English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội
  
ENGLISH

Chỉ số giá tiêu dùng
Thông cáo báo chí 
THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ SỐ LIỆU THỐNG KÊ KINH TẾ-XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2012 (11:11 03/04/2012)

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 4,00% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,84%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 2,94%, đóng góp 1,27 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,31%, đóng góp 2,40 điểm phần trăm.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Quý I năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nông nghiệp tăng 3,2%; lâm nghiệp tăng 6,1%; thủy sản tăng 4,9%.

a. Nông nghiệp

Tính đến ngày 15/3, cả nước đã gieo cấy được 3065,9 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 99,8% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1106,5 nghìn ha, bằng 101,1%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1959,4 nghìn ha, bằng 99%. Cũng tính đến thời điểm trên, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 835,9 nghìn ha lúa đông xuân, chỉ bằng 82,2% cùng kỳ năm trước do lịch xuống giống năm nay muộn, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 805,2 nghìn ha, chiếm 51% diện tích xuống giống và bằng 81,2%. Theo ước tính sơ bộ, năng suất lúa đông xuân vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng khoảng 1 tạ/ha so với vụ đông xuân 2011; sản lượng đạt 10,7 triệu tấn, tăng gần 200 nghìn tấn.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm ba tháng đầu năm gặp một số khó khăn. Thời tiết rét đậm, rét hại đã làm 1,5 nghìn con gia súc bị chết. Dịch cúm gia cầm bùng phát tại nhiều địa phương làm 66,5 nghìn con bị chết và tiêu hủy. Theo báo cáo sơ bộ, trong ba tháng đầu năm, đàn trâu, bò giảm khoảng 7% so với cùng kỳ năm trước, riêng đàn bò sữa tăng trên 10%; đàn lợn tăng 3-4%; đàn gia cầm tuy bị ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nhưng do tổng đàn tăng khá cao vào thời điểm cuối năm trước nên ước tính tăng 4-5%.

b. Lâm nghiệp

Ba tháng đầu năm, tổng diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 16,7 nghìn ha, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 138 nghìn ha, tăng 2,2%; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh 592 nghìn ha, tăng 2,8%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 62 triệu cây, tăng 2,8%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1045 nghìn m3, tăng 9,3%; sản lượng củi khai thác đạt 7195 nghìn ste, tăng 2,3%. Thời tiết vào mùa khô hạn nên nhiều địa phương có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Theo tổng hợp sơ bộ, đến trung tuần tháng Ba đã xảy ra 45 vụ cháy rừng làm thiệt hại 632 ha, gấp 12 lần cùng kỳ năm trước, riêng khu vực Tây Bắc thiệt hại 618 ha; diện tích rừng bị phá là 69 ha.

c. Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản ba tháng đầu năm nay ước tính đạt 1138,2 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 858 nghìn tấn, tăng 3,8%; tôm đạt 104,5 nghìn tấn, tăng 6%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng ba tháng ước tính đạt 511,6 nghìn tấn, tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó cá đạt 380,2 nghìn tấn, tăng 5% (riêng sản lượng cá tra vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt gần 240 nghìn tấn, tăng 4,5%); tôm đạt 76,1 nghìn tấn, tăng 7%. Sản lượng thủy sản khai thác quý I ước tính đạt 626,6 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 581,6 nghìn tấn, tăng 3,1%.

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp ba tháng đầu năm tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó công nghiệp khai thác mỏ tăng 3,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,2%; sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng 13,7% (Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cùng kỳ các năm 2010 và 2011 tương ứng là: 10,6% và 13,4%).

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I năm 2012 so với cùng kỳ năm trước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,4%; Hà Nội tăng 2,8%; Đồng Nai tăng 7%; Bình Dương tăng 4,3%; Bà Rịa -Vũng Tàu tăng 5,2%; Hải Phòng tăng 2,3%; Vĩnh Phúc tăng 18,7%; Cần Thơ tăng 3%; Hải Dương tăng 6,1%; Đà Nẵng tăng 2%.

Chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hai tháng đầu năm tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Chế biến và bảo quản rau quả tăng 47,5%; sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 28,3%; sản xuất đường tăng 20,2%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá là: Sản xuất thức ăn gia súc tăng 14,1%; chế biến bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản tăng 11,6%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất xe có động cơ tăng 4,9%; sản xuất thuốc lá, thuốc lào tăng 3,5%; sản xuất giày, dép giảm 10,1%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 15,4%; sản xuất xi măng giảm 15,7%; sản xuất đồ uống không cồn giảm 20,1%; sản xuất sắt, thép giảm 24,9%; sản xuất giấy nhăn và bao bì giảm 26,1%; sản xuất cáp điện và dây điện có bọc cách điện giảm 30,1%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 35,7%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm liên tục qua các tháng gần đây là: Sản xuất xe có động cơ; sản xuất sắt, thép; sản xuất cáp điện và dây có bọc cách điện.

