English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế- xã hội năm 2012

Kinh tế-xã hội nước ta năm 2012 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu chưa được giải quyết. Suy thoái trong khu vực đồng euro cùng với khủng hoảng tín dụng và tình trạng thất nghiệp gia tăng tại các nước thuộc khu vực này vẫn đang tiếp diễn. Hoạt động sản xuất và thương mại toàn cầu bị tác động mạnh, giá cả hàng hóa diễn biến phức tạp. Tăng trưởng của các nền kinh tế đầu tàu suy giảm kéo theo sự sụt giảm của các nền kinh tế khác. Một số nước và khối nước lớn có vị trí quan trọng trong quan hệ thương mại với nước ta như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật bản và EU đối mặt với nhiều thách thức nên tăng trưởng chậm. Những bất lợi từ sự sụt giảm của kinh tế thế giới ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống dân cư trong nước. Thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sức mua trong dân giảm. Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại. Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể.

Trước bối cảnh bất lợi đó, Đảng, Quốc hội và Chính phủ thẳng thắn nhìn nhận và chỉ ra những yếu kém trong nội tại nền kinh tế, đồng thời phân tích sâu những cơ hội và thách thức, trên cơ sở đó ban hành nhiều văn bản quan trọng cùng những định hướng đúng đắn trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành kinh tế-xã hội. Mục tiêu tổng quát của năm 2012 được Chính phủ xác định trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2012 “Ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”. Để ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Các ngành, các cấp, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp trong năm qua có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn, chủ động và tích cực thực hiện đồng bộ Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, các Nghị quyết của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhằm duy trì ổn định kinh tế-xã hội.

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 5,03% so với năm 2011, trong đó quý I tăng 4,64%; quý II tăng 4,80%; quý III tăng 5,05%; quý IV tăng 5,44%. Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mức tăng 5,89% của năm 2011 nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng như vậy là hợp lý và thể hiện xu hướng cải thiện qua từng quý, khẳng định tính kịp thời, đúng đắn và hiệu quả của các biện pháp và giải pháp thực hiện của Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Trong 5,03% tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,72%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,52%, đóng góp 1,89 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,42%, đóng góp 2,7 điểm phần trăm.

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

theo giá so sánh 1994

Đơn vị tính: %

Năm 2011

Năm 2012

TỔNG SỐ

5,89

5,03

Phân theo khu vực kinh tế

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

4,01

2,72

Công nghiệp và xây dựng

5,53

4,52

Dịch vụ

6,99

6,42

Phân theo quý trong năm

Quý I

5,53

4,64

Quý II

5,71

4,80

Quý III

6,02

5,05

Quý IV

6,15

5,44

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 255,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với năm 2011, bao gồm: Nông nghiệp đạt 183,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8%; lâm nghiệp đạt 8,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,4%; thuỷ sản đạt 63,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5%.

a. Nông nghiệp

Sản lượng lúa cả năm 2012 ước tính đạt 43,7 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn so với năm trước do diện tích và năng suất đều tăng, trong đó diện tích gieo trồng ước tính đạt 7753,2 nghìn ha, tăng 97,8 nghìn ha; năng suất đạt 56,3 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha. Nếu tính thêm 4,8 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2012 ước tính đạt 48,5 triệu tấn, tăng 2,6% so với năm 2011.

Trong sản xuất lúa năm nay, sản lượng lúa đông xuân đạt gần 20,3 triệu tấn, tăng 510,4 nghìn tấn so với vụ đông xuân trước do diện tích tăng 27,6 nghìn ha và năng suất tăng 1,1 tạ/ha. Sản lượng lúa hè thu đạt 14 triệu tấn, tăng 573,3 nghìn tấn do diện tích đạt 2659,8 nghìn ha, tăng 70,3 nghìn ha (Riêng diện tích lúa thu đông tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tăng 31,3 nghìn ha); năng suất đạt 52,5 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha. Sản lượng lúa mùa ước tính đạt gần 9,4 triệu tấn, tăng 179,6 nghìn tấn, chủ yếu do năng suất tăng 0,9 tạ/ha.

Sản xuất cây vụ đông ở các tỉnh phía Bắc bị ảnh hưởng của thời tiết xấu nên sản lượng một số cây hàng năm giảm so với năm 2011, trong đó đậu tương đạt 175,2 nghìn tấn, giảm 34,4%; vừng đạt 29,7 nghìn tấn, giảm 6,3%.

Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển do thuận lợi về giá bán sản phẩm đã khuyến khích người dân mở rộng diện tích gieo trồng. Diện tích cho sản phẩm và sản lượng một số cây chủ lực tăng so với năm 2011, trong đó diện tích chè ước tính đạt 115,8 nghìn ha, tăng 1,4%; sản lượng đạt 923,1 nghìn tấn, tăng 5%; cà phê diện tích đạt 574,2 nghìn ha, tăng 5,6%, sản lượng đạt 1292,4 nghìn tấn, tăng 1,2%; cao su diện tích 505,8 nghìn ha, tăng 10%, sản lượng đạt 863,6 nghìn tấn, tăng 9,4%; hồ tiêu diện tích đạt 46,9 nghìn ha, tăng 4,2%, sản lượng đạt 112,7 nghìn tấn, tăng 0,6%.

Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá, trong đó sản lượng dứa năm 2012 ước tính đạt 571,6 nghìn tấn, tăng 7,7% so với năm 2011; chuối đạt 1,8 triệu tấn, tăng 3%; xoài đạt 776,3 nghìn tấn, tăng 13%; bưởi đạt 435,6 nghìn tấn, tăng 2,7%. Tuy nhiên, một số cây khác do ảnh hưởng của thời tiết và một phần diện tích đang được cải tạo, chuyển đổi nên sản lượng giảm như: Sản lượng nhãn đạt 545,3 nghìn tấn, giảm 8,5% so với năm 2011; vải, chôm chôm đạt 649,3 nghìn tấn, giảm 10,5%; cam, quýt đạt 690,3 nghìn tấn, giảm 1,8%.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm gặp khó khăn do giá thịt giảm, chi phí đầu vào tăng cao và khó khăn về vốn nên chăn nuôi của các hộ và các doanh nghiệp cũng như trang trại bị ảnh hưởng. Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2012, đàn lợn cả nước có 26,5 triệu con, giảm 2,1% so với cùng thời điểm năm 2011, trong đó đàn lợn nái có 4,0 triệu con, giảm 0,5%; đàn trâu có 2627,8 nghìn con, giảm 3,1%; đàn bò có 5194,2 nghìn con, giảm 4,5%, nguyên nhân chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp, chăn nuôi hiệu quả thấp nên chưa khuyến khích người nuôi mở rộng quy mô đàn. Riêng nuôi bò sữa vẫn phát triển, tổng đàn bò sữa tại thời điểm trên của cả nước đạt 167 nghìn con, tăng 17% so với cùng thời điểm năm 2011. Đàn gia cầm có 308,5 triệu con, giảm 4,4% so với thời điểm 01/10/2011, trong đó đàn gà 223,7 triệu con, giảm 3,86%. Tính đến ngày 20/12/2012, cả nước không còn địa phương nào có dịch bệnh trên gia súc, gia cầm chưa qua 21 ngày.

Sản lượng thịt hơi các loại năm 2012 ước tính đạt 4,3 triệu tấn, tăng 2,5% so với năm trước, trong đó sản lượng thịt trâu tăng 0,8%; sản lượng thịt bò tăng 2,4%; sản lượng thịt lợn tăng 2%; sản lượng thịt gia cầm tăng 4,8%. Sản lượng trứng tăng 5,8%; sữa tươi tăng 10,5%; mật ong tăng 4,8%; kén tằm tăng 6,5%.

b. Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong năm gặp một số khó khăn do điều kiện thời tiết không thuận lợi nên việc triển khai các dự án trồng rừng chậm tiến độ, đặc biệt đối với rừng trồng phòng hộ và đặc dụng. Mặc dù vậy, kết quả các hoạt động lâm nghiệp khác vẫn tăng khá do một số yếu tố tích cực như: Sự ổn định của thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ và lâm sản khác trong những năm qua đã kích thích người dân tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng, đặc biệt là rừng trồng sản xuất; các hoạt động lâm sinh khác như chăm sóc rừng trồng, khoanh nuôi tái sinh rừng tiếp tục được chú trọng để tăng độ che phủ rừng; diện tích rừng sản xuất được quy hoạch ổn định và đầu tư hợp lý... Diện tích rừng trồng tập trung cả năm đạt 187 nghìn ha, bằng 88,2% năm 2011; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 169,5 triệu cây, tăng 0,3%; diện tích rừng trồng được chăm sóc tăng 34,8%; diện tích rừng được giao khoán bảo vệ tăng 12,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 5251 nghìn m3, tăng 11,9%, trong đó gỗ khai thác từ rừng trồng chiếm trên 80%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao là: Đồng Nai tăng 64,1%; Bắc Kạn tăng 51,6%; Thái Nguyên tăng 48,6%; Quảng Bình tăng 48%; Yên Bái tăng 47,2%; Kon Tum tăng 42,5%; Thanh Hóa tăng 42%; Lâm Đồng tăng 25,6%; Lào Cai tăng 17,6%; Bắc Giang tăng 14%. Sản lượng củi khai thác đạt 27,4 triệu ste, tăng 3%.

