ đầy đủ hơn, chi tiết hơn.

Thứ tư, nghiên cứu xây dựng và triển khai Đề án thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 01/02/2019, là cơ sở để TCTK tiếp tục củng cố và hoàn thiện nguồn thông tin, phương pháp tính chỉ tiêu GDP và GRDP, nhằm xác định đúng và đầy đủ hơn quy mô GDP.

Thứ năm, sau hai năm chính thức thực hiện Quyết định số 715/QĐ-TTg ngày 22/5/2015 của Thủ tướng Chính phủ về khắc phục chênh lệch số liệu tổng sản phẩm trong nước và tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, sự khác biệt giữa tốc độ tăng của GDP và GRDP đã được khắc phục, tuy nhiên vẫn tồn tại sự khác biệt về quy mô GDP của toàn quốc và tổng GRDP của các địa phương. Do đó, cần tiếp tục xem xét, đánh giá lại quy mô GDP của cả nước để hoàn thành mục tiêu khắc phục chênh lệch số liệu GDP và GRDP giữa Trung ương và địa phương cả về quy mô và tốc độ.

Thứ sáu, việc đánh giá lại quy mô GDP là căn cứ đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016-2020 và xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025.

Với 6 lý do nêu trên cho thấy, cần thực hiện xem xét và đánh giá lại quy mô GDP và đây là thời điểm phù hợp để tiến hành công việc này.

Phóng viên: Như vậy, việc đánh giá lại quy mô GDP là thực sự cần thiết trong quá trình sản xuất thông tin thống kê, vậy ông có thể cho biết, các nước đã tiến hành việc này như thế nào?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Trên thế giới, việc rà soát, đánh giá lại GDP là yêu cầu bắt buộc trong quy trình sản xuất thông tin thống kê. Dựa trên cơ sở lý luận của hệ thống tài khoản quốc gia, thực trạng tình hình kinh tế - xã hội và tổ chức quản lý, các quốc gia vận dụng linh hoạt trong việc thực hiện đánh giá lại số liệu GDP. Hầu hết các quốc gia có năng lực thống kê tốt đều tiến hành rà soát, đánh giá lại GDP thường xuyên và định kỳ. Mức độ và chu kỳ đánh giá lại phụ thuộc vào biến động về nguồn thông tin, phạm vi và mục đích đánh giá lại.

Từ năm 2010 đến nay, nhiều quốc  gia  như Mỹ,  Canada,  Đức,  Nga,  Italia, Croatia, Inđônêxia,  Zambia…  đã tiến hành điều chỉnh và công bố lại quy mô GDP và các chỉ tiêu vĩ mô có liên quan. Cuối tháng 7 năm 2013,  Mỹ công bố kết quả tính  toán  GDP theo cách tiếp cận mới trên cơ sở cập nhật  khung lý thuyết của hệ thống tài khoản quốc gia 2008 (SNA 2008). Theo đó, quy mô GDP của Mỹ năm 2012 tăng thêm 560 tỷ USD, tăng 3,6% so với số liệu đã công bố. Tương tự Mỹ, năm 2012, Canada cũng tiến hành công bố kết quả đánh giá lại dãy số GDP từ năm 2007-2011. Kết quả sau khi đánh giá lại, quy mô GDP giá hiện hành năm 2011 của nước này tăng thêm 2,4% (tương đương tăng 36,4 tỷ USD). Trung Quốc đã ba lần tiến hành đánh giá lại quy mô GDP dựa vào thông tin từ các cuộc Tổng điều tra năm 2004, năm 2008 và năm 2013. Kết quả sau khi đánh giá lại năm 2013, quy mô GDP theo giá hiện hành của Trung Quốc được bổ sung thêm khoảng 305 tỷ USD, tương đương tăng 3,4%. Năm 2016, Trung Quốc tiếp tục đánh giá lại quy mô GDP. Kết quả điều chỉnh này đã bổ sung thêm 141 tỷ USD (khoảng 1,3%) vào mức gần 11 nghìn tỷ USD quy mô GDP năm 2015 của Trung Quốc… Một số quốc gia khác cũng tiến hành cập nhật SNA 2008 theo khuyến nghị Thống kê Liên hợp quốc. Theo đó, quy mô GDP giá hiện hành của các nước này cũng thay đổi đáng kể: Ghana tăng 60%, Nigeria tăng 59,5%, Maldive tăng 37%, Kenya tăng 25%, Malaysia tăng 3,2% v.v...