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/3/2012 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 34,9% so với cùng thời điểm năm trước. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng khá cao là: Chế biến và bảo quản rau quả tăng 87,2%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 62,7%; sản xuất sắt, thép tăng 59,1%; sản xuất các sản phẩm thuốc lá, thuốc lào tăng 58%; sản xuất xi măng vôi, vữa tăng 55%; sản xuất xe có động cơ tăng 38,7%. Một số ngành có chỉ số tồn kho cao và có xu hướng tăng lên qua các tháng gần đây là: Chế biến và bảo quản rau quả; sản xuất các sản phẩm thuốc lá, thuốc lào; sản xuất xi măng vôi, vữa; sản xuất giày dép; sản xuất xe có động cơ. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất đồ uống không cồn tăng 11%; sản xuất giấy nhăn và bao bì tăng 9,2%; sản xuất sợi và dệt vải tăng 6,6%.

4. Hoạt động dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ba tháng đầu năm theo giá thực tế ước tính tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 5%), bao gồm: Kinh tế cá thể tăng 16,9%; kinh tế tư nhân tăng 25,7%; kinh tế Nhà nước tăng 28,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 36,7%; kinh tế tập thể tăng 19,2%. Trong các ngành kinh doanh, kinh doanh thương nghiệp tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước; khách sạn nhà hàng tăng 24,6%; dịch vụ tăng 34,3%; du lịch tăng 14,2%.

b. Vận tải hành khách và hàng hóa

Lượng hành khách vận chuyển ba tháng đầu năm ước tính tăng 14,3% về số khách vận chuyển và tăng 11,6% về khách luân chuyển so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận tải hành khách đường bộ tăng 15,3% và tăng 12,8%; đường sông tăng 1,3% và tăng 2,2%; đường sắt tăng 5,5% và tăng 5,9%; đường hàng không tăng 4,4% và tăng 9,2%.

Khối lượng hàng hoá vận chuyển ba tháng đầu năm ước tính tăng 10,3% về hàng hóa vận chuyển và giảm 3,6% về hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm 2011, trong đó vận chuyển trong nước tăng 11,2% và tăng 2,6%; vận chuyển ngoài nước giảm 6,8% và giảm 5,6%. Vận chuyển hàng hoá đường bộ quý I năm nay ước tính tăng 12,9% về hàng hóa vận chuyển và tăng 10,8% về hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; đường sông tăng 3,9% và tăng 2,7%; đường biển giảm 8,9% và giảm 7,7%; đường sắt giảm 9,3% và giảm 11,9%.

c. Bưu chính, viễn thông

Số thuê bao điện thoại phát triển mới ba tháng đầu năm ước tính đạt 2,6 triệu thuê bao, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm 2011, bao gồm: 7,6 nghìn thuê bao cố định, bằng 35,4% cùng kỳ và 2,5 triệu thuê bao di động, tăng 36,4%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng Ba năm 2012 ước tính đạt 134 triệu thuê bao, tăng 3% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm: 15,3 triệu thuê bao cố định, giảm 1,6% và 118,7 triệu thuê bao di động, tăng 3,6%.

Tính đến cuối tháng Ba năm nay, số thuê bao internet trên cả nước ước tính đạt 4,2 triệu thuê bao, tăng 17,5% so với cùng thời điểm năm trước; số người sử dụng internet đạt 32,1 triệu người, tăng 15,3%. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông ba tháng đầu năm ước tính đạt 32,6 nghìn tỷ đồng, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2011.

d. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta ba tháng đầu năm ước tính đạt 1873,7 nghìn lượt người, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 1112,6 nghìn lượt người, tăng 24,5%; đến vì công việc 319,5 nghìn lượt người, tăng 28,2%; thăm thân nhân đạt 334,5 nghìn lượt người, tăng 23,2%.

