English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
6B Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2013

Kinh tế-xã hội nước ta ba tháng đầu năm 2013 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhất là khu vực đồng Euro và hầu hết các nước trong khu vực. Một số nước điều chỉnh giảm tăng trưởng năm 2013 do tình hình kinh tế những tháng cuối năm 2012 không được như mong đợi. Thị trường tiêu thụ hàng hóa thu hẹp, nhu cầu tiêu dùng giảm sút dẫn đến sự trì trệ của nhiều nền kinh tế lớn. Ở trong nước, mặc dù một số cân đối vĩ mô có những cải thiện nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Hàng tồn kho vẫn còn cao. Tình trạng nợ xấu chưa được giải quyết. Trước tình hình đó, ngày 07 tháng 01 năm 2013 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2013 và Nghị quyết số 02/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu, đồng thời chỉ đạo quyết liệt các ngành, địa phương thực hiện đồng bộ nhằm thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu kinh tế-xã hội cả năm.

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2013 ước tính tăng 4,89% so với cùng kỳ năm 2012, cao hơn mức tăng 4,75% của quý I/2012. Tăng trưởng quý I của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản là 2,24%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung và thấp hơn mức tăng 2,81% của quý I/2012 (Nông nghiệp tăng 2,03%, thấp hơn mức 2,37% cùng kỳ năm 2012; Lâm nghiệp tăng 5,38%, cao hơn mức 4,97% của cùng kỳ năm 2012; Thủy sản tăng 2,28%, thấp hơn mức 4,05 cùng kỳ năm 2012). Tăng trưởng quý I của khu vực công nghiệp và xây dựng là 4,93%, đóng góp 1,98 điểm phần trăm và thấp hơn mức tăng 5,15% cùng kỳ năm 2012 (Công nghiệp tăng 4,95%, thấp hơn mức tăng 5,80% cùng kỳ năm 2012 và xây dựng tăng 4,79%, cao hơn mức tăng 0,77% cùng kỳ năm 2012) và khu vực dịch vụ tăng 5,65%, đóng góp 2,60 điểm phần trăm và cao hơn mức tăng 4,99% cùng kỳ.

Trong tăng trưởng quý I năm nay, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng thấp nhất trong những năm gần đây (2010 tăng 4,08%, 2011 tăng 3,35%, 2012 tăng 2,81%) chủ yếu do gặp khó khăn trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp có mức tăng thấp nhất trong những năm gần đây (2010 tăng 5,21%, 2011 tăng 7,74%, 2012 tăng 5,8%). Có được tốc độ tăng GDP quý I năm nay ở mức 4,89% chủ yếu do khu vực dịch vụ tăng cao hơn ở mức 5,65%.

 

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

quý I các năm 2011, 2012 và 2013

 

Tốc độ tăng so với

quý I năm trước (%)

Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng quý I
năm 2013
(Điểm phần trăm)

 

Quý I năm 2011

Quý I năm 2012

Quý I      năm 2013

Tổng số

5,90

4,75

4,89

4,89

Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

3,35

2,81

2,24

0,31

Công nghiệp và xây dựng

6,66

5,15

4,93

1,98

Dịch vụ

6,04

4,99

5,65

2,60

 

  Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I năm 2012 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 161,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Nông nghiệp đạt 124,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5%; lâm nghiệp đạt 5,4 nghìn tỷ đồng, tăng 5,8%; thủy sản đạt 31,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5%.

Nông nghiệp

Tính đến ngày 15/3 cả nước đã gieo cấy được 3092,2 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 100,9% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1111,6 nghìn ha, bằng 100,5%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1980,6 nghìn ha, bằng 101,1%. Tính đến trung tuần tháng Ba, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 1123,3 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 134,4% cùng kỳ năm trước do nước lũ đã rút ở mức thấp nên tiến độ thu hoạch được đẩy nhanh, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1090,7 nghìn ha, chiếm 68% diện tích xuống giống và bằng 135,5%. Một số địa phương có diện tích thu hoạch lúa đông xuân nhanh là: Đồng Tháp 189 nghìn ha, chiếm 91% diện tích xuống giống; Long An 211,6 nghìn ha, chiếm 79%; Kiên Giang 213 nghìn ha, chiếm 71%; An Giang 150 nghìn ha, chiếm 58%... Theo ước tính sơ bộ, năng suất lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long ước tính đạt 68,4 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha, chủ yếu do sâu bệnh gây hại và một số diện tích bị nhiễm mặn. Sản lượng lúa toàn vùng ước tăng 100 nghìn tấn so với vụ đông xuân 2012 do diện tích tăng 18,4 nghìn ha nhưng mức tăng sản lượng không cao như năm 2012. (Năm 2012 sản lượng vùng này đạt 10,8 triệu tấn, tăng 350,9 nghìn tấn chủ yếu do diện tích tăng 12,8 nghìn ha và năng suất đạt 68,6 tạ/ha, tăng 1,7 tạ/ha).

Gieo trồng các loại rau, màu cũng được được đẩy nhanh tiến độ. Tính đến giữa tháng Ba, cả nước đã gieo trồng được 340,5 nghìn ha ngô, bằng 103,5% cùng kỳ năm trước; 79,9 nghìn ha khoai lang, bằng 90,7%; 136,2 nghìn ha lạc, bằng 92,8%; 54,4 nghìn ha đỗ tương, bằng 104%; 449,1 nghìn ha rau đậu, bằng 103,9%.

Tại các địa phương phía Nam thời tiết đang trong tình trạng hanh khô kéo dài, nắng nóng xuất hiện sớm làm nhiều diện tích lúa đông xuân và hoa màu đứng trước nguy cơ khô hạn. Ở Tây Nguyên, gần 32 nghìn ha lúa và hoa màu trong tình trạng khô hạn nghiêm trọng, trong đó hơn 3 nghìn ha lúa có nguy cơ mất trắng. Tình trạng ngập mặn ở các địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long đang ảnh hưởng đến diện tích lúa hè thu mới xuống giống.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong ba tháng đầu năm gặp một số khó khăn trong việc đầu tư tái đàn và khôi phục sản xuất sau dịp Tết Nguyên đán. Theo báo cáo sơ bộ, đàn trâu, bò cả nước giảm khoảng 3-4% so với cùng kỳ năm trước do diện tích chăn thả trâu, bò bị thu hẹp và thời gian tái đàn chậm.

Đàn lợn ba tháng đầu năm ước tính giảm khoảng 1-2% so với cùng kỳ năm 2012 do giá thịt lợn giảm nhiều, thể hiện ở chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất thịt lợn giảm 20%, từ đó gây tâm lý hoang mang cho người chăn nuôi và ảnh hưởng không nhỏ đến việc đầu tư tái đàn sau Tết. Bên cạnh đó, dịch lợn tai xanh xảy ra tại một số tỉnh miền Trung làm chết và tiêu hủy khoảng gần 3000 con lợn. Ước tính sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I đạt chỉ xấp xỉ mức quý I năm 2012.