Nga và các nước thuộc Liên minh châu Âu cũng thực hiện điều chỉnh tăng quy mô GDP do bổ sung kết quả tính toán một số hoạt động kinh tế ngầm. Mỗi quốc gia có quy định cụ thể về nội hàm, phạm vi của các hoạt động kinh tế ngầm. Hà Lan chấp nhận hoạt động mại dâm và buôn bán ma túy trong khi các nước khác cấm những hoạt động này; Italia thừa nhận hoạt động của thị trường chợ đen từ năm 1987 và năm 2014 bắt đầu tính thêm hoạt động mại dâm và buôn bán ma túy. Bulgari tính toán cả hoạt động mại dâm và buôn lậu; Đức và Pháp tính toán hoạt động mại dâm và buôn bán ma túy… Năm 2013, GDP của Nga được đánh giá lại tăng khoảng 24,3%; Đức tăng khoảng 3%; Italia tăng khoảng 7%. Năm 2014, GDP của Bulgari đánh giá lại tăng 31,2%; Rumani và Croatia đánh giá lại tăng 28,4%.

Phóng viên: Tổng cục Thống kê gặp những thách thức gì khi đánh giá lại quy mô GDP, thưa Ông?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Thực tiễn Việt Nam khi đánh giá lại quy mô GDP có một số bất cập. Đó là nguồn thông tin thống kê ở nước ta tuy ngày càng được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về thông tin đầu vào phục vụ biên soạn chỉ tiêu giá trị sản xuất (GO) và giá trị tăng thêm (VA) theo ngành kinh tế và GDP của cả nước. Phạm vi tính toán chưa đầy đủ do nguồn thông tin còn hạn chế, hoạt động mới phát sinh chưa được xác định rõ và cập nhật kịp thời. Về lý thuyết, điều tra mẫu đã đảm bảo đầy đủ về phạm vi nhưng trong thực tế còn có hoạt động chưa được thu thập, bị bỏ sót hoặc không đầy đủ thông tin. Ngoài ra, việc ước tính theo ngành kinh tế cấp 1 còn bất cập do không phản ánh được sự thay đổi về cơ cấu ngành, cơ cấu sản phẩm dẫn đến chưa phản ánh sát định mức kỹ thuật. Từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả tính toán quy mô giá trị tăng thêm của các ngành. Ngoài ra, đối với khu vực kinh tế chưa được quan sát cũng có một số yếu tố rất khó thu thập, hiện nay Tổng cục Thống kê được giao chủ trì thực hiện Đề án khu vực kinh tế chưa được quan sát, với mục tiêu thu hẹp phạm vi của khu vực kinh tế này, nhằm nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động của nền kinh tế. Có thể nói, hiện nay Việt Nam vẫn chưa đủ các công cụ  để quản lý,  kiểm soát, minh bạch hóa thông tin bởi với việc vẫn sử dụng tiền mặt trong chi tiêu và sản xuất như hiện nay, thì vẫn còn đó lỗ hổng thiếu sót thông tin đầu vào. Bên cạnh đó, việc chia sẻ dữ liệu từ nguồn hồ sơ hành chính giữa Tổng cục Thống kê với các Bộ, ngành còn bất  ập. Để có nguồn dữ liệu đầy đủ, tính toán, tổng hợp thông tin thì rất cần sự vào cuộc, chia sẻ thông tin của các Bộ, ngành; hệ thống tài chính kế toán cần được minh bạch hơn nữa; các công cụ quản lý, giám sát các hoạt động kinh tế cần hiệu quả hơn có như vậy, ngành Thống kê mới có thể đo lường  được sát nhất tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Trao đổi với phóng viên về sự cần thiết phải đánh giá lại quy mô GDP trong quá trình sản xuất thông tin thống kê, ông Robert Dippelsman, Phó trưởng phòng thống kê của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cho biết, IMF có một vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo các quốc gia thành viên có được các số liệu tốt nhất về kinh tế, trên cơ sở đó xây dựng được những chính sách và quản lý kinh tế tốt nhất. Chính vì vậy, IMF hỗ trợ cho các quốc gia trong việc xây dựng những hệ thống về thống kê, về kinh tế và đặc biệt là các quốc gia có sự phát triển và thay đổi nhanh như Việt Nam, thì việc cập nhập số liệu thống kê về kinh tế là rất khó khăn và cũng rất quan trọng. Do đó, theo lời mời của Tổng cục Thống kê Việt Nam, phía IMF đã cử một đoàn công tác sang Việt Nam lần này để giúp rà soát phương pháp đánh giá lại quy mô GDP của Việt Nam. Bởi vì, IMF muốn Việt Nam có thể nắm bắt được tất cả các số liệu thống kê liên quan đến các doanh nghiệp mới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp nước ngoài, mà trước đây có thể trong quá trình thống kê về GDP chưa tính được hết và chưa cập nhật được đầy đủ những số liệu này, để đảm bảo bao phủ 100% toàn bộ những hoạt động kinh tế ở Việt Nam.

