English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2017

 

Kinh tế - xã hội nước ta năm 2017 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi[1], các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu đạt mức tăng trưởng khả quan. Hoạt động đầu tư, thương mại toàn cầu có xu hướng cải thiện rõ rệt cùng với niềm tin của người tiêu dùng tăng lên là các yếu tố tác động tích cực đến sản xuất trong nước. Tuy nhiên, xu hướng gia tăng của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ sản xuất, bảo hộ mậu dịch cùng những thay đổi về địa chính trị, chính sách thương mại của một số nước lớn đang là những thách thức đối với kinh tế nước ta. Ở trong nước, bên cạnh các vấn đề tồn tại của nền kinh tế như chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh thấp, sự sụt giảm của ngành khai khoáng, cùng với giá thịt lợn giảm mạnh, thiên tai, bão, lũ liên tiếp xảy ra tác động tiêu cực tới sản xuất nông nghiệp và thách thức mục tiêu tăng trưởng năm 2017 của cả nước.

Trước tình hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành và địa phương tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2017; kiên định mục tiêu tăng trưởng đề ra, ban hành kịp thời các Nghị quyết, Chỉ thị nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy sản xuất; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra kết quả thực hiện, theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế, có đối sách, biện pháp chỉ đạo phù hợp, kịp thời. Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội năm 2017 tiếp tục chuyển biến tích cực và rõ nét. Kết quả các ngành, lĩnh vực trong năm 2017 như sau:

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2017 ước tính tăng 6,81% so với năm 2016, trong đó quý I tăng 5,15%; quý II tăng 6,28%; quý III tăng 7,46%; quý IV tăng 7,65%. Mức tăng trưởng năm nay vượt mục tiêu đề ra 6,7% và cao hơn mức tăng của các năm từ 2011-2016[2], khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện. Trong mức tăng 6,81% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã có sự phục hồi đáng kể với mức tăng 2,90% (cao hơn mức tăng 1,36% của năm 2016), đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,00%, đóng góp 2,77 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,44%, đóng góp 2,87 điểm phần trăm.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành thủy sản có mức tăng cao nhất với 5,54% do sản xuất thủy sản năm 2017 có nhiều khởi sắc so với năm 2016, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành lâm nghiệp tăng 5,14%, do chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm. Ngành nông nghiệp tăng 2,07% (năm 2016 tăng 0,72%), đóng góp 0,24 điểm phần trăm, cho thấy dấu hiệu phục hồi của ngành nông nghiệp sau những ảnh hưởng nặng nề của thiên tai năm 2016, xu hướng chuyển đổi cơ cấu sản phẩm trong nội bộ ngành theo hướng đầu tư vào những sản phẩm có giá trị kinh tế cao đã mang lại hiệu quả.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 7,85%, cao hơn mức tăng 7,06% của năm 2016, đóng góp 2,23 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Điểm sáng của khu vực này là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 14,40% (là mức tăng cao nhất trong 7 năm gần đây[3]), đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung với 2,33 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng giảm 7,10%, làm giảm 0,54 điểm phần trăm của mức tăng chung, đây là mức giảm sâu nhất từ năm 2011 trở lại đây[4], chủ yếu do sản lượng dầu thô khai thác giảm hơn 1,6 triệu tấn so với năm trước; sản lượng khai thác than cũng chỉ đạt 38 triệu tấn, giảm hơn 180 nghìn tấn. Ngành xây dựng duy trì tăng trưởng khá với tốc độ 8,70%, đóng góp 0,54 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ đạt mức tăng 8,36% so với năm trước, là ngành có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung (0,79 điểm phần trăm); dịch vụ lưu trú và ăn uống có mức tăng trưởng khá cao 8,98% so với mức tăng 6,70% của năm 2016, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,14% (mức tăng cao nhất trong 7 năm gần đây[5]), đóng góp 0,46 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,07% (mức tăng cao nhất kể từ năm 2011[6]), đóng góp 0,21 điểm phần trăm.