Do thời tiết trong năm nắng nóng, khô hạn kéo dài nên xảy ra hiện tượng cháy rừng ở một số địa phương, chủ yếu là các tỉnh thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên. Tổng diện tích rừng bị thiệt hại năm 2012 là 3225 ha, giảm 18% so với năm 2011, bao gồm: diện tích rừng bị cháy 2091 ha, tăng 19,8%; diện tích rừng bị chặt, phá 1134 ha, giảm 48,2%. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Hà Giang 298 ha; Đà Nẵng 181 ha; Lạng Sơn 132 ha; Phú Yên 106 ha; Lào Cai 100 ha; Thừa Thiên-Huế 92 ha; Quảng Nam 80 ha. Một số tỉnh có diện tích rừng bị chặt, phá nhiều là: Lâm Đồng 140,3 ha; Kon Tum 106 ha; Sơn La 86 ha.

c. Thuỷ sản

Sản lượng thủy sản năm 2012 ước tính đạt 5732,9 nghìn tấn, tăng 5,2% so với năm 2011, trong đó cá đạt 4343,7 nghìn tấn, tăng 5,3%; tôm đạt 632,7 nghìn tấn, tăng 0,3%. Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2012 ước tính đạt 1059 nghìn ha, tăng 0,7% so với năm trước, trong đó diện tích nuôi cá tra là 11,5 nghìn ha, tăng 3,4%; diện tích nuôi tôm sú 599,2 nghìn ha, giảm 1,4%; diện tích tôm thẻ chân trắng 34,3 nghìn ha, tăng 17,2%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng năm nay ước tính đạt 3110,7 nghìn tấn, tăng 6,1% so với năm 2011, trong đó cá đạt 2402,2 nghìn tấn, tăng 6,5%; tôm 473,9 nghìn tấn, giảm 1%. Nuôi cá tra vẫn gặp khó khăn do giá không ổn định, những tháng đầu năm giá tăng cao nhưng các tháng sau giá giảm trong khi giá cả các yếu tố đầu vào tăng như: Giá thuốc, thức ăn, nhiên liệu, v.v gây tâm lý e ngại và chưa khuyến khích các hộ mạnh dạn đầu tư mở rộng diện tích thả nuôi. Mặc dù Chính phủ đưa ra gói hỗ trợ 9000 tỷ đồng cho ngành cá tra, với mức lãi suất cho vay giảm nhưng đến nay người dân chưa mạnh dạn đầu tư nuôi lại vì thị trường tiêu thụ không ổn định, trong khi đó các nhà máy luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu. Đối với một bộ phận các doanh nghiệp nuôi cá tra quy mô lớn, do chủ động và thực hiện các biện pháp khắc phục khó khăn nên nhìn chung tương đối ổn định.

Sản lượng cá tra năm 2012 cả nước ước tính đạt 1226 nghìn tấn, tăng 3% so với năm 2011. Nhiều địa phương có diện tích và sản lượng cá tra giảm như: An Giang 927 ha, giảm 18%, sản lượng 186 nghìn tấn, giảm 8%; Vĩnh Long 507 ha, giảm 4%, sản lượng 80 nghìn tấn, giảm 6%; Trà Vinh 90 ha, giảm 35%, sản lượng 22 nghìn tấn, giảm 20%; Sóc Trăng 125 ha, giảm 25,6%, sản lượng 10 nghìn tấn, giảm 43%... Tại các địa phương có các doanh nghiệp nuôi quy mô lớn thì sản lượng tăng khá như: Đồng Tháp đạt 383 nghìn tấn, tăng 16,5% so với năm trước; Bến Tre 136 nghìn tấn, tăng 38%; Cần Thơ 194 nghìn tấn, tăng 3%; Tiền Giang 26 nghìn tấn, tăng 35%.

Nuôi tôm cũng gặp một số khó khăn do dịch bệnh đốm trắng, hoại tử gan, tụy lan rộng trên phần diện tích nuôi làm sản lượng thu hoạch tôm tại một số địa phương giảm như: Kiên Giang giảm 2%; Sóc Trăng giảm 18%; Long An giảm 13%; Trà Vinh giảm 59%.

Sản lượng thủy sản khai thác năm 2012 đạt 2622,2 nghìn tấn, tăng 4,3% so với năm 2011, trong đó khai thác biển đạt 2418 nghìn tấn, tăng 4,8%. Mô hình tổ đội kết hợp trong tổ chức khai thác biển nhằm tiết kiệm chi phí đang được các địa phương khuyến khích nhân rộng. Hiện nay tàu thuyền đánh bắt tập trung chủ yếu vào khai thác có chọn lọc các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao. Một số nghề đạt sản lượng khá là nghề cào, nghề lưới vây ánh sáng, nghề câu mực, đặc biệt là nghề câu cá lớn như cá ngừ. Sản lượng cá ngừ đại dương năm 2012 đạt 18 nghìn tấn, tăng 38% so với năm 2011. Một số địa phương có sản lượng cá ngừ đại dương khai thác đạt khá trong năm là: Phú Yên 6100 tấn, tăng 8% so với năm 2011; Bình Định 8389 tấn, tăng 78,7%, Khánh Hòa 3500 tấn, tăng 29,7%.

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 12/2012 ước tính tăng 5% so với tháng trước và tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung cả năm 2012, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 3,5%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm vào mức tăng chung của toàn ngành; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5%, đóng góp 3,2 điểm phần trăm; sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 12,3%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 8,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm. Sản xuất công nghiệp năm nay gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu chưa được hồi phục; sức mua trong nước và nhu cầu xuất khẩu giảm nên mức tăng thấp so với một số năm trở lại đây[1]. Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp những tháng cuối năm đang bắt đầu có chuyển biến tích cực, theo đó chỉ số sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng dần[2], chỉ số tồn kho giảm dần[3].

Một số ngành công nghiệp có mức sản xuất tăng cao so với năm 2011 là: Đóng tàu và cấu kiện nổi tăng 136,7%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 48,3%; sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ tăng 39,6%; sản xuất linh kiện điện tử tăng 23,7%; sản xuất pin và ắc quy tăng 18%; sản xuất đường tăng 17,7%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 14,9%; sản xuất, truyền tải và phân phối điện tăng 12,3%; chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa tăng 10,1%; khai thác khí đốt tự nhiên tăng 9,9%; khai thác dầu thô tăng 9,8%; sản xuất phân bón và hợp chất nitơ tăng 9,7%; sản xuất bia tăng 9,7%. Một số ngành có mức tăng khá như: Sản xuất mỹ phẩm, xà phòng và chất tẩy rửa tăng 9,4%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 8,8%; sản xuất sợi tăng 8,1%; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm tăng 7,9%; chế biến và bảo quản thuỷ sản tăng 7,9%; sản xuất các sản phẩm từ plastic tăng 5,2%.

Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm so với năm 2011 là: May trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) tăng 2,3%; sản xuất sắt, thép, gang tăng 2,2%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 1,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 0,3%; sản xuất vải dệt thoi giảm 0,8%; sản xuất giày, dép giảm 0,9%; sản xuất dây cáp, dây điện giảm 2,1%; sản xuất sơn, vec ni giảm 3,6%; sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) giảm 3,9%; sản xuất xi măng giảm 6%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 8,1%; khai thác và thu gom than cứng giảm 9,4%; sản xuất xe có động cơ giảm 10%; sản xuất mô tô, xe máy giảm 14,6%; khai thác đá, cát, sỏi giảm 19,3%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2012 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 4,9%; Đồng Nai tăng 7,2%; Bình Dương tăng 7,5%; Hà Nội tăng 5%; Hải Phòng tăng 3,9%; Bắc Ninh tăng 19,1%; Đà Nẵng tăng 6%; Cần Thơ tăng 4,6%; Hải Dương giảm 1%; Vĩnh Phúc giảm 3%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mười một tháng năm 2012 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,6%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao là: Sản xuất đường tăng 112,5%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 34,2%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 29,2%; chế biến và bảo quản thủy sản tăng 23,1%; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm tăng 21,7%; sản xuất cấu kiện kim loại tăng 10,7%; may trang phục tăng 7,8%; sản xuất mì ống, mì sợi tăng 6,5%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ mười một tháng tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 4,5%; sản xuất sợi tăng 3,8%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 0,9%; sản xuất sắt, thép giảm 1,9%; sản xuất giày, dép giảm 2,2%; sản xuất bia giảm 6,6%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 9,2%; sản xuất sản phẩm từ plastic giảm 11,3%; sản xuất vải dệt thoi giảm 16,1%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ giảm 16,7%; sản xuất xi măng giảm 17,1%; sản xuất xe có động cơ giảm 18%; chế biến sữa và sản phẩm từ sữa giảm 18,9%; sản xuất thiết bị điện giảm 20,6%; sản xuất dây, cáp điện giảm 38,3%.

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/12/2012 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó những ngành có chỉ số tồn kho tăng cao là: Sản xuất xe có động cơ tăng 76,6%; sản xuất dây, cáp điện tăng 56,8%; sản xuất bia tăng 44,5%; sản xuất thuốc lá tăng 42,2%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 42,1%; may trang phục tăng 41,5%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ tăng 40,8%; sản xuất xi măng tăng 30,6%; chế biến và bảo quản thuỷ sản tăng 28,6%; sản xuất mỹ phẩm, xà phòng và chất tẩy rửa tăng 24,7%; sản xuất pin, ắc quy tăng 17,1%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hoặc giảm là: Chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa tăng 9,2%; sản xuất hàng may sẵn (trừ trang phục) tăng 7,1%; sản xuất giày, dép tăng 6,6%; sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét tăng 3,6%; sản xuất sợi tăng 1,4%; sản xuất vải dệt thoi tăng 1%; sản xuất các cấu kiện kim loại giảm 5,4%; sản xuất bê tông và các sản phẩm từ xi măng giảm 7,5%; sản xuất thiết bị dẫn điện giảm 9,7%; sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng giảm 20,2%; sản xuất đường giảm 24%.

Tỷ lệ giá trị hàng tồn kho tại thời điểm 01/12/2012 so với giá trị sản xuất ước tính cả năm 2012 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 6,9%, trong đó một số ngành có tỷ lệ giá trị hàng tồn kho cao như: Chế biến và bảo quản thuỷ sản 12,3%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu 10,6%; sản xuất phân bón và hợp chất ni tơ 9,5%; sản xuất xe có động cơ 9,1%.

Lao động khu vực doanh nghiệp công nghiệp tháng Mười Hai tăng 0,2% so với tháng trước, trong đó biến động lao động ngành công nghiệp của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Đồng Nai tăng 0,6%; Bình Dương tăng 0,4%; Hà Nội giảm 0,2%; Hải Phòng giảm 0,2%; Bắc Ninh giảm 4,7%; Vĩnh Phúc tăng 0,9%; Cần Thơ tăng 0,7%. Riêng thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Đà Nẵng ở mức tháng 11/2012.

4. Hoạt động dịch vụ

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2012 ước tính đạt 2324,4 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với năm 2011 (Loại trừ yếu tố giá tăng 6,2%), trong đó khu vực kinh tế nhà nước đạt 288,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,3% và giảm 1,2%; kinh tế ngoài nhà nước đạt 1968,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 84,8% và tăng 18,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 67,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 2,9% và tăng 34,7%. Xét theo ngành kinh doanh thì kinh doanh thương nghiệp đạt 1789,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 77,1% tổng mức và tăng 15,2%; khách sạn nhà hàng đạt 273,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% và tăng 17,2%; dịch vụ đạt 237,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% và tăng 19,6%; du lịch đạt 23,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% và tăng 28,1%.

b. Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách năm 2012 ước tính đạt 2862,3 triệu lượt khách, tăng 12,2% và 123,2 tỷ lượt khách.km, tăng 9,5% so với năm 2011, bao gồm: Vận tải Trung ương đạt 42,1 triệu lượt khách, tăng 7,4% và 29,4 tỷ lượt khách.km, tăng 6,5%; vận tải địa phương đạt 2820,2 triệu lượt khách, tăng 12,3% và 93,8 tỷ lượt khách.km, tăng 10,1%. Vận tải hành khách đường bộ ước tính đạt 2646,7 triệu lượt khách, tăng 13,4% và 91,7 tỷ lượt khách.km, tăng 11,1% so với năm trước; đường sông đạt 183,8 triệu lượt khách, giảm 3,4% và 4 tỷ lượt khách.km, giảm 3,7%; đường hàng không đạt 13,5 triệu lượt khách, giảm 0,2% và 22,5 tỷ lượt khách.km, tăng 7,6%; đường biển đạt 6,1 triệu lượt khách, giảm 2,4% và 347,9 triệu lượt khách.km, giảm 1,5%; đường sắt đạt 12,2 triệu lượt khách, tăng 2% và 4,6 tỷ lượt khách.km, tăng 0,7%.

Vận tải hàng hóa năm 2012 ước tính đạt 940,4 triệu tấn, tăng 9,5% và 185,2 tỷ tấn.km, giảm 8,7% so với năm trước, bao gồm: Vận tải trong nước đạt 902,2 triệu tấn, tăng 10,4% và 61,3 tỷ tấn.km, tăng 1,7%; vận tải ngoài nước đạt 38,1 triệu tấn, giảm 12,4% và 123,9 tỷ tấn.km, giảm 14,8%. Vận tải hàng hoá đường bộ đạt 734,6 triệu tấn, tăng 11,5% và 38,6 tỷ tấn.km, tăng 8,7%; đường sông đạt 155,2 triệu tấn, tăng 6,8% và 15,5 tỷ tấn.km, tăng 5,7%; đường biển đạt 43,4 triệu tấn, giảm 14% và 126,6 tỷ tấn.km, giảm 16%; đường sắt đạt 7 triệu tấn, giảm 3,9% và 4 tỷ tấn.km, giảm 3,4%.

c. Bưu chính, viễn thông

Số thuê bao điện thoại phát triển mới năm 2012 đạt 12,5 triệu thuê bao, tăng 5,5% so với năm trước, bao gồm: 16,5 nghìn thuê bao cố định, bằng 33,4% năm 2011 và 12,5 triệu thuê bao di động, tăng 5,8%. Trong năm 2012, có khoảng 8 triệu thuê bao bị cắt giảm, tương đương 70% số phát triển mới, chủ yếu là các thuê bao không còn hoạt động trên mạng và sim rác. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 12/2012 ước tính đạt 136,6 triệu thuê bao, tăng 2,7% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm: 14,9 triệu thuê bao cố định, giảm 2,9% và 121,7 triệu thuê bao di động, tăng 3,5%.

Số thuê bao internet băng rộng ADSL phát triển mới trong năm 2012 là 355,6 nghìn thuê bao. Tính đến cuối tháng 12/2012, tổng số thuê bao internet băng rộng ADSL của các nhà cung cấp dịch vụ trên toàn quốc ước tính đạt 4,3 triệu thuê bao, tăng 5,4% so với cùng thời điểm năm trước. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông năm 2012 ước tính đạt 179,9 nghìn tỷ đồng, tăng 7,6% so với năm 2011.

d. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta năm 2012 ước tính đạt 6647,7 nghìn lượt người, tăng 9,5% so với năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 4170,9 nghìn lượt người, tăng 7,3%; đến vì công việc 1166 nghìn lượt người, tăng 16,2%; thăm thân nhân đạt 1150,9 nghìn lượt người, tăng 14,3%. Khách quốc tế đến nước ta bằng đường hàng không là 5575,9 nghìn lượt người, tăng 10,8% so với năm 2011; đến bằng đường biển 285,5 nghìn lượt người, tăng 0,8%; đến bằng đường bộ 986,2 nghìn lượt người, tăng 5,4%.