Ông Robert cũng cho rằng, hiện nay việc rà soát, cập nhật số liệu thống kê về GDP là một việc làm bình thường. Đặc biệt là với các quốc gia đang phát triển và có tốc độ thay đổi nhanh như Việt Nam thì việc thống kê và rà soát lại GDP là rất cần thiết. Do đó, nhóm chuyên gia IMF đánh giá rất cao việc Tổng cục Thống kê gần đây đã tiến hành những cuộc Tổng điều tra về kinh tế để đảm bảo độ bao phủ 100% tất cả các doanh nghiệp và các hoạt động về kinh tế. Hiện nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều cần phải rà soát đánh giá lại tốc độ tăng trưởng GDP của mình. Đối với một quốc gia có tốc độ thay đổi nhanh như Việt Nam thì việc này sẽ khó khăn hơn. Và Tổng cục Thống kê hiện nay có một nhiệm vụ rất khó khăn, đó là phải phối hợp được với tất cả các bộ, ngành, cơ quan để làm sao rà soát, đánh giá và đảm bảo độ bảo phủ 100% như mong muốn của mình trong lần rà soát này.

Phóng viên: Trước thực trạng đó, Tổng cục Thống kê thực hiện đánh giá lại quy mô GDP như thế nào, thưa Ông?

TS. Nguyễn Bích Lâm: Trước hết, việc thực hiện đánh giá lại quy mô GDP được Tổng cục Thống kê thực hiện dựa trên các nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện, tính lịch sử, so sánh và đảm bảo thống nhất về quy trình và phương pháp tính. Để thực hiện đánh giá lại quy mô GDP, chúng tôi chỉ xem xét, rà soát các hoạt động kinh tế thuộc phạm vi sản xuất theo quy định của Việt Nam, chưa xem xét các hoạt động kinh tế ngầm và kinh tế bất hợp pháp thuộc khu vực kinh tế chưa được quan sát. Tổng cục Thống kê thực hiện xem xét, rà soát từ nguồn thông tin và kết quả tính toán chi tiết đến 88 ngành kinh tế cấp 2, 21 ngành kinh tế cấp 1 và 3 khu vực kinh tế cho giai đoạn 2010-2017. Bổ sung cập nhật một số nội dung theo phương pháp luận của hệ thống tài khoản quốc gia 2008 và hệ thống phân loại mới. Bổ sung, cập nhật giá trị các sản phẩm nghiên cứu và phát triển, phần mềm tin học sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp/cơ sở kinh doanh; giá trị cải tạo đất, chi phí chuyển nhượng tài sản… Tổng cục cũng thực hiện đánh giá GDP theo giá hiện hành và giá so sánh năm 2010. GDP tính theo giá hiện hành kết hợp với các chỉ tiêu vĩ mô khác để nghiên cứu, xem xét các cân đối lớn trong nền kinh tế của các địa phương, của các ngành kinh tế với nhau. GDP tính theo giá so sánh nhằm đánh giá tốc độ tăng trưởng theo từng ngành kinh tế qua các năm. Bên cạnh việc rà soát, biên soạn lại GDP theo 2 loại giá nêu trên, cần xem xét chỉ tiêu này trong mối quan hệ với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác có liên quan. Có điểm đáng lưu ý là, trong điều kiện phạm vi tính toán được mở rộng và đầy đủ hơn, quy mô GDP thay đổi dẫn đến các quan hệ, cân đối lớn của nền kinh tế thay đổi. Trên cơ sở kết quả đánh giá lại quy mô GDP, cần có những phân tích, đánh giá, xem xét thấu đáo hơn kết quả và hiệu quả hoạt động kinh tế của đất nước trong một giai đoạn. Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch, hoạch định chính sách trung hạn và dài hạn phù hợp với năng lực của quốc gia.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Ông!