Số gia cầm cả nước ba tháng đầu năm giảm khoảng 2-3%; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2012. Dịch cúm gia cầm xuất hiện tại một số địa phương từ cuối tháng Hai làm chết và tiêu hủy hơn 14 nghìn con. Tính đến ngày 24/3/2013, dịch cúm gia cầm đã được khống chế; dịch bệnh khác chưa qua 21 ngày còn ở các địa phương là: Dịch lở mồm long móng trên trâu, bò ở Bắc Ninh và Thanh Hóa; dịch tai xanh trên lợn ở Nghệ An và Quảng Trị.

Lâm nghiệp

Hoạt động lâm nghiệp những tháng đầu năm tập trung vào công tác trồng rừng, chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng, đồng thời phát động toàn dân thực hiện Tết trồng cây theo lời dạy của Bác Hồ trong dịp Tết nguyên đán 2013. Tính chung ba tháng đầu năm, tổng diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 8,4 nghìn ha, giảm 17,6% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 64 triệu cây, tăng 3,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1130,7 nghìn m3, tăng 8,2%; sản lượng củi khai thác đạt 7,4 triệu ste, tăng 3,1%.

Mặc dù diện tích rừng trồng mới tập trung giảm nhưng sản lượng gỗ khai thác tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước nên giá trị sản xuất lâm nghiệp vẫn tăng khá. Sản lượng gỗ khai thác quý I tăng khá chủ yếu do các nguyên nhân: Giá sản phẩm gỗ khai thác tăng 1,6% so với quý IV năm 2012 và tăng 9,2% so với cùng kỳ. Diện tích rừng sản xuất được quy hoạch ổn định, các địa phương trọng điểm về sản xuất lâm nghiệp có nhiều diện tích rừng sản xuất đến chu kỳ khai thác. Bên cạch đó, nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu cho sản xuất và xuất khẩu một số sản phẩm như bột giấy, dăm gỗ... lớn nên đầu ra của sản phẩm gỗ nguyên liệu ổn định. Trong 3 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng 15,8% (riêng gỗ tăng 25,3%), trong khi đó kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ không tăng góp phần làm tăng nhu cầu sử dụng gỗ nguyên liệu trong nước. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác cao là: Quảng Ninh 72,6 nghìn m3, tăng 150% so với cùng kỳ năm trước; Thanh Hóa 9,1 nghìn m3, tăng 23,7%; Bình Định 67,3 nghìn m3, tăng 20%; Thừa Thiên Huế 47,5 nghìn m3, tăng 17,4%; Quảng Nam 48 nghìn m3, tăng 16,7%; Phú Thọ 56,7 nghìn m3, tăng 10,3%.

Thời tiết khô hạn kéo dài nên nhiều vùng có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, trong đó trọng điểm là khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Theo tổng hợp sơ bộ, diện tích rừng bị thiệt hại trong quý I/2013 là 459,8 ha, giảm 34,4% cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 403,9 ha, giảm 36,1%; diện tích rừng bị phá 55,9 ha, giảm 19%. Một số địa phương có diện tích rừng bị cháy lớn là: Gia Lai 270 ha, Bình Phước 38 ha; Lâm Đồng 35 ha; Đắk Lắk 31 ha.

Thủy sản

Tổng sản lượng thủy quý I năm 2013 ước tính đạt 1151 nghìn tấn, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 857,5 nghìn tấn, giảm 0,1%; tôm đạt 108,8 nghìn tấn, tăng 4,1%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý I ước tính đạt 500 nghìn tấn, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó cá đạt 361,2 nghìn tấn, giảm 5%; tôm đạt 79,5 nghìn tấn, tăng 4,5%.

Nuôi trồng thủy sản ba tháng đầu năm gặp khó khăn do sản xuất cá tra thua lỗ kéo dài: Giá cá tra nguyên liệu luôn ở mức thấp trong khi giá chi phí nguyên liệu đầu vào tăng, nhu cầu nhập khẩu của các thị trường lớn giảm. Ngoài ra, các ngân hàng đang siết chặt tín dụng vì sợ rủi ro, dẫn tới tình trạng không ít doanh nghiệp phải đóng cửa hoặc chỉ hoạt động cầm chừng. Bên cạnh đó, ngày 14/3/2013, Bộ Thương mại Mỹ ra phán quyết áp đặt mức thuế chống phá giá đối với mặt hàng cá tra, cá ba sa phi lê đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ với mức thuế nhập khẩu cao làm cho việc sản xuất, xuất khẩu mặt hàng này càng gặp nhiều khó khăn hơn. Dự báo sản lượng cá tra còn tiếp tục giảm trong các tháng tới. Nhiều địa phương trọng điểm nuôi cá tra đã thu hẹp diện tích nuôi như: Trà Vinh còn 117 ha, giảm 47,5% so với cùng kỳ năm trước; An Giang 779 ha, giảm 18%; Cần Thơ 667 ha, giảm 4,2%. Sản lượng cá tra ba tháng đầu năm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long ước tính đạt 210 nghìn tấn, giảm 15% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó Vĩnh Long 7,4 nghìn tấn, giảm 66%; Bến Tre 25 nghìn tấn, giảm 31%; An Giang 66 nghìn tấn, giảm 15%; Cần Thơ 23 nghìn tấn, giảm 5,8%.

Sản lượng tôm nuôi thu hoạch trong kỳ chủ yếu trên phần diện tích thả nuôi tỉa thưa, thả bù và nuôi trong nội đồng phục vụ nhu cầu Tết Nguyên đán. Một số địa phương bắt đầu vào vụ nuôi nhưng nhìn chung diện tích thả giống giảm, trong đó Phú Yên đạt 60 ha, giảm 42,9% so với cùng kỳ năm 2012; Sóc Trăng 2393 ha, giảm 40,8%; Bạc Liêu 1155 ha, giảm 40,8%.

Nuôi trồng các loại thủy sản khác tương đối ổn định theo hướng đa canh, đa con kết hợp, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo đảm môi trường sinh thái bền vững. Mô hình nuôi phổ biến tại các địa phương là kết hợp tôm - cá, tôm - cua, tôm - lúa, lúa - cá hoặc nuôi lồng, bè trên biển với các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao như: Cá mú, cá giò, tu hài.