Trong ba tháng đầu năm, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng khách đến nước ta tăng so với cùng kỳ năm trước là: Trung Quốc 391,6 nghìn lượt người, tăng 36%; Hàn Quốc 206,3 nghìn lượt người, tăng 43,3%; Nhật Bản 159,2 nghìn lượt người, tăng 16,9%; Hoa Kỳ 134,8 nghìn lượt người, tăng 0,9%; Đài Loan 118,6 nghìn lượt người, tăng 33,7%; Cam-pu-chia 90,6 nghìn lượt người, tăng 18,1%; Pháp 72 nghìn lượt người, tăng 14,9%; Ma-lai-xi-a 70,2 nghìn lượt người, tăng 32%; Nga 56,2 nghìn lượt người, tăng 45,4%.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỀM CHẾ LẠM PHÁT

1. Xây dựng, đầu tư phát triển

Giá trị sản xuất xây dựng quý I năm nay theo giá so sánh 1994 ước tính bằng 96,4% cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực Nhà nước bằng 84,2%; khu vực ngoài Nhà nước bằng 99%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài bằng 91,2%;

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I năm 2012 theo giá thực tế ước tính đạt 197,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước và bằng 36,2% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 74,2 nghìn tỷ đồng, tăng 17,6%; khu vực ngoài Nhà nước 71,5 nghìn tỷ đồng, tăng 20,4%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 52 nghìn tỷ đồng, giảm 1,3%.

Trong tổng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện quý I ước tính đạt 37 nghìn tỷ đồng, bằng 19% kế hoạch năm và tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2011, gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 9,5 nghìn tỷ đồng, bằng 18,6% kế hoạch năm và tăng 7,9%; vốn địa phương quản lý đạt 27,5 nghìn tỷ đồng, bằng 19,1% kế hoạch năm và giảm 0,7%.

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/3/2012 đạt 2634,9 triệu USD, bằng 63,6% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn đăng ký của 120 dự án được cấp phép mới đạt 2267,4 triệu USD, bằng 44,4% số dự án và bằng 77,2% số vốn cùng kỳ năm 2011; vốn đăng ký bổ sung của 29 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước 367,5 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I năm nay ước tính đạt 2,5 tỷ USD, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tổng vốn đăng ký của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành quý I năm nay, ngành kinh doanh bất động sản đạt 1200 triệu USD của 02 dự án cấp phép mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1174,5 triệu USD, bao gồm: 816,5 triệu USD của 51 dự án cấp phép mới và 358 triệu USD vốn tăng thêm; ngành vận tải, kho bãi đạt 180 triệu USD của 01 dự án cấp phép mới.

Trong số 24 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp phép mới vào Việt Nam ba tháng đầu năm, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 2098,8 triệu USD, chiếm 92,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hà Lan 46,1 triệu USD, chiếm 2%; Hàn Quốc 25,8 triệu USD, chiếm 1,1%; Thái Lan 25,3 triệu USD, chiếm 1,1%, v.v.

2. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2012 ước tính đạt 136,9 nghìn tỷ đồng, bằng 18,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa 89,5 nghìn tỷ đồng, bằng 18,1%; thu từ dầu thô 19,5 nghìn tỷ đồng, bằng 22,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu 27,1 nghìn tỷ đồng, bằng 17,6%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 22% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 16,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước bằng 17,8%; thuế thu nhập cá nhân bằng 17,2%; thuế bảo vệ môi trường bằng 18,4%; thu phí, lệ phí bằng 12,7%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2012 ước tính đạt 164,9 nghìn tỷ đồng, bằng 18,3% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 31,4 nghìn tỷ đồng, bằng 17,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 30,7 nghìn tỷ đồng, bằng 17,6%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể 111,4 nghìn tỷ đồng, bằng 18,5%; chi trả nợ và viện trợ 22,1 nghìn tỷ đồng, bằng 22,1%.

3. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

a. Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ba tháng đầu năm ước tính đạt 24,5 tỷ USD, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt gần 9 tỷ USD, xấp xỉ cùng kỳ năm trước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 15,5 tỷ USD, tăng 43,1%. Một số mặt hàng có đơn giá xuất khẩu quý I năm nay tăng so với cùng kỳ năm 2011 là: Giá điện thoại và linh kiện tăng 179,8%; giá chất dẻo tăng 64,7%; giá máy móc thiết bị và phụ tùng tăng 61,3%. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I năm nay tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý I, một số mặt hàng xuất khẩu đạt mức kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Điện thoại các loại và linh kiện tăng 179,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 97,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 61,3%. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt mức tăng khá là: Hàng dệt may tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2011; dầu thô tăng 9,1%; giày dép tăng 14%; thủy sản tăng 11,7%. Riêng xuất khẩu gạo và cà phê giảm cả về lượng và giá trị so với cùng kỳ năm trước, trong đó cà phê giảm 10,1% về lượng và giảm 11,8% về kim ngạch; gạo giảm 42,5% về lượng và giảm 42,5% về kim ngạch.

Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu có sự thay đổi: Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng t37,3% trong quý I năm trước lên 44,9% trong quý I năm nay; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp giảm nhẹ t36,3% xuống 35,5%; nhóm hàng nông, lâm sản giảm từ 20,7% xuống 14,5%; nhóm hàng thủy sản giảm từ 5,7% xuống 5,1%.

Về thị trường xuất khẩu hàng hóa quý I năm nay, EU là thị trường lớn nhất với kim ngạch ước tính đạt 4,5 tỷ USD, tăng 29% so với cùng kỳ năm 2011; tiếp đến là Hoa Kỳ đạt 4,1 tỷ USD, tăng 16,5%; ASEAN đạt 3,6 tỷ USD, tăng 21%; Nhật Bản đạt 2,9 tỷ USD, tăng 45%; Trung Quốc 2,6 tỷ USD, tăng 18,1%.

b. Nhập khẩu hàng hoá

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ba tháng đầu năm ước tính đạt 24,8 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 11,7 tỷ USD, giảm 10,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13 tỷ USD, tăng 30,3%. Một số mặt hàng nhập khẩu có đơn giá tăng so với cùng kỳ năm trước là: Giá phân bón tăng 19%; giá xăng dầu tăng 18%; gdầu thô tăng 13%; giá khí đốt hoá lỏng tăng 11%.

Trong số các mặt hàng nhập khẩu quý I năm nay, hàng điện tử, máy tính và linh kiện tăng 103,4% so với cùng kỳ năm trước; sắt thép tăng 7,7%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ năm 2011 là: Xăng dầu giảm 19,7%; vải giảm 11,1%; kim loại thường giảm 3,3%; ôtô giảm 32,4%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu giảm 19%; sợi dệt giảm 13,3%.

Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu cũng có sự thay đổi: Tỷ trọng nhóm hàng tư liệu sản xuất tăng từ 90,4% trong quý I năm trước lên 92,7% trong quý I năm nay, trong đó máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng tăng từ 27,6% lên 33,9%; nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu giảm từ 62,8% xuống 58,8%; nhóm hàng tiêu dùng giảm từ 8,4% xuống 7,3%. Riêng vàng không nhập khẩu trong quý I năm nay, trong khi tỷ trọng kim ngạch mặt hàng này cùng kỳ năm trước là 1,2%.

Về thị trường nhập khẩu ba tháng đầu năm, Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất của nước ta với kim ngạch ước tính 5,4 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2011; tiếp đến là ASEAN 4,9 tỷ USD, tăng 2,8%; Hàn Quốc 3,4 tỷ USD, tăng 20%; Nhật Bản đạt 2,6 tỷ USD, tăng 14,8%; EU 1,9 tỷ USD, tăng 25%.

Nhập siêu hàng hóa quý I năm 2012 ước tính 251 triệu USD, bằng 1% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2,75 tỷ USD; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 2,5 tỷ USD.

4. Chỉ số giá

a. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba năm 2012 tăng nhẹ ở mức 0,16% so với tháng trước, trong đó mức điều chỉnh tăng giá xăng, dầu gần 10% tác động làm chỉ số giá tăng khoảng 0,08%. Chỉ số giá lương thực và thực phẩm quý I đã giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2011, trong đó lương thực giảm 1,21%; thực phẩm giảm 1,25%. Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có chỉ số giá tăng cao nhất với 2,31%; nhóm giáo dục tăng 1,11%; giao thông tăng 1,08%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng thấp hơn nhiều hoặc giảm gồm: Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,55%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,48%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,41%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,36%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,16%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,83%; bưu chính viễn thông giảm 0,02%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2012 tăng 2,55% so với tháng 12/2011; tăng 14,15% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm nay tăng 15,95% so với bình quân cùng kỳ năm 2011.

b. Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm 2012 tăng 0,26% so với quý trước và tăng 21,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp giảm 1,46% và tăng 19,89%; hàng lâm nghiệp tăng 3,36% và tăng 14,55%; hàng thủy sản tăng 6,81% và tăng 27,47%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp quý I năm 2012 tăng 3,16% so với quý trước và tăng 16,81% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 19,22% và tăng 38,86%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,75% và tăng 13,43%; điện và phân phối điện tăng 5,05% và tăng 8,40%; nước sạch, nước thải tăng 13,60% và tăng 22,87%.

Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất quý I năm 2012 tăng 2,31% so với quý trước và tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất của một số ngành tăng cao so với quý trước là: Sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 6,92%; dệt, trang phục, da và các sản phẩm có liên quan tăng 5,77%; khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 3,38%.

Chỉ số giá cước vận tải quý I năm 2012 tăng 5,94% so với quý trước và tăng 18,71% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá cước vận tải hành khách tăng 11,01% và tăng 33,05%; giá cước vận tải hàng hóa tăng 1,78% và tăng 7,87%; giá cước dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 4,21% và tăng 13,81%. Chỉ số giá cước vận tải các ngành đường như sau: Giá cước ngành đường sắt quý I năm 2012 tăng 6,06% so với quý trước và tăng 38,12% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải đường bộ tăng 2,01% và tăng 11,87%; đường thủy tăng 2,54% và tăng 9,74%; đường hàng không tăng 19,85% và tăng 46,64%; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 4,21% và tăng 13,81%.

d. Chỉ số giá xuất, nhập khẩu

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I năm 2012 giảm 1,75% so với quý trước và tăng 4,57% so với cùng kỳ năm 2011. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý I năm 2012 giảm 1,04% so với quý trước và tăng 10,56% so với cùng kỳ năm 2011.

III.  MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Lực lượng lao động

Theo kết quả sơ bộ điều tra lao động, việc làm quý I năm 2012, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước là 52,2 triệu người, tăng 827,3 nghìn người so với lực lượng lao động bình quân năm 2011. Trong tổng lực lượng lao động, nam là 26,9 triệu người, tăng 400,9 nghìn người; nữ là 25,3 triệu người, tăng 426,4 nghìn người. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động cả nước là 46,9 triệu người, tăng 403,6 nghìn người so với số bình quân năm trước, trong đó nam là 25 triệu người, tăng 148,3 nghìn người; nữ là 21,9 triệu người, tăng 255,3 nghìn người.

2. Đời sống dân cư

Theo kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo chung cả nước là 12,6%, giảm 1,6 điểm phần trăm so với năm 2010, trong đó tỷ lệ hộ nghèo của khu vực thành thị là 5,1%; tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn là 15,9%. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2011 của các vùng như sau: Vùng Trung du miền núi phía Bắc 26,7%; Vùng Tây Nguyên 20,3%; Vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 18,5%; Vùng Đồng bằng sông Cửu Long 11,6%; Vùng Đồng bằng sông Hồng 7,1%; Vùng Đông Nam Bộ 1,7%.

Theo báo cáo từ các địa phương, từ đầu năm đã có 5,6 triệu phần quà với tổng trị giá 1,8 nghìn tỷ đồng được trao cho các gia đình và đối tượng chính sách, bao gồm: 3,3 triệu phần quà với trị giá hơn 1 nghìn tỷ đồng được trao cho các gia đình có công với cách mạng, gia đình thuộc diện chính sách; 2,3 triệu phần quà tương đương 0,7 nghìn tỷ đồng cứu trợ xã hội cho đối tượng là các hộ nghèo, người khuyết tật và người có hoàn cảnh khó khăn.

Đời sống nông dân khu vực nông thôn có phần được cải thiện. Trong ba tháng đầu năm, cả nước có 200,4 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 33,4% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 827,1 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 32,8%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 17,8 nghìn tấn lương thực và 22,4 tỷ đồng. Bên cạnh đó, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các địa phương đã cấp phát 22,4 nghìn tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia để cứu đói đột xuất cho nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Thìn và giáp hạt năm 2012.

3. Giáo dục và đào tạo

Tại thời điểm đầu năm học 2011-2012, cả nước có 13384 trường mẫu giáo, tăng 706 trường so với năm học trước; 15337 trường tiểu học, tăng 95 trường; 10243 trường trung học cơ sở, tăng 100 trường và 2433 trường trung học phổ thông, tăng 145 trường. Số giáo viên của các cấp học cũng tăng so với năm học 2010-2011, trong đó giáo viên mẫu giáo là 181,9 nghìn người, tăng 15,5%; giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 829,6 nghìn người, tăng 1,4%, bao gồm: 366 nghìn giáo viên tiểu học, tăng 2%; 313,5 nghìn giáo viên trung học cơ sở, tăng 0,3% và 150,1 nghìn giáo viên trung học phổ thông, tăng 2,3%. Cũng tại thời điểm trên, cả nước có 3,4 triệu trẻ em đến lớp mẫu giáo, tăng 11,1% so với năm học trước; 7,1 triệu học sinh tiểu học, tăng 1,4%; 4,9 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,8 triệu học sinh trung học phổ thông. Số học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông không biến động nhiều so với năm học 2010-2011. Tính đến hết tháng Ba năm 2012, cả nước có 59/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Trong năm học 2011-2012, tổng số sinh viên đại học, cao đẳng của cả nước là 2478 nghìn sinh viên, đạt tỷ lệ 280 sinh viên/1 vạn dân, tăng 14,6% so với năm học trước; tổng số học sinh trung cấp chuyên nghiệp đạt 734 nghìn học sinh, tăng 7%.