Trả lời cho câu hỏi của phóng viên về việc Việt Nam phải đối mặt như thế nào và bài học kinh nghiệm rút ra trong việc đánh giá lại quy mô GDP, ông Emnanuel Manolikakis, chuyên gia tư vấn của IMF cho rằng, đối với các quốc gia đang phát triển thì thách thức lớn nhất là làm sao có thể nắm bắt được tất cả các số liệu của các doanh nghiệp một cách kịp thời và đầy đủ, trong khi các doanh nghiệp này đang phát triển với tốc độ khá nhanh. Đối với Việt Nam vấn đề lớn nhất chính là sự thay đổi rất nhanh về cơ cấu kinh tế, với nền kinh tế mới và đang phát triển, số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất lớn. Ngoài ra, kinh tế hộ gia đình cũng rất khó để có thể nắm bắt được số liệu thống kê một cách kịp thời và đầy đủ. Chính vì vậy, ông đánh giá rất cao nỗ lực của Tổng cục Thống kê trong thời gian vừa qua đã phối hợp với các bộ, ngành, các cơ quan liên quan trong việc xác định và đánh giá các khu vực kinh tế để đảm bảo đo lường, tính toán được tất cả các hoạt động trong nền kinh tế. Ông cũng cho rằng, Tổng cục Thống kê trong lần điều chỉnh GDP này đã thực hiện hoàn toàn phù hợp với tất cả các thông lệ quốc tế. Tổng cục Thống kê đã tiến hành rất nhiều cuộc Tổng điều tra về các hoạt động kinh tế, dân số, hộ gia đình… để đảm bảo được tất cả các hoạt động trong nền kinh tế, đặc biệt là những hoạt động mới nổi hoặc những hoạt động vừa và nhỏ được nắm bắt trong lần rà soát, điều chỉnh này.

Mai Phương (Thực hiện)

 

NHỮNG KẾT QỦA ĐẠT ĐƯỢC SAU 5 NĂM THỰC HIỆN ĐỀ ÁN TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP

Ngọc Linh

 

Tháng 6/2013, Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” được phê duyệt theo Quyết định 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là một bước đi cụ thể hóa trong thực hiện chủ trương “Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng” của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI. Mặc dù trong thời gian hơn 5 năm thực hiện Đề án (2013-2018), bối cảnh quốc tế và trong nước còn nhiều khó khăn, biến đổi khí hậu diễn ra gay gắt, song dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ cùng sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ban, ngành và địa phương, đặc biệt là với sự nỗ lực của toàn ngành nông nghiệp, cũng như sự cố gắng vượt khó của cộng đồng doanh nghiệp và người nông dân, ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước chuyển mạnh mẽ, tích cực trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sản xuất; hiệu quả hoạt động của ngành và thu nhập người dân nông thôn ngày càng được nâng lên.

Thực hiện Đề án, hàng loạt thể chế, chính sách mới về nông nghiệp,  nông dân, nông thôn được ban hành, đã kịp thời bổ sung nguồn lực cho phát triển các lĩnh vực then chốt của ngành nông nghiệp như: Chính  sách tín dụng, thuế; Đẩy mạnh phát triển nông  nghiệp công nghệ cao với nhiều ưu đãi cho nông nghiệp, nông thôn; Hỗ trợ phát triển thủy sản; Chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa; Bảo vệ và phát triển rừng gắn với xóa đói giảm nghèo ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp… (…)

Một kết quả nổi bật khác của quá trình cơ cấu lại nông nghiệp thời gian qua đó là thị trường tiêu thụ nông, lâm, thủy sản được mở rộng nhờ những nỗ lực đàm phán, cũng như tháo gỡ các rào cản kỹ thuật trong thương mại bên cạnh việc nâng cao năng lực sản xuất trong nước. (…) Theo số liệu Tổng cục Thống kê, năm 2018 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng nông, lâm, thủy sản đạt 30,8 tỷ USD. Những mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu từ 3 tỷ USD trở lên là tôm, rau quả, gạo, cà phê… Riêng Quý I/2019 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông, lâm, thủy sản đạt 7,8 tỷ USD. (…)

Để đạt được kết quả trên, những bước đi tiếp theo của ngành nông nghiệp là sẽ tiếp tục rà soát và xây dựng 3 trục sản phẩm: Nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; nhóm sản phẩm theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm” để có chiến lược và giải pháp phát triển phù hợp. Đồng thời, các Bộ, ngành liên quan sẽ phối hợp cùng các địa phương tổ chức lập quy hoạch phát triển hạ tầng nông nghiệp; xác định kế hoạch, lộ trình và nguồn lực đầu tư hạ tầng cũng như phát triển các nguồn sản phẩm./.