Sản lượng thủy sản khai thác quý I ước tính đạt 651 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác biển đạt 612,4 nghìn tấn, tăng 4,2%. Khai thác thuỷ sản trong kỳ nhìn chung ổn định do thời tiết khá thuận lợi. Bên cạnh đó, các địa phương quan tâm tạo điều kiện cho các chủ tàu thuyền ra khơi, bám biển khai khác hải sản như: Trang bị máy thông tin liên lạc, thành lập tổ, đội tự nguyện; hỗ trợ vay vốn ưu đãi để cải hoán, đóng mới tàu thuyền công suất lớn; tổ chức đăng ký, đăng kiểm, kiểm tra an toàn kỹ thuật và cấp giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật tàu cá nên các chuyến đi biển xa bờ đạt hiệu quả khá. Ngoài ra, khai thác cá lớn và cá ngừ đại dương tiếp tục phát triển mạnh tại một số tỉnh. Tuy giá cá ngừ đại dương hiện nay giảm gần 40% so cùng kỳ năm trước nhưng nhờ sản lượng đánh bắt tăng cao, ngư dân có nhiều giải pháp để giảm chi phí nên hoạt động khai thác cá ngừ vẫn có lãi. Sản lượng cá ngừ đại dương của Bình Định đạt 2053 tấn, tăng 28,2% so với cùng kỳ năm trước; Phú Yên 2850 tấn, tăng 16,3%.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Ba (tính theo năm gốc so sánh 2010) tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,3%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 10,9%.

Tính chung quý I năm 2013, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước (thấp hơn mức tăng 5,9% của cùng kỳ năm 2012), trong đó ngành công nghiệp khai khoáng (chiếm 21,3% giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp) tăng 2,1% (cùng kỳ năm trước tăng 3,6%); công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 70,9% giá trị tăng thêm toàn ngành) tăng 5,4% (cùng kỳ năm trước tăng 5,9%); sản xuất và phân phối điện (chiếm 6,7% giá trị tăng thêm toàn ngành) tăng 8,5% (cùng kỳ năm trước tăng 12,5%); cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải (chiếm 1,1% giá trị tăng thêm toàn ngành) tăng 9,5% (cùng kỳ năm trước tăng 8,4%).

Trong 4,9% mức tăng chung của quý I, ngành khai thác đóng góp 0,4 điểm phần trăm; ngành chế biến, chế tạo đóng góp 3,8 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,6 điểm phần trăm và ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Trong ngành khai khoáng, khai thác dầu thô chiếm tỷ trọng lớn nhưng chỉ số sản xuất tăng ở mức thấp là 3,8% do sản lượng dầu thô chỉ tăng 3,7%, thấp hơn mức tăng 9,7% của cùng kỳ năm 2012. Một số ngành khai thác khác có chỉ số sản xuất giảm mạnh như: Khai thác than cứng và than non giảm 5,9%; khai khoáng khác giảm 8,7%.

Trong ngành chế biến, chế tạo, nhiều ngành có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 4,2%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 3,8%; sản xuất kim loại giảm 3,7%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học giảm 3,3%; sản xuất thuốc lá giảm 2,5%; sản xuất xe có động cơ giảm 2,1%; sản xuất, chế biến thực phẩm là ngành lớn nhất của công nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm 12,8% giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp chỉ tăng 3,1% (cùng kỳ năm trước tăng 11,8%).

Các sản phẩm công nghiệp có mức tăng thấp hoặc giảm là: Ti vi giảm 18,3%; ô tô giảm 12,1%; vải dệt từ sợi tổng hợp giảm 11,3%; khí hóa lỏng giảm 9,6%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 9%; bột ngọt giảm 6,5%; than khai thác giảm 5,9%; thuốc lá giảm 2,6%; thủy hải sản chế biến tăng 3,6% (cùng kỳ năm trước tăng 13,6%)....

Tuy nhiên vẫn có những ngành công nghiệp có tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm 2012 như: Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 19%; sản xuất da và các sản phẩm da tăng 18,3%; sản xuất đồ uống tăng 14%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,6%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 8,2%. Một số ngành có mức tăng khá như: Sản xuất thiết bị điện tăng 6,8%; sản xuất trang phục tăng 5,8%; khai thác dầu thô và khí tự nhiên tăng 4,7%.

Ngành sản xuất và phân phối điện có chỉ số sản xuất tăng cao hơn các ngành khác nhưng vẫn thấp hơn mức tăng năm trước do sản suất suy giảm nên nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất thấp.

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2013 so với cùng kỳ năm 2012 của một số tỉnh, thành phố có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thành phố Hồ Chí Minh tăng 5%; Đồng Nai tăng 8,5%; Bình Dương tăng 8,5%; Hà Nội tăng 4,7%; Hải Phòng tăng 1,7%; Bắc Ninh tăng 5,7%; Vĩnh Phúc tăng 12,3%; Cần Thơ tăng 5,7%; Hải Dương tăng 4,5%; Đà Nẵng tăng 7,8%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hai tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ năm trước tăng 4,1%, trong đó các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao gồm: Sản xuất đồ uống  tăng 22,8%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,4%; sản xuất phương tiện vận tải khác (trừ xe có động cơ) tăng 12,7%; sản xuất hóa dược và dược liệu tăng 10,4%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất tăng 8,7%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 8,3%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ hai tháng đầu năm tăng thấp hoặc giảm gồm: Sản xuất trang phục tăng 6,9%; dệt tăng 4,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 3,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 2,8%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 0,7%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 0,2%; sản xuất kim loại giảm 7,2%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế giảm 7,9%; sản xuất thiết bị điện giảm 11,6%.

Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/3/2013 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,5% so với cùng thời điểm năm trước, thấp hơn mức tăng 19,9% của cùng kỳ năm 2012. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm qua các tháng trong năm qua chủ yếu do các doanh nghiệp tự tháo gỡ khó khăn bằng cách tiêu thụ sản phẩm với giá rẻ, lãi ít hoặc bán lỗ để giải phóng hàng tồn, thu hồi vốn để tái cơ cấu ngành hàng sản xuất có lợi hơn hoặc đầu tư sang lĩnh vực khác.

Những ngành có chỉ số tồn kho cao so với cùng thời điểm năm trước gồm: Sản xuất xe có động cơ tăng 37,3%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 28,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 27,4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 22%; sản xuất thiết bị điện tăng 16,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16%; sản xuất kim loại tăng 15,6%; sản xuất trang phục tăng 15,4%. Một số ngành có chỉ số tồn kho thấp hoặc giảm là: Dệt tăng 11,6%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 2%; sản xuất đồ uống giảm 9,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và quang học giảm 31,5%.

Tỷ lệ giá trị hàng tồn kho so với giá trị sản xuất hàng tháng của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo từ tháng 7/2012 đến tháng 2/2013 luôn ở mức cao khoảng 69-93%[1], trong khi tỷ lệ tồn kho ở mức an toàn trong điều kiện sản xuất và tiêu thụ bình thường khoảng 65%. Những ngành đang có tỷ lệ tồn kho cao gồm: Sản xuất xe có động cơ 147,3%, sản xuất giường, tủ, bàn, ghế 144,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 142%; sản xuất và chế biến thực phẩm 103%.

Chỉ số sử dụng lao động trong tháng Ba của các doanh nghiệp công nghiệp tăng 1,3% so với tháng 2/2013. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sử dụng lao động tháng 3/2013 giảm 0,2%, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,5%; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,9%. Chỉ số sử dụng lao động trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 2,3%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,3%; sản xuất và phân phối điện tăng 3,4%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,3%.