Trong năm 2012, khách quốc tế đến nước ta từ hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ đều tăng so với năm trước, trong đó khách đến từ Trung Quốc đạt 1428,7 nghìn lượt người, tăng 0,8%; Hàn Quốc 700,9 nghìn lượt người, tăng 30,7%; Nhật Bản 576,4 nghìn lượt người, tăng 19,7%; Hoa Kỳ 443,8 nghìn lượt người, tăng 0,9%; Đài Loan 409,4 nghìn lượt người, tăng 13,4%; Ma-lai-xi-a 299 nghìn lượt người, tăng 28,3%; Ôx-trây-li-a 289,8 nghìn lượt người, tăng 0,1%; Thái Lan 225,9 nghìn lượt người, tăng 24,2%; Pháp 219,7 nghìn lượt người, tăng 3,9%; Xin-ga-po 196,2 nghìn lượt người, tăng 13,8%; Liên bang Nga 174,3 nghìn lượt người, tăng 71,5%; Anh 170,3 nghìn lượt người, tăng 9%; Lào 150,7 nghìn lượt người, tăng 27,2%.

II. KIỀM CHẾ LẠM PHÁT, ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ

1. Chỉ số giá

a. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2012 tăng 0,27% so với tháng trước và tăng 6,81% so với tháng 12/2011. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2012 tăng 9,21% so với bình quân năm 2011.

Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tháng 12/2012 so với tháng trước tăng cao hơn mức tăng chung là: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,17%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,59%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,34%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,32%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,28% (Lương thực tăng 0,13%; thực phẩm tăng 0,28%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,4%). Các nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,15%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,14% (Dịch vụ y tế tăng 0,03%); giáo dục tăng 0,09% (Dịch vụ giáo dục tăng 0,05%); giao thông giảm 0,43%; bưu chính viễn thông giảm 0,02%.

Nhìn lại năm 2012, CPI tháng Mười Hai chỉ tăng 6,81% so với cùng kỳ năm 2011, xấp xỉ mức tăng 6,52% của năm 2009, thấp hơn nhiều so với mức tăng 11,75% của năm 2010 và mức tăng 18,13% của năm 2011 nhưng là năm giá có nhiều biến động bất thường, cụ thể là: CPI tăng không quá cao vào hai tháng đầu năm (Tăng 1,0% vào tháng Một và tăng 1,37% vào tháng Hai) nhưng tăng cao nhất vào tháng Chín với mức tăng 2,20%, chủ yếu do tác động của nhóm thuốc và dịch vụ y tế và nhóm giáo dục. Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng đã chậm dần trong những tháng cuối năm[4], điều này thể hiện tính kịp thời và hiệu quả của việc triển khai Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 26/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá. Trong năm có tới 7 tháng CPI chỉ tăng dưới 1% và hầu hết các tháng chỉ tăng dưới 0,5%. Một điều khác thường nữa của thị trường giá cả trong nước năm nay là CPI không giảm vào sau Tết âm lịch mà giảm vào hai tháng giữa năm (Tháng Sáu và tháng Bảy).

Về nhóm hàng, CPI bình quân của nhiều nhóm hàng năm nay có mức biến động nhiều và khác xu hướng so với năm trước. Nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng thấp hơn mức tăng chung (Lương thực tăng 3,26%, thực phẩm tăng 8,14%, CPI bình quân chung tăng 9,21%), trong khi năm 2011 đây là nhóm hàng có chỉ số giá tăng cao nhất và cao hơn nhiều so với mức tăng chung (Lương thực tăng 22,82%, thực phẩm tăng 29,34%, CPI bình quân chung tăng 18,58%). Riêng nhóm dịch vụ y tế có sự thay đổi lớn với chỉ số giá tăng mạnh ở mức 20,37%, cao hơn nhiều lần mức tăng 4,36% của năm 2011. Trong hai năm qua, chỉ số giá nhóm giáo dục vẫn duy trì mức tăng cao (Năm 2011 tăng 23,18%; năm 2012 tăng 17,07%) và chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông vẫn duy trì mức giảm (Năm 2011 giảm 5,06%; năm 2012 giảm 1,11%).

Chỉ số giá vàng tháng 12/2012 tăng 0,46% so với tháng trước; tăng 0,4% so với tháng 12/2011. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2012 tăng 0,03% so với tháng trước; giảm 0,96% so với tháng 12/2011.

b. Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2012 tăng 3,91% so với năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 1,05%; hàng lâm nghiệp tăng 14,26%; hàng thủy sản tăng 13,78%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp năm nay tăng 9,32% so với năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 19,10%; sản phẩm công nghiệp chế biến tăng 7,1%; điện và phân phối điện tăng 9,9%; nước tăng 14,45%.

Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất năm 2012 tăng 9,04% so với năm 2011, trong đó chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất của một số ngành tăng cao là: Máy móc thiết bị chưa phân được vào đâu tăng 15,68%; sản phẩm từ cao su, khoáng phi kim loại tăng 14,9%; dệt, trang phục, da và các sản phẩm có liên quan tăng 13,99%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,17%.

Chỉ số giá cước vận tải năm 2012 tăng 13,2% so với năm trước, trong đó giá cước vận tải hành khách tăng 22%; vận tải hàng hóa tăng 7,82%. Chỉ số giá cước vận tải đường sắt năm 2012 tăng 15,49% so với năm 2011; đường bộ và xe buýt tăng 9,98%; đường thủy tăng 7,84%; đường hàng không tăng 31,97%;

c. Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá năm 2012 giảm 0,54% so với năm trước, trong đó chỉ số giá xuất khẩu của một số mặt hàng giảm mạnh: Cao su giảm 31,02%; sắn và sản phẩm từ sắn giảm 16,83%; hạt điều giảm 14,94%; than giảm 11,93%. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá năm nay giảm 0,33% so với năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của một số mặt hàng giảm là: Giấy giảm 7,89%; xơ, sợi dệt giảm 7,7%; sắt thép giảm 5,96%; nguyên phụ liệu thuốc lá giảm 5,82%.

2. Xây dựng, đầu tư phát triển

a. Hoạt động xây dựng

Giá trị sản xuất xây dựng năm 2012 theo giá hiện hành ước tính đạt 720,2 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 112,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 15,7%; khu vực ngoài Nhà nước 583,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 81%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 24,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,3%. Giá trị sản xuất xây dựng năm 2012 chia theo loại công trình như sau: Công trình nhà ở đạt 269,8 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 111,9 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 241,4 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 97,1 nghìn tỷ đồng.

Giá trị sản xuất xây dựng năm 2012 theo giá so sánh 1994 ước tính đạt 229,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,1% so với năm 2011, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 36,5 nghìn tỷ đồng, giảm 3,9%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 185,7 nghìn tỷ đồng, tăng 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,4 nghìn tỷ đồng, giảm 0,3%. Một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến giá trị sản xuất xây dựng năm 2012 tăng thấp là: Chính sách thắt chặt đầu tư công của Chính phủ tiếp tục được thực hiện; lãi suất ngân hàng mặc dù được điều chỉnh giảm nhưng các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn vay để thi công các công trình; ngoài ra thị trường bất động sản năm nay khá trầm lắng, nhiều dự án phải dừng thi công hoặc giãn tiến độ.

b. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2012 theo giá hiện hành ước tính đạt 989,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với năm trước và bằng 33,5% GDP, đây là năm có tỷ trọng vốn đầu tư so với GDP đạt thấp nhất kể từ năm 2000 trở lại đây[5]. Trong vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2012, vốn khu vực Nhà nước đạt 374,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 37,8% tổng vốn và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 385 nghìn tỷ đồng, chiếm 38,9% và tăng 8,1%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 230 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,3% và tăng 1,4%.