 

Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

các năm 2015-2017

 

 

Tốc độ tăng so với
năm trước (%)

Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng năm 2017
(Điểm phần trăm)

 

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Tổng số

6,68

6,21

6,81

6,81

Nông, lâm nghiệp và thủy sản

2,41

1,36

2,90

0,44

Công nghiệp và xây dựng

9,64

7,57

8,00

2,77

Dịch vụ

6,33

6,98

7,44

2,87

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sp

5,54

6,38

6,34

0,73

 

Quy mô nền kinh tế năm 2017 theo giá hiện hành đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD so với năm 2016. Về cơ cấu nền kinh tế năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 15,34%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,34%; khu vực dịch vụ chiếm 41,32%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,00% (Cơ cấu tương ứng của năm 2016 là: 16,32%; 32,72%; 40,92%; 10,04%).

Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2017, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,35% so với năm 2016, đóng góp 5,52 điểm phần trăm (trong đó tiêu dùng cuối cùng của hộ dân cư đóng góp 5,04 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 9,8%, đóng góp 3,30 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu làm giảm 2,01 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung.

 

 
 
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp trong năm 2017 gặp nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng của thời tiết biến đổi bất thường, bão, mưa lớn gây ngập úng, vỡ đê bao tại một số địa phương phía Bắc và hiện tượng lũ sớm ở Đồng bằng sông Cửu Long ảnh hưởng đến tiến độ, diện tích và năng suất cây trồng.

Sản lượng lúa cả năm 2017 ước tính đạt 42,84 triệu tấn, giảm 318,3 nghìn tấn so với năm 2016[7] do cả diện tích và năng suất đều giảm so với năm trước. Diện tích lúa cả năm 2017 ước tính đạt 7,72 triệu ha, giảm 26,1 nghìn ha so với năm 2016; năng suất lúa cả năm đạt 55,5 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha.

Trong sản xuất lúa, vụ đông xuân năm nay cả nước gieo cấy được 3,08 triệu ha, giảm 5,7 nghìn ha so với vụ đông xuân trước. Diện tích lúa đông xuân thời gian gần đây có xu hướng thu hẹp dần (tập trung chủ yếu tại Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long) do ảnh hưởng của thời tiết và một số địa phương chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa sang sử dụng cho mục đích khác[8]. Năng suất lúa đông xuân đạt 62,2 tạ/ha, giảm 0,7 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 19,15 triệu tấn, giảm 259 nghìn tấn, trong đó một số địa phương sản lượng giảm nhiều: Đồng Tháp giảm 165,8 nghìn tấn; Long An giảm 96,5 nghìn tấn; Hà Tĩnh giảm 86,8 nghìn tấn; Cần Thơ giảm 59,1 nghìn tấn.

Diện tích gieo cấy lúa hè thu năm 2017 đạt 2,11 triệu ha, tương đương vụ hè thu năm 2016; năng suất đạt 54,5 tạ/ha, tăng 1,2%; sản lượng đạt 11,49 triệu tấn, tăng 1,3%. Năng suất và sản lượng lúa hè thu năm nay của hầu hết các vùng tăng so với năm trước (riêng vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung do ảnh hưởng của mưa, bão và sâu bệnh nên năng suất và sản lượng giảm), trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long năng suất đạt 54,8 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha; sản lượng đạt 9,05 triệu tấn, tăng 37,2 nghìn tấn.

Diện tích lúa thu đông tại Đồng bằng sông Cửu Long năm nay ước tính đạt 769,4 nghìn ha, giảm 3,3 nghìn ha so với năm 2016; năng suất ước tính đạt 52,2 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha; sản lượng đạt 4,02 triệu tấn, tăng 124,2 nghìn tấn. Diện tích gieo trồng lúa thu đông giảm mạnh ở An Giang (giảm 17,8 nghìn ha) và Đồng Tháp (giảm 15,1 nghìn ha) do các địa phương chủ động xả lũ vào ruộng để tăng cường phù sa và ngăn ngừa dịch bệnh cho vụ lúa sau.