Hoạt động dịch vụ

Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tình hình kinh tế sụt giảm, thu nhập của người lao động bấp bênh, tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm tăng đã ảnh hưởng đến sức mua của dân cư; đồng thời tâm lý của người tiêu dùng vẫn có xu hướng thắt chặt chi tiêu trong điều kiện kinh tế khó khăn hiện nay. Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Ba đạt 211,3 nghìn tỷ đồng, giảm 0,6% so với tháng trước và tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung ba tháng đầu năm, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 636,2 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2012, nếu loại trừ yếu tố giá thì tăng 4,5%, thấp hơn mức tăng 4,7% cùng kỳ năm trước. Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ba tháng đầu năm của các khu vực như sau: Khu vực kinh tế Nhà nước đạt 62 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,8% và giảm 9,4%; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 553,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 87% và tăng 13,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 20,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,2% và tăng 34,5%. Trong các ngành kinh doanh, kinh doanh thương nghiệp đạt 491,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 77,3% và tăng 10,8%; khách sạn nhà hàng đạt 75,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,9% và tăng 15,4%; dịch vụ đạt 63,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,9% và tăng 15,3%; du lịch đạt 5,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% và tăng 4%.

 Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách ba tháng đầu năm nay ước tính đạt 771,3 triệu lượt khách, tăng 6,8% và 33,9 tỷ lượt khách.km, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2012, bao gồm: Vận tải trung ương đạt 10,6 triệu lượt khách, giảm 3,5% và 8 tỷ lượt khách.km, tăng 1,1%; vận tải địa phương đạt 760,7 triệu lượt khách, tăng 6,8% và 25,9 tỷ lượt khách.km, tăng 6,4%. Vận tải hành khách đường bộ ba tháng đầu năm ước tính đạt 713 triệu lượt khách, tăng 7% và 25,3 tỷ lượt khách.km tăng  6,7% so với cùng kỳ năm trước; đường sông đạt 50,4 triệu lượt khách, tăng 5,3% và 1,1 tỷ lượt khách.km, tăng 10,7%; đường hàng không đạt 4 triệu lượt khách, giảm 2,2% và 6,4 tỷ lượt khách.km, tăng 3,4%; đường biển đạt 1,5 triệu lượt khách, tăng 1,7% và 90 triệu lượt khách.km, tăng 1,4%; đường sắt đạt 2,3 triệu lượt khách, giảm 4,4% và 938 triệu lượt khách.km, giảm 4,7%.

Vận tải hàng hóa ba tháng đầu năm ước tính đạt 226,2 triệu tấn, tăng 4,9% và 38,8 tỷ tấn.km, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vận tải trong nước đạt 218,1 triệu tấn, tăng 5,8% và 14,3 tỷ tấn.km, tăng 4,2%; vận tải ngoài nước đạt 8,2 triệu tấn, giảm 8,4% và 24,5 tỷ tấn.km, giảm 9,3%. Vận tải hàng hóa đường bộ đạt 172,2 triệu tấn, tăng 7,1% và 8,6 tỷ tấn.km, tăng 5,5%; đường sông đạt 42,7 triệu tấn, giảm 0,4% và 3,7 tỷ tấn.km, giảm 2,8%; đường biển đạt 9,4 triệu tấn, giảm 9,8% và 25,6 tỷ tấn, giảm 10,4%; đường sắt đạt 1,9 triệu tấn, giảm 5,1% và 847,3 triệu tấn.km, giảm 7,4%.

Khách quốc tế đến Việt Nam

Trong ba tháng đầu năm 2013, số khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt trên 1,8 triệu lượt người, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng có mức giảm nhiều nhất là 7,2%, khách đến bằng đường bộ giảm 0,3% và khách đến bằng đường biển giảm 6,4%. Khách quốc tế đến Việt Nam có mức giảm khá mạnh ở các mục đích đến và ở hầu hết các thị trường so với cùng kỳ năm 2012. Số khách đến với mục đích du lịch chiếm tỷ trọng lớn (61,3%) nhưng giảm 4,7% (Cùng kỳ năm trước tăng 24,5%). Khách đến vì công việc chiếm 16,9% nhưng giảm 4,8% (Cùng kỳ năm trước tăng 28,2%). Một số nước thường có lượng khách đến nước ta nhiều nhưng mức tăng quý I năm nay không cao và thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ năm trước hoặc giảm như: Khách đến từ Trung Quốc tăng 0,7%; Hàn Quốc tăng 8,7%; Nhật Bản giảm 1,8%; Mỹ giảm 5,3%; Đài Loan giảm 18,5% (Các mức tăng cùng kỳ năm trước của các nước tương ứng là: Trung Quốc tăng 36%; Hàn Quốc tăng 43,3%; Nhật Bản tăng 16,9%; Mỹ tăng 0,9%; Đài Loan tăng 33,7%). Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến số khách quốc tế đến nước ta giảm mạnh là do kinh tế trong và ngoài nước còn gặp nhiều khó khăn, nên số người đi du lịch cũng như đi khai thác thị trường đầu tư, kinh doanh giảm.

 

IỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỀM CHẾ LẠM PHÁT

 Xây dựng, đầu tư phát triển

Hoạt động xây dựng

Giá trị sản xuất xây dựng quý I năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 143,9 nghìn tỷ đồng, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 19,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 13,4%; khu vực ngoài Nhà nước 120,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 83,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 4,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 2,9%. Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất xây dựng công trình nhà ở đạt 61,3 nghìn tỷ đồng; công trình nhà không để ở đạt 20,2 nghìn tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 47,6 nghìn tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 14,8 nghìn tỷ đồng.

Giá trị sản xuất xây dựng quý I năm 2013 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 115,7 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2012, bao gồm: Khu vực Nhà nước đạt 15,4 nghìn tỷ đồng, tăng 9,8%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 96,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 3,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,7%.

Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I năm 2013 theo giá hiện hành ước tính đạt 202,6 nghìn tỷ đồng, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước và bằng 29,6% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 74,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,9% tổng vốn và tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước 74,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 36,9% và tăng 11,6%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 53 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,2% và tăng 1,9%.