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2012

theo giá hiện hành

Nghìn tỷ đồng

Cơ cấu (%)

So với cùng kỳ

năm trước (%)

TỔNG SỐ

989,3

100,0

107,0

Khu vực Nhà nước

374,3

37,8

109,6

Khu vực ngoài Nhà nước

385,0

38,9

108,1

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

230,0

23,3

101,4

Trong vốn đầu tư thực hiện khu vực Nhà nước năm nay, vốn từ ngân sách Nhà nước ước tính đạt 205 nghìn tỷ đồng, bằng 98,8% kế hoạch năm và tăng 15% so với năm 2011, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 50,3 nghìn tỷ đồng, bằng 98,9% kế hoạch năm và tăng 15,4% so với năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 7525 tỷ đồng, bằng 100,8% và tăng 18%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 4658 tỷ đồng, bằng 96,4% và tăng 15,1%; Bộ Xây dựng 1788 tỷ đồng, bằng 98,2% và tăng 18,9%; Bộ Y tế 1086 tỷ đồng, bằng 97,7% và tăng 15,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 932 tỷ đồng, bằng 100,3% và tăng 13,5%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 623 tỷ đồng, bằng 98,4% và tăng 12%; Bộ Công Thương 459 tỷ đồng, bằng 101,9% và tăng 15,3%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 154,7 nghìn tỷ đồng, bằng 98,7% kế hoạch năm và tăng 14,9% so với năm 2011. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 21253 tỷ đồng, bằng 89,1% kế hoạch năm và tăng 35,5% so với năm 2011; thành phố Hồ Chí Minh 15322 tỷ đồng, bằng 95,4% và tăng 9,5%; Đà Nẵng 7019 tỷ đồng, bằng 101,8% và tăng 12,8%; Thanh Hóa 4090 tỷ đồng, bằng 109% và tăng 19,9%; Quảng Ninh 3673 tỷ đồng, bằng 88,4% và giảm 19,8%; Lào Cai 3625 tỷ đồng, bằng 111,2% và tăng 38,8%; Bình Dương 3537 tỷ đồng, bằng 95,7% và tăng 2,7%.  

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2012 đạt 13 tỷ USD, bằng 84,7% cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn đăng ký của 1100 dự án được cấp phép mới đạt 7,9 tỷ USD, bằng 92,2% số dự án và bằng 64,9% số vốn cùng kỳ năm 2011; vốn đăng ký bổ sung của 435 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước là 5,1 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2012 ước tính đạt 10,5 tỷ USD, bằng 95,1% năm 2011.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài năm nay tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với 9,1 tỷ USD, chiếm 69,9% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1,8 tỷ USD, chiếm 14,2%; các ngành còn lại đạt 2,1 tỷ USD, chiếm 15,9%.

Trong năm 2012 cả nước có 51 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cấp phép mới, trong đó Bình Dương có số vốn đăng ký lớn nhất với 1631,4 triệu USD, chiếm 20,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hải Phòng 1111,5 triệu USD, chiếm 14,2%; Hà Nội 720,1 triệu USD, chiếm 9,2%; Đồng Nai 618,8 triệu USD, chiếm 7,9%; thành phố Hồ Chí Minh 468,7 triệu USD, chiếm 6%; Bà Rịa-Vũng Tàu 453,3 triệu USD, chiếm 5,8%; Quảng Ninh 390,4 triệu USD, chiếm 5%; Long An 222,8 triệu USD, chiếm 2,8%.

Trong số 54 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp phép mới vào Việt Nam năm nay, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 4007,4 triệu USD, chiếm 51% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 757,1 triệu USD, chiếm 9,6%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 549,5 triệu USD, chiếm 7%; Xin-ga-po 488,4 triệu USD, chiếm 6,2%; Síp 375,6 triệu USD, chiếm 4,8%; CHND Trung Hoa 302,2 triệu USD, chiếm 3,8%; Đài Loan 192,4 triệu USD, chiếm 2,4%.

3. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2012 ước tính đạt 658,6 nghìn tỷ đồng, bằng 88,9% dự toán năm, trong đó thu nội địa 419,1 nghìn tỷ đồng, bằng 84,7%; thu từ dầu thô 113 nghìn tỷ đồng, bằng 129,9%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 119,5 nghìn tỷ đồng, bằng 77,6%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 133,7 nghìn tỷ đồng, bằng 86% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 78,4 nghìn tỷ đồng, bằng 80,2%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 86 nghìn tỷ đồng, bằng 77,4%; thu thuế thu nhập cá nhân 43,1 nghìn tỷ đồng, bằng 93%; thu thuế bảo vệ môi trường 12,1 nghìn tỷ đồng, bằng 91,4%; thu phí, lệ phí 7,9 nghìn tỷ đồng, bằng 88,5%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/12/2012 ước tính đạt 821,2 nghìn tỷ đồng, bằng 90,9% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 157,6 nghìn tỷ đồng, bằng 87,5% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 151,7 nghìn tỷ đồng, bằng 87,2%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể (bao gồm cả chi thực hiện cải cách tiền lương) ước tính đạt 569,9 nghìn tỷ đồng, bằng 94,8%; chi trả nợ và viện trợ 93,8 nghìn tỷ đồng, bằng 93,8%.

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ

a. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Mười Hai ước tính đạt 10,4 tỷ USD, tăng 0,5% so với tháng trước và tăng 15% so với năm 2011. Tính chung cả năm 2012, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 114,6 tỷ USD, tăng 18,3% so với năm 2011, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 42,3 tỷ USD, tăng 1,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 72,3 tỷ USD, tăng 31,2%. Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm nay đạt 63,9 tỷ USD, tăng 33,5% so với năm trước. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2012 tăng 18,9%.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm nay tăng cao chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với các mặt hàng như: Điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện, hàng dệt may, giày dép... Các mặt hàng trên đều thuộc nhóm hàng có tỷ trọng gia công cao, điều này phản ánh hiệu quả xuất khẩu và lượng ngoại tệ thực thu thấp. Mức tăng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 17,7 điểm phần trăm vào mức tăng chung, trong khi đó khu vực kinh tế trong nước chỉ đóng góp 0,6 điểm phần trăm.

Trong năm 2012, nhiều sản phẩm thuộc nhóm hàng công nghiệp có kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh như: Điện thoại và linh kiện 12,6 tỷ USD, tăng 97,7%; điện tử máy tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 69,1%; máy móc, thiết bị phụ tùng 5,5 tỷ USD, tăng 26,9%. Nhiều nhóm hàng nông sản tăng khá về lượng xuất khẩu: Sắn và sản phẩm sắn tăng 55,2%; cà phê tăng 37,9%; cao su tăng 23,8%; hạt điều tăng 25,6%; gạo tăng 13,1%; chè tăng 10,4%. Đây là lần đầu tiên xuất khẩu gạo đạt trên 8 triệu tấn, tương đương 3,7 tỷ USD. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu những mặt hàng nông sản trên không cao do ảnh hưởng của đơn giá thế giới giảm như: Giá sắn và sản phẩm sắn giảm 16,8%; cà phê giảm 6,2%; hạt điều giảm 15%; gạo giảm 7,1%; chè giảm 2,2%... Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống vẫn giữ mức tăng khá là: Dây và cáp điện tăng 41,2%; sản phẩm gốm sứ tăng 20%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 17,3%; giày dép tăng 10,6%; hàng dệt may tăng 7,1%.

Cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm nay có sự thay đổi so với năm trước: Tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 51,7 tỷ USD, tăng 49,9% và chiếm 45,1% (Năm 2011 là 35,6%), chủ yếu do tăng kim ngạch của điện thoại và linh kiện, tăng 6,2 tỷ USD (tăng 97,7%). Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 39 tỷ USD, tương đương năm 2011 nhưng tỷ trọng giảm từ 40,3% năm 2011 xuống 34,1% năm 2012. Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 17,7 tỷ USD, tăng 18% so với năm trước nhưng tỷ trọng không đổi với 15,4%. Nhóm hàng thuỷ sản đạt 6,2 tỷ USD, xấp xỉ năm 2011 và tỷ trọng giảm từ 6,3% năm 2011 xuống 5,4% năm 2012.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu của nước ta năm 2012, EU vươn lên là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất với kim ngạch đạt 20,3 tỷ USD, tăng 22,5% so với năm 2011 và chiếm 17,7% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực vào thị trường EU chiếm tỷ trọng cao là: Điện thoại chiếm 43% tổng kim ngạch điện thoại xuất khẩu; giày dép chiếm 36%; máy tính chiếm 19%; hàng dệt may chiếm 16%, tiếp đến là Hoa Kỳ 19,6 tỷ USD, tăng 15,6% và chiếm 17,1%; ASEAN 17,3 tỷ USD, tăng 27,2% và chiếm 15,1%; Nhật Bản 13,1 tỷ USD, tăng 21,4% và chiếm 11,4%; Trung Quốc 12,2 tỷ USD, tăng 10% và chiếm 10,7%.

b. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Mười Hai ước tính đạt 10,6 tỷ USD, tăng 6,5% so với tháng trước và tăng 13% so với năm 2011. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2012 đạt 114,3 tỷ USD, tăng 7,1% so với năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 54 tỷ USD, giảm 6,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 60,3 tỷ USD, tăng 23,5%. Mức tăng kim ngạch nhập khẩu năm nay đạt thấp nhất kể từ năm 2002 trở lại đây (Không tính đến năm 2009). Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2012 tăng 7,4% so với năm 2011.