 

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG SẢN XUẤT

KINH DOANH QUA KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ 2017

 

Cùng với quá trình hội nhập và sự phát triển của cuộc CMCN 4.0, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ta ngày càng được đẩy mạnh và phát triển. Đối với mỗi ngành, nghề và mỗi đơn vị, việc ứng dụng CNTT có những mục đích và nhu cầu khác nhau, song về cơ bản đã giúp cho công việc quản lý, vận hành hoạt động của mỗi đơn vị đạt hiệu quả cao, qua đó tiết kiệm chi phí, thời gian, nhân sự. Chính vì vậy, ngày càng nhiều đơn vị lựa chọn ứng dụng các giải pháp CNTT trong việc điều hành hoạt động, xem đây là một biện pháp nhằm tăng tính cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận và từng bước hội nhập với xu thế phát triển chung của thế giới. Số liệu thống kê từ cuộc Tổng điều tra Kinh tế 2017 đã phản ánh tổng thể bức tranh tình hình ứng dụng CNTT của các đơn vị thời gian qua.

Theo kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2017 (TĐTKT 2017), mức độ ứng dụng CNTT ở nước ta ngày càng tăng lên: Trong đó, số lượng các đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp có sử dụng máy tính đã tăng từ 9,9% năm 2012 lên 15,6% năm 2017, số cơ sở có kết nối internet tăng từ 8,7% lên 41,4%, số đơn vị có website tăng từ 1,1% lên 2,7%.

Tình hình ứng dụng CNTT trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và hợp tác xã

Theo kết quả TĐTKT năm 2017, tại thời điểm 01/01/2017 cả nước có 517,9 nghìn doanh nghiệp (DN) và 13,6 nghìn hợp tác xã (gọi chung là doanh nghiệp). Tỷ lệ doanh nghiệp có sử dụng máy tính đạt 86,2%, tương ứng với 446,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 6,3% so với năm 2012. Tỷ lệ có sử dụng internet đạt 85,1%, tương ứng 440,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 11,5% so năm 2012. Tỷ lệ có trang thông tin 25,8%, tương ứng 133,3 nghìn doanh nghiệp, so năm 2012 tăng 13,1%. (…)

Ứng dụng CNTT trong khối hành chính

Theo kết quả TĐTKT năm 2017, tại thời điểm 01/01/2017 có 34,8 nghìn đơn vị hành chính. Tỷ lệ cơ sở có sử dụng máy tính đạt 99,7%, có kết nối internet đạt 94,7%; nhưng tỷ lệ đơn vị có trang thông tin vẫn còn thấp, chỉ đạt 9,1%. Lao động trong các cơ sở hành chính là 997,0 nghìn lao động, tỷ lệ lao động được sử dụng máy tính là 76,9% và sử dụng mạng internet cho công việc là 75,9%. (…)

Ứng dụng CNTT trong khối sự nghiệp

Theo kết quả TĐTKT năm 2017, tại thời điểm 01/01/2017 có 73,6 nghìn đơn vị sự nghiệp, tỷ lệ cơ sở có sử dụng máy tính 99,5%, có kết nối internet 99,0%, có trang thông tin đạt 20,1%. Lao động trong các cơ sở sự nghiệp là 2.511,2 nghìn lao động, với tỷ lệ cao lao động được sử dụng máy tính 82,7% và sử dụng mạng internet cho công việc 82,1%. (…)

Ứng dụng CNTT trong hoạt động sản xuất kinh doanh khối cá thể

Theo kết quả TĐTKT 2017, tại thời điểm 1/7/2017 có 5142,9 nghìn cơ sở SXKD cá thể, so năm 2012 tăng 11,2%, có 4590 nghìn cơ sở có địa điểm hoạt động ổn định, chiếm 89,2%, tăng 14,5% so năm 2012. Chỉ các cơ sở có địa điểm ổn định mới được thu thập thông tin về ứng dụng CNTT. (…)

Ứng dụng CNTT trong cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng

Kết quả TĐTKT 2017 cũng cho thấy, tại thời điểm 01/01/2017 số cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng là 42,7 nghìn cơ sở, tăng 19,5% so năm 2012. Cơ sở tôn giáo sử dụng máy tính là 37,8%, tương ứng 10,5 nghìn cơ sở.