 

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I năm 2013

 

 

Nghìn        tỷ đồng

Cơ cấu     (%)

So với cùng kỳ năm trước (%)

TỔNG SỐ

202,6

100,0

105,5

Khu vực Nhà nước

74,8

36,9

102,5

Khu vực ngoài Nhà nước

74,8

36,9

111,6

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

53,0

26,2

101,9

 

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện quý I ước tính đạt 35,2 nghìn tỷ đồng, bằng 18% kế hoạch năm và giảm 4,9% so với cùng kỳ năm 2012, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 7111 tỷ đồng, bằng 15% kế hoạch năm và giảm 19,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 1083 tỷ đồng, bằng 16,7% và giảm 22,2%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 551 tỷ đồng, bằng 12,4% và giảm 31,9%; Bộ Xây dựng 262 tỷ đồng, bằng 12,9% và giảm 11,3%; Bộ Y tế 124 tỷ đồng, bằng 14% và giảm 30,9%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 120 tỷ đồng, bằng 17,2% và giảm 26,6%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 86 tỷ đồng, bằng 16,8% và giảm 17,1%; Bộ Công Thương 52 tỷ đồng, bằng 16,6% và giảm 28%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 28126 tỷ đồng, bằng 18,9% kế hoạch năm và giảm 0,1% so với cùng kỳ năm 2012. Vốn đầu tư thực hiện của một số địa phương như sau: Hà Nội đạt 3640 tỷ đồng, bằng 14,2% kế hoạch năm và tăng 20% so với cùng kỳ năm 2012; thành phố Hồ Chí Minh 2485 tỷ đồng, bằng 14,5% và tăng 5,7%; Đà Nẵng 1078 tỷ đồng, bằng 27,2% và giảm 22,7%; Bà Rịa-Vũng Tàu 900 tỷ đồng, bằng 20,4% và tăng 8,2%; Vĩnh Phúc 889 tỷ đồng, bằng 29,6% và tăng 13,7%; Kiên Giang 787 tỷ đồng, bằng 28,9% và tăng 12,6%.

Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 20/3/2013 đạt 6034,2 triệu USD, tăng 63,6% so với cùng kỳ năm 2012, bao gồm: Vốn đăng ký của 191 dự án được cấp phép mới đạt 2927 triệu USD (giảm 26,3% số dự án và tăng 2,2% số vốn so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung của 71 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước với 3107,2 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I năm 2013 ước tính đạt 2,7 tỷ USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2012.

Trong ba tháng đầu năm, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký mới vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 5539,3 triệu USD, chiếm 91,8% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 249,8 triệu USD, chiếm 4,1%; các ngành còn lại đạt 245,1 triệu USD, chiếm 4,1%.

Trong ba tháng đầu năm, cả nước có 23 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cấp phép mới, trong đó Thái Nguyên có số vốn đăng ký lớn nhất với 2 tỷ USD, chiếm 68,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bình Dương 286,2 triệu USD, chiếm 9,8%; Đồng Nai 221,5 triệu USD, chiếm 7,6%; Hải Phòng 120,4 triệu USD, chiếm 4,1%.

Trong số 26 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 2247,5 triệu USD, chiếm 76,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Nhật Bản 299,8 triệu USD, chiếm 10,2%; Đài Loan 83,7 triệu USD, chiếm 2,9%; Hàn Quốc 70,2 triệu USD, chiếm 2,4%...

Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2013 ước tính đạt 136,3 nghìn tỷ đồng, bằng 16,7% dự toán năm, trong đó thu nội địa 93,1 nghìn tỷ đồng, bằng 17,1%; thu từ dầu thô 20,8 nghìn tỷ đồng, bằng 21%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 21,8 nghìn tỷ đồng, bằng 13,1%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 29,6 nghìn tỷ đồng, bằng 17% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 20,1 nghìn tỷ đồng, bằng 18,7%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 20,9 nghìn tỷ đồng, bằng 17,4%; thu thuế thu nhập cá nhân 10 nghìn tỷ đồng, bằng 18,2%; thu thuế bảo vệ môi trường 2,3 nghìn tỷ đồng, bằng 15,8%; thu phí, lệ phí 1,8 nghìn tỷ đồng, bằng 17,5%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2013 ước tính đạt 171,9 nghìn tỷ đồng, bằng 17,6% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 26,9 nghìn tỷ đồng, bằng 15,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 26 nghìn tỷ đồng, bằng 15,3%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể ước tính đạt 124,4 nghìn tỷ đồng, bằng 18,9%; chi trả nợ và viện trợ 20,6 nghìn tỷ đồng, bằng 19,6%.

Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba ước tính đạt 11 tỷ USD, tăng 53,9% so với tháng trước và tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2013, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 29,7 tỷ USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu quý I đạt 31 tỷ USD, tăng 25,1%), bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 10,4 tỷ USD, tăng 10,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 19,3 tỷ USD, tiếp tục tăng mạnh ở mức 25,6%, chủ yếu do đóng góp của một số mặt hàng gia công lắp ráp như: Điện thoại các loại và linh kiện; điện tử máy tính và linh kiện; đá quý kim loại quý và sản phẩm. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm gần 65% tổng kim ngạch xuất khẩu và đóng góp 15,8 điểm phần trăm vào mức tăng chung, khu vực trong nước chiếm 35% và đóng góp 3,9 điểm phần trăm.

Một số mặt hàng xuất khẩu trong quý I đạt mức kim ngạch tăng cao là: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 4,5 tỷ USD, tăng 89,8% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 2,4 tỷ USD, tăng 49,1%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,3 tỷ USD, tăng 21,3%; sắn và sản phẩm của sắn đạt 460 triệu USD, tăng 23,4%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm đạt 485 triệu USD, tăng 287,3%; túi xách, ví, va li, mũ, ô dù đạt 390 triệu USD, tăng 23,3%. Một số mặt hàng xuất khẩu đạt mức tăng khá là: Hàng dệt may đạt 3,8 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2012; dầu thô đạt 1,9 tỷ USD, tăng 13,1%; giày dép đạt 1,7 tỷ USD, tăng 14,6%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,2 tỷ USD, tăng 15,7%. Riêng kim ngạch xuất khẩu gạo và cà phê giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó cà phê đạt 1,1 tỷ USD, giảm 1,5%; gạo đạt 644 triệu USD, giảm 1,4%.

Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu quý I, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 13,5 tỷ USD, tiếp tục duy trì tỷ trọng cao với 45,5% (cao hơn so với mức 42,7% của quý I/2012) và tăng mạnh với 27,4% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do sự đóng góp của mặt hàng điện thoại và linh kiện các loại có tỷ trọng liên tục tăng trong 3 năm qua. Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 10,5 tỷ USD, tăng 15,1% và chiếm 35,5% (thấp hơn so với mức 37% của quý I/2012). Hàng nông sản, lâm sản đạt 4 tỷ USD, tăng 6,7% và chiếm 13,5% (thấp hơn mức 15,1% của quý I/2012). Hàng thủy sản ước tính 1,3 tỷ USD, giảm 2,3% và chiếm 4,2% (thấp hơn mức 5,2% của quý I/2012). Xuất khẩu vàng ước tính 380 triệu USD, chiếm 1,3% (quý I/2012 không có mặt hàng này).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu quý I năm 2013, EU vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 5,7 tỷ USD, tăng 32% so với cùng kỳ năm 2012. Tiếp đến là thị trường Hoa Kỳ đạt 4,9 tỷ USD, tăng 17%; ASEAN đạt 4,7 tỷ USD, tăng 29,4%; Trung Quốc đạt gần 3 tỷ USD, tăng 8,2%.