Về mặt hàng nhập khẩu năm nay, kim ngạch một số mặt hàng phục vụ gia công, lắp ráp tăng là: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 13,1 tỷ USD, tăng 66,8%; vải đạt 7 tỷ USD, tăng 4,7%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 3,2 tỷ USD, tăng 7,9%. Nhiều mặt hàng nguyên liệu tăng thấp hoặc giảm cả về lượng và trị giá như: Hóa chất 2,8 tỷ USD, tăng 2,3%; sản phẩm hóa chất đạt 2,5 tỷ USD, tăng 2,9%; xăng dầu 8,9 tỷ USD, giảm 10%; phân bón 1,6 tỷ USD, giảm 7,9%; sắt thép 6 tỷ USD, giảm 7%; kim loại thường 2,7 tỷ USD, giảm 1,1%; sợi dệt 1,4 tỷ USD, giảm 9%; bông 875 triệu USD, giảm 16,9%. Thực trạng trên phản ánh nhu cầu của đầu tư và tiêu dùng trong nước thấp. Tuy nhiên, đáng chú ý là sự gia tăng kim ngạch của một số mặt hàng có năng lực sản xuất trong nước cao như: Sản phẩm chất dẻo tăng 23,5%; rau quả tăng 14%; giấy tăng 8,9%. Nhập khẩu ô tô năm nay ước tính đạt 2,1 tỷ USD, giảm 32,5%, trong đó ô tô nguyên chiếc 605 triệu USD, giảm 41,2%, mức giảm mạnh do chính sách hạn chế phương tiện ô tô của Nhà nước cũng như doanh nghiệp và người dân thắt chặt chi tiêu.

Cơ cấu kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm nay cũng có sự thay đổi so với năm 2011, nhóm tư liệu sản xuất ước tính đạt 106,5 tỷ USD, chiếm tỷ trọng cao nhất với 93,2%, tăng so với mức 90,6% của năm 2011, chủ yếu do tỷ trọng nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng có liên quan đến lắp ráp hàng xuất khẩu tăng từ 29% lên 36,9%. Nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu chiếm 56,3%, giảm so với mức 61,6% của năm trước; nhóm hàng tiêu dùng đạt 7,8 tỷ USD, chiếm 6,8%, giảm so với mức 7,6% của năm 2011.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu năm nay, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của nước ta với kim ngạch đạt 28,9 tỷ USD, tăng 17,6% so với năm 2011 và chiếm 25,3% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu; tiếp đến là ASEAN đạt 21 tỷ USD, tăng 0,3% và chiếm 18,3%; Hàn Quốc đạt 15,6 tỷ USD, tăng 18,4% và chiếm 13,6%; Nhật Bản đạt 11,7 tỷ USD, tăng 12,2% và chiếm 10,2%; EU đạt 8,8 tỷ USD, tăng 13,3% và chiếm 7,7%; Hoa Kỳ đạt 4,7 tỷ USD, tăng 4,7% và chiếm 4,1%.

Năm 2012 xuất siêu 284 triệu USD và là năm đầu tiên Việt Nam xuất siêu hàng hóa kể từ năm 1993. Trong năm chỉ có ba tháng nhập siêu ở mức thấp, các tháng còn lại đều xuất siêu, đặc biệt là các tháng cuối năm. Nguyên nhân chủ yếu do suy giảm của sản xuất và tiêu dùng trong nước nên nhập khẩu tăng thấp hơn nhiều so với xuất khẩu. Đáng chú ý là xuất siêu hàng hóa chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với mức xuất siêu đạt gần 12 tỷ USD, tập trung ở nhóm hàng gia công lắp ráp. Ngược lại, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 11,7 tỷ USD.

c. Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch dịch vụ xuất khẩu năm 2012 ước tính đạt 9,4 tỷ USD, tăng 6,3% so với năm 2011, trong đó dịch vụ du lịch đạt 6,6 tỷ USD, tăng 18%; dịch vụ vận tải 2,1 tỷ USD, giảm 15,5%. Kim ngạch dịch vụ nhập khẩu năm 2012 ước tính đạt 12,5 tỷ USD, tăng 5,7% so với năm 2011, trong đó dịch vụ vận tải đạt 8,7 tỷ USD, tăng 6%; dịch vụ du lịch 1,9 tỷ USD, tăng 8,5%. Nhập siêu dịch vụ năm 2012 là 3,1 tỷ USD, tăng 3,8% so với năm 2011 và bằng 32,8% kim ngạch dịch vụ xuất khẩu năm 2012.

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình cả nước năm 2012 ước tính 88,78 triệu người, tăng 1,06% so với năm 2011, bao gồm: Dân số nam 43,92 triệu người, chiếm 49,47% tổng dân số cả nước, tăng 1,09%; dân số nữ 44,86 triệu người, chiếm 50,53%, tăng 1,04%. Trong tổng dân số cả nước năm nay, dân số khu vực thành thị là 28,81 triệu người, chiếm 32,45% tổng dân số, tăng 3,3% so với năm trước; dân số khu vực nông thôn là 59,97 triệu người, chiếm 67,55%, tăng 0,02%.

Tổng tỷ suất sinh năm 2012 đạt 2,05 con/phụ nữ, tăng so với mức 1,99 con/phụ nữ của năm 2011. Tỷ suất sinh thô đạt 16,9 trẻ sinh ra sống trên 1000 người dân. Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh duy trì ở mức khá cao với 112,3 bé trai/100 bé gái, tăng so với mức 111,9 bé trai/100 bé gái của năm 2011. Tỷ suất chết thô năm 2012 là 7‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là 15,8‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 23,8‰. Tỷ suất chết tiếp tục ở mức thấp, thể hiện rõ hiệu quả của chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em nói riêng và công tác bảo vệ sức khoẻ, nâng cao mức sống cho người dân nói chung trong năm qua.

Theo kết quả điều tra trong năm, tỷ lệ phụ nữ từ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên của năm 2012 là 14,2%, giảm so với mức 14,7% của năm 2011; tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi có chồng đang sử dụng biện pháp tránh thai đạt 76,2%, trong đó sử dụng biện pháp hiện đại là 66,6%; biện pháp khác là 9,6%.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2012 là 52,58 triệu người, tăng 2,3% so với năm 2011, trong đó lao động nam chiếm 51,3%; lao động nữ chiếm 48,7%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 46,95 triệu người, tăng 0,87%, trong đó nam chiếm 53,3%; nữ chiếm 46,7%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2012 là 51,69 triệu người, tăng 2,7% so với năm 2011. Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 48,4% năm 2011 xuống 47,5% năm 2012; khu vực công nghiệp và xây dựng giảm từ 21,3% xuống 21,1%; khu vực dịch vụ tăng từ 30,3% lên 31,4%. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2012 khu vực Nhà nước chiếm 10,4% tổng lực lượng lao động; khu vực Ngoài Nhà nước chiếm 86,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 3,3%.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2012 là 1,99%, trong đó khu vực thành thị là 3,25%, khu vực nông thôn là 1,42% (Năm 2011 các tỷ lệ tương ứng là: 2,22%; 3,60%; 1,60%). Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2012 là 2,8%, trong đó khu vực thành thị là 1,58%, khu vực nông thôn là 3,35% (Năm 2011 các tỷ lệ tương ứng là: 2,96%; 1,58%; 3,56%). Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm năm 2012 giảm nhẹ so với các tỷ lệ tương ứng của năm 2011 nhưng tỷ lệ lao động phi chính thức năm 2012 tăng so với một số năm trước, từ 34,6% năm 2010 tăng lên 35,8% năm 2011 và 36,6% năm 2012. Điều này cho thấy mức sống của người dân còn thấp, hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển mạnh nên người lao động không chịu cảnh thất nghiệp kéo dài mà chấp nhận làm những công việc không ổn định với mức thu nhập thấp và bấp bênh.

2. Đời sống dân cư, bảo đảm an sinh xã hội

Mặc dù tình hình kinh tế-xã hội năm 2012 gặp nhiều khó khăn nhưng công tác xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội luôn được Đảng và Chính phủ, các cấp, các ngành, địa phương quan tâm, chỉ đạo và thực hiện thường xuyên. Theo báo cáo của các địa phương, tổng kinh phí phục vụ cho công tác an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo năm 2012 là 8,8 nghìn tỷ đồng, bao gồm: 1,3 nghìn tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; gần 1 nghìn tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 6,5 nghìn tỷ đồng dành cho cứu đói, cứu trợ xã hội khác.