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong ba tháng đầu năm nay, cả nước có 7,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (5 trường hợp tử vong); 68 trường hợp mắc bệnh viêm não virút; 12 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (2 trường hợp tử vong); chưa ghi nhận trường hợp nào mắc cúm A (H1N1). Trong tháng ghi nhận trên 7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng. Tính chung ba tháng, đã có 15,2 nghìn trường hợp tại 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mắc bệnh, trong đó 11 trường hợp tử vong. Trong tháng đã phát hiện thêm 987 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước tính đến giữa tháng Ba năm 2012 lên 251,9 nghìn người, trong đó 102,2 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 52,5 nghìn người đã tử vong do AIDS. Trong ba tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 16 vụ ngộ độc thực phẩm làm 360 người bị ngộ độc, trong đó 3 trường hợp tử vong.

5. Hoạt động thể thao

Trong thể thao thành tích cao, tính đến nay cả nước đã có 7 vận động viên giành suất chính thức tham gia vòng loại Olympic Luân-đôn năm 2012. Ngoài ra, ngành Thể dục Thể thao đã tổ chức thành công 15 giải thi đấu trong nước, 01 giải thi đấu quốc tế và tham dự 22 giải đấu quốc tế. Đặc biệt, tại các giải quốc tế tổ chức trong nước, đoàn Việt Nam đạt giải vô địch nữ tại giải Cờ vua quốc tế HDBank 2012 lần thứ 2 và dành ngôi Á quân tại giải Bóng chuyền quốc tế cup VTV-Bình Điền lần thứ VI.

6. Tai nạn giao thông

Trong tháng 02/2012, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 904 vụ tai nạn giao thông, làm chết 735 người và làm bị thương 718 người. So với cùng kỳ năm 2011, số vụ tai nạn giao thông giảm 25,4%; số người chết giảm 23,4%; số người bị thương giảm 31%. Tính chung hai tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1940 vụ tai nạn giao thông, làm chết 1665 người và làm bị thương 1481 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 21,2%; số người chết giảm 19,7%; số người bị thương giảm 23,7%. Bình quân một ngày trong hai tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 32 vụ tai nạn giao thông, làm chết 28 người và làm bị thương 25 người.

7. Thiệt hại do thiên tai

Thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài cùng áp thấp nhiệt đới và mưa to, triều cường xảy ra trong ba tháng đầu năm gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống dân cư của nhiều địa phương trên cả nước. Thiên tai làm hơn 100 ngôi nhà bị sập, cuốn trôi; 3,1 nghìn ngôi nhà bị ngập nước; gần 7 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hỏng; 6,3 nghìn ha lúa, mạ và hoa màu bị mất trắng; hơn 1,5 nghìn con gia súc bị chết. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong những tháng đầu năm ước tính trên 62 tỷ đồng.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 
CÁC THÔNG CÁO KHÁC
  Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2014 (30/09/2014)
  THÔNG CÁO BÁO CHÍ VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÝ I NĂM 2014 (02/04/2014)
  THÔNG CÁO BÁO CHÍ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI SÁU THÁNG ĐẦU NĂM 2013 (27/06/2013)
  Thông cáo báo chí Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2013 (28/03/2013)
  Thông cáo báo chí: ILO, Tổng cục Thống kê hợp tác thúc đẩy thống kê lao động (24/10/2012)
  Chuyên đề
phân tích
  Công nghệ
thông tin
  Hoạt động
khoa học thống kê
  Hệ thống Phổ biến số liệu chung
  Tạp chí
Con số và Sự kiện
  TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI (1/11/2012)
NTMua vàoBán ra
USD20820,0020870,00
JPY258,08264,47
HKD2641,742709,76
SGD16196,9316614,00
EUR26424,6826888,58
GBP32563,7233202,40