Nhập khẩu hàng hoá

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba ước tính đạt 11,3 tỷ USD, tăng 56,1% so với tháng trước và tăng 22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 29,2 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước, tương đương 4,2 tỷ USD (Nếu loại trừ yếu tố giá, nhập khẩu quý I ước đạt 30 tỷ USD, tăng 20,4%), bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 13,1 tỷ USD, chiếm 44,7% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu và tăng 7,9%, đóng góp 3,8 điểm phần trăm trong mức tăng chung; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 16,1 tỷ USD, chiếm 55,3%, tăng 25,5%, tương đương 3,3 tỷ USD và đóng góp 13,2 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Kim ngạch nhập khẩu quý I năm nay tăng cao do sự đóng góp của một số mặt hàng thuộc nhóm hàng phục vụ gia công lắp ráp hàng xuất khẩu. Trong ba tháng đầu năm, nhiều mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 4 tỷ USD, tăng 51,5%; điện thoại các loại và linh kiện đạt 1,7 tỷ USD, tăng 86,7%; chất dẻo đạt 1,3 tỷ USD, tăng 17,7%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 760 triệu USD, tăng 64,9%; kim loại thường đạt 699 triệu USD, tăng 22%; sản phẩm chất dẻo đạt 545 triệu USD, tăng 20,8%; phương tiện vận tải khác và phụ tùng đạt 362 triệu USD, tăng 126,3%; bông đạt 281 triệu USD, tăng 34,6%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu quý I giảm so với cùng kỳ năm 2012 là: Xăng dầu 1,5 tỷ USD, giảm 27,8%; hóa chất đạt 669 triệu USD, giảm 4,9%; lúa mỳ đạt 135 triệu USD, giảm 46,5%; xe máy đạt 132 triệu USD, giảm 24,5%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu trong quý I, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 26,7 tỷ USD chiếm 91,5% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu và tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2012, trong đó máy móc, thiết bị dụng cụ, phương tiện vận tải đạt 11,2 tỷ USD chiếm 38,3% và tăng 28,7%; nhóm nguyên nhiên vật liệu đạt 15,5 tỷ USD, chiếm 53,2% và tăng 7,4%. Hàng tiêu dùng đạt 2,1 tỷ USD, chiếm 7,1% và tăng 15,6%. Vàng ước đạt 400 triệu USD chiếm 1,4% và tăng 42% so với cùng kỳ.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu quý I, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 7,6 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ 2012. Tiếp theo là ASEAN đạt 5,1 tỷ USD, tăng 4,6%; Hàn Quốc đạt 4,9 tỷ USD, tăng 47%; EU đạt 2,2 tỷ USD tăng 20%; Hoa Kỳ đạt 1,2 tỷ USD, tăng 3,3%.

Tháng Ba nhập siêu 300 triệu USD, nhưng do hai tháng đầu năm xuất siêu 781 triệu USD nên tính chung quý I/2013 xuất siêu 481 triệu USD, bằng 1,6% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 3,1 tỷ USD; khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2,6 tỷ USD.

 

Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2013 giảm 0,19% so với tháng trước và đây là tháng Ba có chỉ số giá giảm kể từ sau năm 2009[2]. Nguyên nhân chính do nhu cầu sau Tết giảm, các doanh nghiệp đang tập trung xử lý hàng tồn kho. Mặt khác, mặt bằng giá tiêu dùng đã ở mức cao.

Trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm mạnh nhất với 0,53% (Lương thực giảm 0,59%; thực phẩm giảm 0,95%); đồ uống và thuốc lá giảm 0,08%; giao thông giảm 0,25%; bưu chính viễn thông giảm 0,05%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại tăng nhẹ, trong đó nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,25%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,23%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,18%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%; giáo dục tăng 0,04%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2013 tăng 2,39% so với tháng 12/2012 và tăng 6,64% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm nay tăng 6,91% so với bình quân cùng kỳ năm 2012.

Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 3/2013 giảm 2,73% so với tháng trước; giảm 4,73% so với tháng 12/2012; giảm 3,47% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2013 tăng 0,41% so với tháng trước; tăng 0,36% so với tháng 12/2012; tăng 0,39% so với cùng kỳ năm 2012.

Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm 2013 tăng 2,06% so với quý trước và giảm 5,48% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông nghiệp tăng 2,19% và giảm 6,92%; hàng lâm nghiệp tăng 1,58% và tăng 7,41%; hàng thủy sản tăng 1,64% và giảm 1,74%. Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng công nghiệp quý I năm 2013 tăng 0,98% so với quý trước và tăng 3,58% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất sản phẩm khai khoáng giảm 0,24% và tăng 2,04%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,69% và tăng 3,04%; điện và phân phối điện tăng 3,79% và tăng 8,73%; nước sạch, nước thải tăng 1,88% và tăng 9,16%.

Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu dùng cho sản xuất quý I năm 2013 tăng 1,34% so với quý trước và tăng 3,36% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá một số ngành là: Khai khoáng tăng 5,7% và tăng 8,49%; thiết bị điện tăng 2,65% và tăng 2,56%; thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,42% và tăng 5,39%; chế biến, sửa chữa và lắp đặt máy móc thiết bị tăng 2,17% và giảm 0,29%.

Chỉ số giá cước vận tải kho bãi quý I năm 2013 tăng 3,32% so với quý trước và tăng 8,58% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giá cước vận tải hành khách tăng 3,55% và tăng 9,71%; giá cước vận tải hàng hóa tăng 2,11% và tăng 5,91%; giá cước dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải tăng 6,57% và tăng 14,85%. Chỉ số giá cước vận tải các ngành đường như sau: Giá cước ngành đường sắt quý I năm 2013 tăng 4,85% so với quý trước và tăng 11,43% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải đường bộ và xe buýt tăng 4,38% và tăng 10,91%; đường thủy tăng 0,77% và tăng 3,64%; đường hàng không tăng 1,33% và tăng 4,3%; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 6,57% và tăng 14,85%.

Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I năm 2013 giảm 0,12% so với quý trước và giảm 4,32% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của một số mặt hàng : Chất dẻo giảm 5,53% và giảm 15,59%; sản phẩm bằng sắt thép giảm 4,79% và giảm 5,43%; sắt thép giảm 4,04% và giảm 3,62%; gạo giảm 2,61% và giảm 17,96%. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý I năm 2013 giảm 0,13% so với quý trước và giảm 2,82% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của một số mặt hàng là: Cao su giảm 6,84% và giảm 12,09%; thuốc trừ sâu giảm 4,72% và giảm 11,27%; sản phẩm từ hóa chất giảm 4,05% và giảm 8,28%; sắt thép giảm 3,21 và giảm 13,09%. Nếu tính theo đồng Việt Nam, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý I năm 2013 giảm 0,12% so với quý trước và giảm 4,32% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa quý I năm 2013 giảm 0,13% và giảm 2,82% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng 1,64 và tăng 0,48%.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Lao động, việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính đến 01/4/2013 là 53,04 triệu người, tăng 251,8 nghìn người so với thời điểm 01/01/2013, trong đó lao động nam chiếm 51,5%; lao động nữ chiếm 48,5%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính đến 01/4/2013 là 47,27 triệu người, tăng 183,6 nghìn người so với thời điểm 01/01/2013, trong đó lao động nam chiếm 53,5%; nữ chiếm 46,5%.