Đến nay, sau 5 năm thực hiện Chương trình tín dụng học sinh, sinh viên, chương trình đã thực sự đồng hành và giúp cho một bộ phận nhân dân thu nhập thấp có được sự bình đẳng về đào tạo. Tính đến 30/6/2012, tổng dư nợ của chương trình đạt gần 35 nghìn tỷ đồng, tạo điều kiện cho 2,3 triệu học sinh, sinh viên của gần 1,9 triệu hộ gia đình hoàn cảnh khó khăn có điều kiện tiếp tục đến trường. Việc điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu từ 830 nghìn đồng/tháng lên 1,05 triệu đồng/tháng từ 01/5/2012 đối với cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và người lao động làm việc ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước cũng đã phần nào cải thiện đời sống cho người lao động.

Ở khu vực nông thôn, tình trạng thiếu đói giáp hạt trong năm 2012 đã giảm đáng kể so với năm trước. Tính chung cả năm, cả nước có 450,3 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 27,6% so với năm 2011, tương ứng với 1911,8 nghìn lượt nhân khẩu bị thiếu đói, giảm 26,9%. Tình trạng thiếu đói xảy ra chủ yếu ở các tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc; vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung; vùng Tây Nguyên. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, trong năm 2012, các cấp, các ngành và địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 22,6 nghìn tấn lương thực và 24,4 tỷ đồng. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2012 ước tính là 11,3 - 11,5%, giảm 1,1 - 1,3% so với năm 2011, thấp hơn mức giảm 1,6% của năm 2011 so với năm 2010.

3. Giáo dục, đào tạo

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông của cả nước năm học 2011-2012 đạt 98,97%, tăng 3,25 điểm phần trăm so với năm học 2010-2011; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp bổ túc trung học đạt 85,47%, tăng 0,12 điểm phần trăm. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm nay đều cao hơn so với năm học trước, trong đó 36 tỉnh, thành phố có tỷ lệ tốt nghiệp đạt trên 99%; 25 tỉnh, thành phố đạt trên 97%.

Vào thời điểm đầu năm học 2012-2013, cả nước có 19,2 triệu học sinh đến trường, bao gồm: 4,1 triệu trẻ em mầm non; 7,3 triệu học sinh tiểu học; gần 5 triệu học sinh trung học cơ sở và 2,8 triệu học sinh trung học phổ thông.

Tính đến cuối năm 2012, cả nước có 60/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, trong đó 03 tỉnh/thành phố đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Đến năm 2012, cả nước có 215 trường đại học, trong đó 187 trường công lập; 204 trường cao đẳng, trong đó 150 trường công lập; 295 trường trung cấp chuyên nghiệp. Tổng số sinh viên đại học, cao đẳng của cả nước là trên 2,2 triệu sinh viên, trong đó nữ sinh viên là 1,1 triệu người, chiếm khoảng 50% tổng số sinh viên đại học và cao đẳng; số học sinh trung cấp chuyên nghiệp là 623 nghìn học sinh, trong đó nữ học sinh chiếm khoảng 60%.

Công tác đào tạo nghề cũng được các cấp, các ngành và địa phương tiếp tục quan tâm đầu tư. Tính đến cuối năm 2012, cả nước có 142 trường cao đẳng nghề, 316 trường trung cấp nghề, 850 trung tâm dạy nghề. Số học sinh học nghề được tuyển mới trong năm nay là 1,9 triệu lượt người, trong đó cao đẳng nghề và trung cấp nghề là 0,4 triệu lượt người; sơ cấp nghề 1,5 triệu lượt người. Dự kiến trong năm 2013 sẽ tuyển mới khoảng 1,92 triệu lượt học sinh, trong đó sơ cấp nghề 1,5 triệu lượt người và hỗ trợ dạy nghề cho 700 nghìn lao động nông thôn theo mục tiêu và chính sách của Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Trong năm 2012, Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và dạy nghề đã cấp 1029 tỷ đồng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và 1536 tỷ đồng đổi mới và phát triển dạy nghề. Kế hoạch năm 2013 sẽ dành 1750 tỷ đồng đào tạo nghề cho lao động nông thôn và 2700 tỷ đồng đổi mới và phát triển dạy nghề, cùng gấp 1,7 lần năm 2012.

4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong năm 2012, cả nước có 81,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (67 trường hợp tử vong); 816 trường hợp mắc bệnh viêm não virút (18 trường hợp tử vong); 614 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 125 trường hợp mắc viêm màng não do não mô cầu (5 trường hợp tử vong). Đặc biệt dịch chân, tay, miệng tăng nhanh trong năm và diễn biến tương đối phức tạp với số mắc là 151,1 nghìn người, tăng 41,3% so với năm 2011 (45 trường hợp tử vong, giảm 72,4%). Mặc dù số trường hợp tử vong giảm nhưng tập trung chủ yếu vào trẻ em nên đây là vấn đề cần được quan tâm hơn nữa trong công tác phòng, chống dịch bệnh và chữa bệnh.

5. Hoạt động thể thao

Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục phát triển mạnh cả về quy mô, nội dung và hình thức. Trong năm 2012, ngành Thể dục Thể thao đã tổ chức nhiều hoạt động thể thao quần chúng lớn như: Hội thảo quốc tế Võ Thuật cổ truyền Việt Nam, Hội thảo thành lập Liên đoàn thế giới Võ cổ truyền Việt Nam tại Bình Định; Giải thể thao gia đình toàn quốc khu vực II tại Khánh Hoà; Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ VIII. Tại một số giải thể thao quốc tế được tổ chức trong năm qua, các vận động viên thể thao quần chúng nước ta giành được 5 huy chương vàng, 2 huy chương bạc, 3 huy chương đồng tại giải Cử tạ thế giới; 27 huy chương vàng, 17 huy chương bạc và 16 huy chương đồng tại Đại hội thể thao học sinh Đông Nam Á tại Indonesia và xếp thứ 4 trong tổng số 7 đoàn tham gia. Ngoài ra, đoàn thể thao quần chúng cũng tham gia một số giải đấu quốc tế quan trọng như Paralympic London 2012, Đại hội thể thao quốc tế dành cho trẻ em châu Á tại Sakha, Nga từ 04-16 tháng Bảy năm 2012; kéo co Châu Á; cầu lông cho người khuyết tật Châu Á tại Hàn Quốc.

Trong hoạt động thể thao thành tích cao, ngành Thể dục Thể thao tổ chức thành công 207 giải thể thao trong nước và quốc tế; tham dự 190 giải quốc tế và cử 31 đội tuyển và cá nhân đi tập huấn, đào tạo tại nước ngoài. Để chuẩn bị lực lượng cho các giải thi đấu lớn như SEA Games 27 vào năm 2013, ASIAD 17 năm 2014 và Olympic năm 2016, Ngành cũng đã xây dựng kế hoạch và triệu tập 60 đội tuyển và đội tuyển trẻ; 13 chuyên gia, 240 huấn luyện viên và 1253 vận động viên tại các Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia. Thành tích của đoàn thể thao Việt Nam đạt được tại các giải thể thao quốc tế năm 2012 là: 271 huy chương vàng, 234 huy chương bạc và 154 huy chương đồng.

6. Tình hình cháy, nổ

Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng cháy chữa cháy năm 2012 được tổ chức thường xuyên với nhiều hình thức phong phú, nội dung sâu sắc, góp phần nâng cao ý thức và kiến thức phòng cháy chữa cháy cho nhân dân. Tuy nhiên, tình trạng cháy, nổ vẫn xảy ra tại các địa phương và hiện trạng cho thấy còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến những vụ cháy lớn, có thể gây thiệt hại nghiêm trọng. Trong năm qua, trên địa bàn cả nước đã xảy ra trên 2 nghìn vụ cháy, 71 vụ nổ nghiêm trọng, làm 117 người chết và 259 người bị thương, giá trị thiệt hại ước tính 634 tỷ đồng.

7. Tai nạn giao thông

Tính từ 16/12/2011 đến 15/12/2012, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 10081 vụ tai nạn giao thông, làm chết 9838 người và làm bị thương 7624 người. So với năm 2011, số vụ tai nạn giao thông giảm 28,1%, số người chết giảm 14,1% và số người bị thương giảm 28,2%. Bình quân 1 ngày trong năm 2012, cả nước xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông, làm chết 27 người và làm bị thương 21 người.