Sản xuất lúa mùa năm nay, đặc biệt là ở miền Bắc gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết và sâu bệnh, mưa lớn trên diện rộng đúng thời kỳ xuống giống, bệnh lùn sọc đen lây lan gây hại suốt thời kỳ lúa sinh trưởng, cuối vụ tiếp tục chịu tác động của bão, gây ngập lụt nghiêm trọng. Diện tích gieo cấy lúa mùa của cả nước đạt 1,76 triệu ha, giảm 17,5 nghìn ha so với vụ mùa năm trước; năng suất ước tính đạt 46,4 tạ/ha, giảm 1,4 tạ/ha; sản lượng ước tính đạt 8,18 triệu tấn, giảm 327,3 nghìn tấn. Trong đó, diện tích lúa mùa của miền Bắc đạt 1,13 triệu ha, giảm 18,7 nghìn ha so với năm trước, chủ yếu do các địa phương chuyển một phần diện tích trồng lúa sang sử dụng cho mục đích khác[9]; năng suất ước tính đạt 46,1 tạ/ha, giảm 3,8 tạ/ha; sản lượng đạt 5,23 triệu tấn, giảm 527,1 nghìn tấn. Một số địa phương có sản lượng lúa mùa giảm mạnh so với năm trước: Nam Định giảm 130,2 nghìn tấn; Thái Bình giảm 107,3 nghìn tấn; Hải Dương giảm 63,7 nghìn tấn; Hà Nội giảm 46,4 nghìn tấn. Tại các tỉnh phía Nam, diện tích gieo cấy lúa mùa đạt 629,6 nghìn ha, tăng 1,2 nghìn ha so với năm trước; năng suất ước tính đạt 47 tạ/ha, tăng 3,1 tạ/ha; sản lượng đạt 2,96 triệu tấn, tăng 199,8 nghìn tấn.

Kết quả sản xuất hoa màu và một số cây hàng năm: Sản lượng ngô đạt 5,13 triệu tấn, giảm 114,6 nghìn tấn so với năm 2016 do diện tích gieo trồng giảm 52,9 nghìn ha (năng suất ngô tăng 1,1 tạ/ha). Sản lượng khoai lang đạt 1,35 triệu tấn, tăng 81,9 nghìn tấn (diện tích tăng 1,6 nghìn ha); mía đạt 18,32 triệu tấn, tăng 1,11 triệu tấn (diện tích tăng 12,8 nghìn ha); sản lượng sắn đạt 10,34 triệu tấn, giảm 569,1 nghìn tấn (diện tích giảm 34,4 nghìn ha); lạc đạt 461,5 nghìn tấn, giảm 2,1 nghìn tấn (diện tích giảm 4,1 nghìn ha); đậu tương đạt 102,3 nghìn tấn, giảm 22 nghìn tấn (diện tích giảm 16,1 nghìn ha); sản lượng rau các loại đạt 16,49 triệu tấn, tăng 562,8 nghìn tấn (diện tích tăng 29,5 nghìn ha); sản lượng đậu các loại đạt 162,3 nghìn tấn, giảm 5,3 nghìn tấn (diện tích giảm 10 nghìn ha).