Số cơ sở tôn giáo có trang thông tin rất ít, chỉ có 234 cơ sở, tương ứng 2,0% và tập trung ở một số nơi: TP. Hồ Chí Minh 89 cơ sở, Bình Dương 13 cơ sở, Hà Nội 12 cơ sở, Thừa Thiên Huế 11 cơ sở.

Việc sử dụng máy tính và mạng internet chủ yếu ở Viện, Thiền viện và cơ sở giáo dục đào tạo, với mục đích sử dụng để học tập, nghiên cứu là lựa chọn đầu tiên chiếm 21,5%; tìm kiếm thông tin chiếm 18,7%, gửi và nhận email chiếm 11,6%, trao đổi với cơ quan, tổ chức khác chiếm 6,0%./.

(Theo “Tổng điều tra kinh tế năm 2017 - Ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh”, Tổng cục Thống kê)

 

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TUẦN HOÀN TRÊN THẾ GIỚI

Gia Linh

 

Trước thách thức nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt, ô nhiễm môi trường ngày một nghiêm trọng, nhiều quốc gia trên thế giới đã thay đổi chiến lược phát triển, hướng đến một nền kinh tế xanh, sạch - nền kinh tế tuần hoàn để phát triển bền vững. Theo đó, phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn với trọng tâm là tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên có trách nhiệm và quản lý chất thải hiệu quả hiện đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và đẩy mạnh triển khai thực hiện.

Kinh tế tuần hoàn: Xu hướng phát triển tất yếu nhằm giảm áp lực tài nguyên, chống biến đổi khí hậu hướng đến phát triển bền vững

Hiện nay, con người trên trái đất đang sống trong nền kinh tế tuyến tính, nơi hàng hóa được sản xuất từ tài nguyên thiên nhiên, được bán ra thị trường, được tiêu thụ và sau đó thải loại ra môi trường. Do vậy, với mô hình kinh tế tuyến tính sẽ dẫn đến việc nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị khai thác cạn kiệt và tạo ra một lượng chất thải khổng lồ. (…)

Các chuyên gia về kinh tế trên thế  giới  đưa  ra  định  nghĩa  nền  kinh  tế  tuần  hoàn  (Circular economy) là một khái niệm  được  hiểu  thông  qua  một  chu  trình  sản  xuất  khép  kín,  các  chất  thải được quay trở lại, trở thành nguyên liệu cho sản xuất, từ đó giảm mọi tác động tiêu cực đến môi trường, bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe con người. (…)

Theo báo cáo về nỗ lực chống biến đổi khí hậu của các quốc gia được công bố tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP24) diễn ra ở Katowice (Ba Lan) năm 2018, mặc dù thế giới đã đạt được kết quả nhất định thông qua các hành động để ngăn chặn tình trạng nóng lên của Trái đất, song mức tăng nhiệt độ vẫn còn rất cao. Do đó, các quốc gia trên thế giới cần đưa ra những cam kết mạnh mẽ và quyết liệt hơn, cũng như triển khai những biện pháp để giảm nhẹ và tăng khả năng thích ứng với tình trạng biến đổi khí hậu và hỗ trợ tài chính cho các nước nghèo. Đồng thời hướng đến một nền kinh tế xanh, sạch - nền kinh tế tuần hoàn. Đây sẽ là giải pháp hiệu quả nhằm đảm bảo phát triển bền vững với các quốc gia trên toàn cầu.

Nỗ lực và hành động nhằm phát triển kinh tế tuần hoàn trên thế giới

Với nhiều lợi ích và tính tất yếu cần chuyển đổi từ nền kinh tế tuyến tính sang nền kinh tế tuần hoàn, nhiều tổ chức, quốc gia trên thế giới đã nỗ lực với những hành động thiết thực nhằm hướng đến mục tiêu phát triển bền vững này.