8. Thiệt hại do thiên tai

Năm 2012, nước ta chịu ảnh hưởng của nhiều cơn bão lớn các loại thiên tai khác như: Áp thấp nhiệt đới, lũ, lụt, mưa đá…, gây thiệt hại lớn về người và tài sản cho nhiều địa phương trên cả nước. Thiên tai xảy ra trong năm đã làm 269 người chết và mất tích, 440 người bị thương; hơn 2,6 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; trên 104 nghìn ngôi nhà bị ngập nước, hư hỏng; 36 km đê, kè và gần 320 km đường giao thông cơ giới bị vỡ, sạt lở; gần 11 nghìn cột điện gãy, đổ; hơn 40 nghìn ha lúa và gần 42 nghìn ha hoa màu bị mất trắng; 180 nghìn ha lúa và 115 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng. Các địa phương có số người bị chết và mất tích nhiều là: Lào Cai 31 người; Yên Bái 28 người; Thanh Hóa 17 người. Thái Bình là địa phương bị thiệt hại nặng nhất về tài sản với gần 28 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, hư hỏng; 24 nghìn ha hoa màu bị mất trắng; 39 nghìn ha lúa, hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm 2012 ước tính trên 7 nghìn tỷ đồng, trong đó Thái Bình thiệt hại khoảng 1,4 nghìn tỷ đồng, chiếm gần 20% tổng giá trị thiệt hại của cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, tổng số tiền mặt cứu trợ các địa phương bị ảnh hưởng thiên tai trong năm là gần 8,3 tỷ đồng.

Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta năm 2012 tiếp tục bị ảnh hưởng từ diễn biến phức tạp của kinh tế toàn cầu cùng với việc thắt chặt tài khoá và tiền tệ trong nước để kiềm chế lạm phát nên gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước nên kinh tế - xã hội có những chuyển biến tích cực và đúng hướng. Kinh tế vĩ mô nhìn chung ổn định. Tăng trưởng ở mức hợp lý. Lạm phát được kiềm chế. Sản xuất công nghiệp phát triển với những dấu hiệu phục hồi, hàng tồn kho có xu hướng giảm. Sản xuất nông nghiệp và hoạt động kinh doanh của khu vực dịch vụ giữ ổn định.

Mặc dù đạt được một số kết quả như trên, kinh tế - xã hội nước ta năm 2013 sẽ gặp một số khó khăn. Kinh tế toàn cầu chưa thoát khỏi hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính, tăng trưởng được dự báo giảm so với năm 2012, tình trạng nợ công ở Châu Âu chậm được khắc phục. Ở trong nước, kinh tế vĩ mô tuy giữ ổn định nhưng chất lượng tăng trưởng vẫn thấp và chưa có những cải thiện rõ rệt, mô hình tăng trưởng chậm được thay đổi. Một số yếu tố gây áp lực lạm phát cao vẫn còn tiềm ẩn. Vì vậy để thực hiện tốt mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2013, các cấp, các ngành cần triển khai thực hiện đạt hiệu quả cao Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 18 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2013 và kế hoạch đầu tư từ ngân sách Nhà nước ba năm 2013 - 2015, tập trung vào một số vấn đề trọng tâm sau đây:

Một là, thực hiện các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hài hòa để vừa góp phần ngăn ngừa và kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hoá và dịch vụ, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa với mức lãi suất tín dụng hợp lý, từ đó giảm chi phí đầu vào, giảm lượng hàng tồn kho, từng bước ổn định và tăng quy mô sản xuất, tạo việc làm và ổn định dần đời sống cho người lao động. Đánh giá đúng và tăng cường tính minh bạch về mức độ nợ xấu ngân hàng, từ đó có chính sách phù hợp nhằm bảo đảm sự ổn định vững chắc; đồng thời giải quyết và xử lý có hiệu quả nợ xấu để tín dụng đến được với các doanh nghiệp.

Hai là, tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp để thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng phát triển. Thực hiện chính sách tiền tệ theo hướng khuyến khích và ưu tiên hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, giảm hàng tồn kho thông qua các chương trình khuyến mại, kích thích tiêu dùng, chuyển nhiều sản phẩm được sản xuất trong nước về cùng nông thôn, vùng sâu… với chất lượng, mẫu mã và giá cả hợp lý. Thực hiện tốt việc nắm bắt sát tình hình về cung, cầu, giá cả để kịp thời thông tin cho doanh nghiệp có kế hoạch sản xuất phù hợp. Ngược lại, các doanh nghiệp cần phải quan tâm củng cố thương hiệu, thực hiện rà soát, giảm các chi phí đầu vào để tạo sức cạnh tranh, đồng thời có những chiến lược và giải pháp phù hợp với xu thế mới để chiếm được sự lựa chọn của người tiêu dùng nội địa.

Ba là, triển khai tích cực, đồng bộ và hiệu quả nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh. Trước mắt tập trung tái cơ cấu ba lĩnh vực quan trọng gồm: Đầu tư, thị trường tài chính và doanh nghiệp, trong đó tái cơ cấu đầu tư theo hướng giảm dần tỷ trọng đầu tư công, khuyến khích các nguồn vốn đầu tư của tư nhân và đầu tư nước ngoài; tiến hành tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém; tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước. Bổ sung và hoàn thiện môi trường pháp lý để khuyến khích đầu tư trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài. Có các giải pháp bảo vệ bản quyền sở hữu trí tuệ để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư công nghệ mới, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước trên thị trường nội địa và ngoài nước.

Bốn là, tiếp tục khai thác mở rộng thị trường thương mại. Đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng không thiết yếu, hàng xa xỉ. Xây dựng chính sách cụ thể và phù hợp về phát triển thị trường trong nước. Xây dựng các hàng rào phi thuế quan phù hợp với cam kết quốc tế để hạn chế nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam.

Năm là, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, tăng cường kiểm tra, thanh tra các ngành, tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp để tránh hiện tượng độc quyền, chuyển giá, đặt lợi ích ngành cao hơn lợi ích quốc gia gây mất ổn định vĩ mô. Thực hiện điều chỉnh giá một số mặt hàng Nhà nước quản lý theo lộ trình một cách linh hoạt và ở mức hợp lý, trong đó triển khai thực hiện tốt lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh năm 2013 của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập trong cả nước để tránh tác động xấu đến sản xuất và đời sống dân cư. Chủ động xây dựng và triển khai tốt kế hoạch dự trữ hàng hóa bình ổn giá trước, trong và sau Tết Nguyên đán Quý Tỵ 2013 gắn với tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm tra, kiểm soát thị trường giá cả, giữ gìn an ninh trật tự. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm khắc với hành động buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất và tiêu thụ hàng giả, hàng kém chất lượng, làm thất thu ngân sách, gây khó khăn cho sản xuất, xâm phạm lợi ích chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Sáu là, tổ chức tốt việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách, chương trình, dự án phát triển các lĩnh vực xã hội và bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo. Đồng thời thúc đẩy các dự án đầu tư công cần thiết để tạo nhiều công ăn việc làm, góp phần tăng thu nhập, ổn định và nâng cao đời sống cho người lao động, từ đó giảm tỷ lệ thất nghiệp. Bên cạnh đó, xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách về xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao nhằm huy động các nguồn lực cho phát triển toàn diện.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ



[1] Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2010 tăng 8,8%; năm 2011 tăng 7,3%.

[2] IIP các tháng cuối năm 2012 so với cùng kỳ năm 2011 như sau: Tháng 9: 101,9%; tháng 10: 103,9%; tháng 11: 104,9%; tháng 12: 105,9%.

[3] Chỉ số tồn kho các tháng cuối năm 2012 như sau: 01/7: 121,0%; 01/8: 120,8%; 01/9: 120,4%; 01/10: 120,3%; 01/11: 120,9%; 01/12: 120,1%.

[4] CPI tháng 10 tăng 0,85%; tháng 11 tăng 0,47%

[5] Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP năm 2000: 34,2%; 2001: 35,4%; 2002: 37,4%; 2003: 39,0%; 2004: 40,7%; 2005: 40,9%; 2006: 41,5%; 2007: 46,5%; 2008: 41,5%; 2009: 42,7%; 2010: 41,9%; 2011: 36,4%.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế-xã hội 10 tháng năm 2014
  Tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2014
  Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2014
  Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2014
  Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014