Năm 2017, diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm ước tính đạt 2.215,1 nghìn ha, tăng 35,2 nghìn ha so với năm 2016, trong đó diện tích cao su đạt 971,6 nghìn ha, giảm 0,2% so với năm trước do một số tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đang có xu hướng phá bỏ cây cao su già cỗi, chuyển đổi sang trồng tiêu và cây trồng khác, sản lượng cả vụ đạt 1.086,7 nghìn tấn, tăng 5%; hồ tiêu diện tích đạt 152 nghìn ha, tăng 17,6%, sản lượng đạt 241,5 nghìn tấn, tăng 11,6%; cà phê diện tích đạt 664,6 nghìn ha, tăng 2,2%, sản lượng đạt 1.529,7 nghìn tấn, tăng 4,7%; điều diện tích đạt 297,5 nghìn ha, tăng 1,5%, sản lượng đạt 210,9 nghìn tấn, giảm 30,9%; chè diện tích đạt 129,3 nghìn ha, giảm 3,1% do vùng chè Yên Bái và một số tỉnh miền núi phía Bắc đã chuyển sang trồng nhóm cây có múi (chủ yếu là cây cam), sản lượng chè búp đạt 1.040,8 nghìn tấn, tăng 0,7%.

Sản lượng cây ăn quả năm nay đạt khá do nhiều cây trồng tăng về diện tích và có thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định. Sản lượng cam đạt 772,6 nghìn tấn, tăng 20,4% so với năm trước; quýt đạt 175,5 nghìn tấn, tăng 6,3%; bưởi đạt 571,3 nghìn tấn, tăng 13,4%; xoài đạt 788,2 nghìn tấn, tăng 8,3%; chuối đạt 2.066,2 nghìn tấn, tăng 5,2%; thanh long đạt 952,8 nghìn tấn, tăng 14,2%. Riêng sản lượng nhãn, vải đạt thấp do nhiều cây trồng không mang lại hiệu quả bị chặt bỏ ở miền Bắc và chịu ảnh hưởng của sâu bệnh tại các tỉnh phía Nam[10].

Chăn nuôi trâu, bò nhìn chung ổn định, nuôi gia cầm đạt khá, riêng chăn nuôi lợn còn gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ chưa có nhiều chuyển biến, giá thịt lợn ở mức thấp khiến quy mô đàn giảm. Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2017, đàn trâu cả nước có 2,5 triệu con, giảm 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò có 5,7 triệu con, tăng 2,9%, đàn lợn có 27,4 triệu con, giảm 5,7%; đàn gia cầm có 385,5 triệu con, tăng 6,6%.

Sản lượng thịt hơi các loại năm nay đạt khá, trong đó sản lượng thịt trâu đạt 87,9 nghìn tấn, tăng 1,5% so với cùng thời điểm năm trước; sản lượng thịt bò đạt 321,7 nghìn tấn, tăng 4,2%; sản lượng thịt lợn đạt 3,7 triệu tấn, tăng 1,9%; sản lượng thịt gia cầm đạt 1 triệu tấn, tăng 7,3%. Sản lượng trứng gia cầm đạt khá, ước tính năm 2017 đạt 10.637,1 triệu quả, tăng 12,6% do trong năm có nhiều doanh nghiệp, trang trại đầu tư mở rộng quy mô sản xuất phục vụ nhu cầu thị trường trong và ngoài nước. Một số địa phương có sản lượng trứng tăng cao: Sóc Trăng tăng 39%; Ninh Thuận tăng 28,8%; Long An tăng 27%; Tiền Giang tăng 20,5%; Phú Thọ tăng 18,1%; Bắc Giang tăng 15%; Lâm Đồng tăng 14,9%. Sản lượng sữa bò cả năm 2017 đạt 881,3 triệu lít, tăng 10,8% so với năm 2016. Tính đến thời điểm 25/12/2017 cả nước không còn dịch bệnh trên gia súc, gia cầm.