 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đến 01/4/2013 ước tính 52,04 triệu người, tăng 337,7 nghìn người so với bình quân năm 2012 và tăng 76,1 nghìn người so với quý IV năm 2012. Về cơ cấu, lao động trong khu vực nông, lâm, thuỷ sản chiếm 47,0%, giảm 0,4 điểm phần trăm so với năm 2012; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,8%, giảm 0,4 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ chiếm 32,2%, tăng 0,8 điểm phần trăm. Số liệu cho thấy trong những tháng đầu năm 2013, hoạt động sản xuất trong ngành nông nghiệp, thủy sản và ngành công nghiệp vẫn đang gặp nhiều khó khăn, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa nên thu hút lao động giảm.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I năm 2013 là 2,1%, trong đó khu vực thành thị là 3,4%, khu vực nông thôn là 1,57%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm 2013 là 3,58%, trong đó khu vực thành thị là 2,54%, khu vực nông thôn là 4%. Tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp của quý I năm 2013 tăng so với năm 2012 ở cả khu vực thành thị và khu vực nông thôn.

Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội

Trong những tháng đầu năm, các địa phương thực hiện tốt công tác an sinh xã hội nên đời sống dân cư có một số cải thiện. Trong dịp Tết Nguyên đán Quý Tỵ 2013, chính quyền và cấp ủy các tỉnh, thành phố cùng các tổ chức chính trị-xã hội và các doanh nghiệp đã tổ chức các đoàn đi thăm, tặng quà và chúc Tết các gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Theo báo cáo của các địa phương, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong ba tháng đầu năm 2013 là 2540 tỷ đồng, bao gồm: 1211 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1085 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và hơn 244 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác.

Tình trạng thiếu đói trong nông dân tuy vẫn xảy ra nhưng đã giảm so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng 3/2013, cả nước có 45,9 nghìn hộ thiếu đói, giảm 42,7% so với tháng 3/2012, tương ứng với 194,0 nghìn nhân khẩu thiếu đói, giảm 43,4%. Tính chung ba tháng đầu năm, cả nước có 178,8 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 10,8% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 737,3 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 10,9%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 12,2 nghìn tấn lương thực và 8,2 tỷ đồng.

Giáo dục

Theo báo cáo từ các địa phương, tại thời điểm đầu năm học 2012-2013, cả nước có 13546 trường mẫu giáo, tăng 402 trường so với năm học trước; 15496 trường tiểu học, tăng 159 trường; 10334 trường trung học cơ sở, tăng 101 trường và 2392 trường trung học phổ thông, tăng 42 trường. Trong năm học này, cả nước có 241,3 nghìn giáo viên mẫu giáo, tăng 38,7% so với năm học 2011-2012; giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 834,8 nghìn người, tăng 0,8%, bao gồm: 373,5 nghìn giáo viên tiểu học, tăng 2%; 312,1 nghìn giáo viên trung học cơ sở, tương đương năm học trước và 149,2 nghìn giáo viên trung học phổ thông, giảm 0,6%. Tính đến hết tháng Ba năm 2013, cả nước có 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi (trong đó 04 tỉnh, thành phố đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2) và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong ba tháng đầu năm, cả nước có gần 9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (9 trường hợp tử vong); 90 trường hợp mắc bệnh viêm não virút (2 trường hợp tử vong); 31 trường hợp mắc thương hàn; 11,3 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (4 trường hợp tử vong) và 16 trường hợp mắc hội chứng viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân.

Trong tháng đã phát hiện thêm 516 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV của cả nước tính đến giữa tháng Ba năm 2013 lên 264,9 nghìn người, trong đó 108,8 nghìn trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 54,5 nghìn người đã tử vong do AIDS.

Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm mặc dù đã được tăng cường nhưng tình trạng vi phạm quy định vệ sinh an toàn thực phẩm và ngộ độc thực phẩm vẫn xảy ra tại một số địa phương. Riêng trong tháng Ba đã xảy ra 6 vụ ngộ độc, làm 245 người bị ngộ độc. Tính chung ba tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 15 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 487 người bị ngộ độc, trong đó 4 trường hợp tử vong.

Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong ba tháng đầu năm, công tác tuyên truyền nhiệm vụ chính trị kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc và đón xuân mới Quý Tỵ 2013 được tổ chức triển khai tốt tại các địa phương. Nhiều hoạt động văn hóa với nội dung phong phú thu hút được sự quan tâm, hưởng ứng của cộng đồng. Cùng với việc tổ chức tốt các hoạt động văn hoá, thông tin, công tác thanh tra, kiểm tra tại các địa phương đã được tăng cường nhằm bảo đảm môi trường lành mạnh trong hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hoá. Trong những tháng đầu năm, việc kiểm tra công tác tổ chức lễ hội tại các địa phương được tăng cường, nhất là kiểm tra tại các lễ hội lớn trên địa bàn cả nước.

Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng ba tháng đầu năm, đặc biệt là dịp tết Nguyên đán, diễn ra sôi nổi khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước. Các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian cổ truyền đã thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Trong thể thao thành tích cao, ngành Thể dục Thể thao tổ chức thành công các giải quốc gia như: Cúp các câu lạc bộ Taekwondo toàn quốc tại Đà Nẵng; Bóng chuyền trẻ các câu lạc bộ toàn quốc tại Hà Tĩnh; các cây vợt xuất sắc tại thành phố Hồ Chí Minh; Cờ tướng hạng nhất toàn quốc tại thành phố Hồ Chí Minh; Xe đạp nữ quốc tế tại Bình Dương; Vô địch Billiard-Snooker tại Huế... Bên cạnh đó, đoàn thể thao Việt Nam cũng tham dự nhiều giải thể thao quốc tế và đã dành được 03 huy chương vàng tại: Giải Thể dục dụng cụ quốc tế Toyota, Giải vô địch Súng hơi châu Á (Trung Quốc) và Giải vô địch Đấu kiếm trẻ Châu Á (Thái Lan) cùng 02 huy chương bạc tại: Giải vô địch Đi bộ Châu Á (Nhật Bản) và World Cup Thể dục Dụng cụ (Pháp).