Thông tin từ Hội nghị phát triển bền vững lần 5 được diễn ra tại Thái Lan (năm 2018), kinh tế tuần hoàn được xem là xu hướng mang tính toàn cầu, là kim chỉ nam cho chiến lược phát triển bền vững cho các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển trong khối ASEAN. (…)

Tại Pháp, Chính phủ nước này cũng đã công bố lộ trình phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn, theo đó, quốc gia này sẽ biến rác thải thành nguyên liệu phục vụ cho guồng máy sản xuất. (…)

Tại Hà Lan, trong khi nhu cầu về nguyên liệu thô của nước này đang tăng lên và nguồn cung lại phụ thuộc vào các nước khác, Chính phủ Hà Lan đã xác định việc chuyển đổi mô hình kinh tế sang kinh tế tuần hoàn là yêu cầu thiết yếu của quốc gia hiện nay. (…)

Tại Trung Quốc, Chính phủ đã có những bước đi quan trọng nhằm thông qua Luật thúc đẩy kinh tế tuần hoàn với mục tiêu sử dụng tối ưu tài nguyên, bảo vệ và cải thiện môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững. (…)

Có thể thấy, nền kinh tế tuần hoàn đã không còn dừng ở khái niệm mới mẻ mà đã được chuyển hóa vào kế hoạch và hoạt động của mỗi quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, để có thể thực hiện thành công nền kinh tế  tuần hoàn không chỉ dựa vào  những nỗ  lực của Chính phủ, mà  còn  cần sự  tham gia  tích cực của cộng đồng doanh nghiệp và bản thân mỗi công dân. (…) Việc áp dụng thành công mô hình kinh tế tuần hoàn được kỳ vọng sẽ mang lại sự phát triển bền vững cho mỗi quốc gia, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng, từ đó dẫn đến sự phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu./.

 

NAM ĐỊNH: ĐIỂM ĐẾN HẤP DẪN CHO HỢP TÁC ĐẦU TƯ CÙNG PHÁT TRIỂN

           

Trần Anh Dũng

 

Trong những năm qua, cùng với các địa phương trong cả nước, Nam Định đã nỗ lực để tạo dựng cho mình vị thế mới trong hoạt động thu hút đầu tư. Đặc biệt, Tỉnh coi trọng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, ưu tiên khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức đầu tư vào các lĩnh vực như: Công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, dịch vụ và xây dựng cơ sở hạ tầng…

Phát huy những giá trị, lợi thế riêng biệt

Nam Định là trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng, có vị trí thuận lợi để kết nối với Thủ đô Hà Nội, các trung tâm kinh tế và hệ thống sân bay, cảng biển. Mạng lưới giao thông của tỉnh được quy hoạch và đầu tư khá đồng bộ, gồm cả đường sắt, đường thủy, đường bộ tạo thành mạng lưới giao thông vận tải liên hoàn, đủ điều kiện tổ chức vận tải đa phương thức tới mọi vùng miền trong nước và quốc tế. (…)

Tập trung hỗ trợ doanh nghiệp, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi

Nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, từng bước đưa nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, tỉnh Nam Định đã xây dựng danh mục các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư, làm định hướng cho công tác quảng bá, xúc tiến đầu tư như: Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo, ô tô, điện - điện tử, dệt may; sản xuất công nghệ cao gồm công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin;(…)

Để tiếp tục hoàn thiện cơ sở hạ tầng, Tỉnh tập trung đẩy mạnh việc thực hiện quy hoạch và phát triển các khu, cụm công nghiệp. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã quy hoạch 09 khu công nghiệp với các cụm công nghiệp ở các huyện, thành phố. (…)

Kết quả thu hút đầu tư của tỉnh Nam Định những năm gần đây có sự chuyển biến tích cực. (…) Hiện nay nhiều nhà đầu tư có uy tín từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU… đang có nhu cầu và cam kết đầu tư ngay trong giai đoạn 2018-2020 vào Khu công nghiệp - Cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh với quy mô vốn lớn, công nghệ tiên tiến hiện đại. Điều đó cho thấy, Nam Định đang và sẽ trở thành điểm đến lý tưởng để các nhà đầu trong và ngoài nước đến tìm hiểu cơ hội hợp tác đầu tư./.

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 2 tháng 4/2019 (544)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ 1 tháng 4/2019 (543)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ II tháng 3/2019 (542)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ I tháng 3/2019 (541)
  Tạp chí Con số và Sự kiện kỳ II tháng 2/2019 (540)