Tai nạn giao thông

Trong tháng 03/2013, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 732 vụ tai nạn giao thông, làm chết 653 người và làm bị thương 510 người. So với cùng kỳ năm 2012, số vụ tai nạn giao thông giảm 9,2%; số người chết giảm 13,5%; số người bị thương giảm 7,3%. Tính chung ba tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 2822 vụ tai nạn giao thông, làm chết 2578 người và làm bị thương 1811 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 2,8%; số người chết tăng 6,3%; số người bị thương giảm 10,7%. Bình quân một ngày trong ba tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 31 vụ tai nạn giao thông, làm chết 29 người và làm bị thương 20 người.

Thiệt hại do thiên tai

Thiên tai xảy ra trong ba tháng đầu năm đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống dân cư của nhiều địa phương trên địa bàn cả nước. Theo báo cáo sơ bộ, thiên tai đã làm 26 người chết và mất tích; hơn 60 ngôi nhà bị sập đổ, sạt lở, tốc mái; hơn 300 ha hoa màu bị hư hỏng. Các địa phương bị thiệt hại nặng là Quảng Bình với 22 người chết và mất tích; Tây Ninh 260 ha hoa màu bị hư hỏng; Cao Bằng 50 ngôi nhà bị sạt lở, tốc mái. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong quý I ước tính khoảng 14 tỷ đồng. Tổng số tiền mặt cứu trợ các địa phương bị ảnh hưởng thiên tai là hơn 800 triệu đồng. 

Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong quý I năm nay các cơ quan chức năng đã phát hiện 1719 vụ vi phạm quy định về vệ sinh môi trường, trong đó 797 vụ đã bị xử lý với tổng số tiền phạt trên 10 tỷ đồng, riêng trong tháng Ba đã phát hiện 805 vụ vi phạm, trong đó 421 vụ đã bị xử lý.

Tình hình cháy, nổ vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Trong tháng Ba, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 217 vụ cháy, nổ, làm 23 người chết, 22 người bị thương, thiệt hại khoảng 39 tỷ đồng. Trong ba tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 635 vụ cháy, nổ nghiêm trọng, làm 82 người chết và bị thương, thiệt hại ước tính 93 tỷ đồng.

Khái quát lại, kinh tế-xã hội nước ta ba tháng đầu năm đạt được một số kết quả nhất định: Tăng trưởng cao hơn mức cùng kỳ năm trước; xuất khẩu tăng khá; lạm phát giữ ở mức thấp; công tác an sinh xã hội thường xuyên được quan tâm. Tuy nhiên, trước mắt còn rất nhiều khó khăn, thách thức mà nền kinh tế - xã hội nước ta phải đối mặt: Kinh tế thế giới chuyển biến chậm. Tổng cung và tổng cầu trong nước đều giảm. Tăng trưởng quý I năm nay chủ yếu do đóng góp của khu vực dịch vụ, nhưng mức tăng của khu vực này chưa phải là cao và thường ảnh hưởng của yếu tố tăng lương nên thiếu sự ổn định. Sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, khả năng tiếp cận vốn khó, tồn kho sản phẩm vẫn ở mức cao. Sức mua trong dân yếu. Dư nợ tín dụng thấp. Lãi suất tuy giảm nhưng vẫn là áp lực cho sản xuất. Lạm phát mặc dù không cao nhưng còn chịu nhiều tác động của các yếu tố bất thường từ thị trường bên ngoài cũng như thị trường trong nước. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện khách quan thời tiết, dịch bệnh. Tình hình trên cho thấy kinh tế quý II và cả năm 2013 hết sức khó khăn. Các cấp, các ngành và địa phương cần triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP và Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ, tập trung vào một số vấn đề trọng tâm sau đây:

Một là, đẩy mạnh tiến độ giải ngân nguồn vốn cho vay phục vụ sản xuất và xuất khẩu cùng những mục đích ưu tiên khác theo quy định. Tập trung giải quyết tháo gỡ khó khăn để mọi đối tượng được vay đều tiếp cận vốn dễ dàng, tiện lợi nhất. Quản lý, kiểm soát nguồn tiền gửi và tín dụng cho vay của các ngân hàng thương mại để dòng tiền được sử dụng đúng mục đích theo chức năng được quy định đối với ngân hàng, đồng thời giảm lãi suất cho vay tương ứng với giảm lãi suất huy động.

Hai là, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp ngành công nghiệp, cụ thể là: Rà soát lại những quy định về điều kiện được vay vốn để mở rộng hơn đối tượng được vay; tiếp tục hạ lãi suất cho vay; cải tiến chính sách thuế, nhất là thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu; cải thiện môi trường kinh doanh về thủ tục đăng ký kinh doanh, phát triển cơ sở hạ tầng, đơn giản và hiện đại hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường pháp lý...; hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm, khai thác thị trường xuất khẩu, nhất là các thị trường mới tiềm năng.

Ba là: Các doanh nghiệp cần chủ động xắp xếp lại sản xuất, cơ cấu lại sản phẩm, mặt hàng phù hợp với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp theo hướng xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh lâu dài, cải tiến kỹ thuật, quy trình, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ trên cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế.

Bốn là, chủ động nghiên cứu thay đổi cơ cấu cây con phù hợp, bảo đảm cho năng suất cao, chi phí hợp lý và có lãi. Làm tốt công tác phòng, chống hạn hán và dịch bệnh trên cây, con. Chủ động về nhân lực và thiết bị cần thiết, đồng thời xây dựng kế hoạch, phương án cụ thể  để đối phó với thời tiết xấu xảy ra vào mùa mưa, bão, nhằm hạn chế ở mức thấp nhất thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp cũng như thiệt hại về người và tài sản.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh công tác an sinh xã hội thông qua nhiều chương trình, hoạt động và sự kiện mang tính cộng đồng. Thực hiện có hiệu quả cao chính sách ưu đãi tín dụng để có nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ khó khăn được vay vốn; đồng thời tổ chức định hướng giúp đỡ các hộ gia đình sử dụng vốn vay đúng mục đích và hướng dẫn cách làm ăn, phát triển sản xuất, tạo việc làm, ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo bền vững. Tập trung quan tâm các xã, thôn bản khó khăn. Triển khai các hoạt động giám sát trong thực hiện chương trình giảm nghèo và thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ cho người nghèo.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 

 

 

 



[1] Tỷ lệ giá trị hàng tồn kho so với giá trị sản xuất tháng 7/2012 là 90,2%; tháng 8/2012 là 87,1%; tháng 9/2012 là 88,2%; tháng 10/2012 là 73,2%; tháng 11/2012 là 68,9%; tháng 12/2012 là 72,7%; tháng 1/2013 là 70% và tháng 2/2013 là 93,3%.

 

[2] So với tháng trước, CPI tháng 3/2009 giảm 0,17%; tháng 3/2010 tăng 0,75%; tháng 3/2011 tăng 2,17%; tháng 3/2012 tăng 0,16%.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2014
  Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2014
  Tình hình kinh tế-xã hội 5 tháng năm 2014
  Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng năm 2014
  Tình hình kinh tế xã hội quý I năm 2014