 

    b. Lâm nghiệp

Thời tiết trong năm tương đối thuận lợi cho hoạt động trồng, chăm sóc rừng và khai thác lâm sản. Năm 2017, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 241,3 nghìn ha, tăng 1,2% so với năm 2016, trong đó diện tích rừng sản xuất ước tính đạt 228 nghìn ha, tăng 1,3%; rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 12,7 nghìn ha, giảm 1,5%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán cả năm đạt 99,8 triệu cây, tăng 0,6%. Sản lượng gỗ khai thác năm 2017 ước tính đạt 11,5 triệu m3, tăng 12,4% do các thị trường tiêu thụ gỗ truyền thống như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc tăng trưởng tốt. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao: Bình Định đạt 853 nghìn m3, tăng 17,9%; Bắc Giang đạt 575 nghìn m3, tăng 14,9%; Nghệ An đạt 515 nghìn m­­­­3­­, tăng 22%; Quảng Bình đạt 440 nghìn m­­­­3­­, tăng 55,8%; Hà Tĩnh đạt 419 nghìn m­­­­3­­, tăng 55,4%. Sản lượng củi khai thác đạt 26,3 triệu ste, tăng 0,4% so với năm 2016.

Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng đã được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện, đồng thời năm nay mưa nhiều nên diện tích rừng bị cháy giảm mạnh. Năm 2017, diện tích rừng bị thiệt hại là 1.515,6 ha, giảm 55,9% so với năm 2016, trong đó diện tích rừng bị cháy là 471,7 ha, giảm 80%; diện tích rừng bị chặt phá là 1.043,9 ha, giảm 2,9%.

 

  
   c. Thủy sản

Sản xuất thủy sản năm 2017 có nhiều khởi sắc. Sản lượng thuỷ sản cả năm ước tính đạt 7.225,0 nghìn tấn, tăng 5,2% so với năm trước, trong đó cá đạt 5.192,4 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 887,5 nghìn tấn, tăng 8,8%.

Hoạt động nuôi trồng thủy sản năm 2017 đạt khá, nhất là nuôi tôm nước lợ và cá tra. Sản lượng thủy sản nuôi trồng cả năm ước tính đạt 3.835,7 nghìn tấn, tăng 5,2% so với năm 2016, trong đó cá đạt 2.694,3 nghìn tấn, tăng 4,2%; tôm đạt 723,8 nghìn tấn, tăng 10,3%. Nuôi cá tra gặp thuận lợi do giá cá tra nguyên liệu cao hơn nhiều cùng kỳ năm 2016[11] và liên tục tăng qua các tháng đã khuyến khích người nuôi yên tâm đầu tư, thả nuôi trở lại. Diện tích nuôi cá tra năm 2017 ước tính đạt 6.701 ha, tăng 18,9% so với năm trước; sản lượng ước tính đạt 1.251,3 nghìn tấn, tăng 5,0%. Nuôi tôm nước lợ gặp nhiều thuận lợi về thời tiết và giá cả. Năm 2017, diện tích nuôi tôm sú ước tính đạt 478,8 nghìn ha, tăng 1,1% so với năm trước, sản lượng đạt 254,9 nghìn tấn, tăng 4,4%; diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng đạt 105,1 nghìn ha, tăng 8,2%, sản lượng đạt 432,3 nghìn tấn, tăng 14,3%.

Thời tiết trong năm tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản trên biển, cùng với dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển đã tạo điều kiện cho ngư dân ra khơi bám biển, đánh bắt xa bờ. Bên cạnh đó, hoạt động khai thác thủy sản biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ đã phục hồi trở lại sau sự cố môi trường biển trong năm 2016. Năm 2017, sản lượng thủy sản khai thác của cả nước ước tính đạt 3.389,3 nghìn tấn, tăng 5,1% so với năm 2016, trong đó cá đạt 2.498,1 nghìn tấn, tăng 5,4%, tôm đạt 163,7 nghìn tấn, tăng 2,6%. Sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 3.191,2 nghìn tấn, tăng 5,1%, trong đó cá đạt 2.363,8 nghìn tấn, tăng 5,4%, tôm đạt 150,2 nghìn tấn, tăng 2,8%.

 

Sản lượng thủy sản 

 

3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng cao trong tháng cuối năm. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười Hai ước tính tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 10%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 15,7%.

Tính chung cả năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,4% so với năm 2016 (quý I tăng 4%; quý II tăng 8,2%; quý III tăng 9,7%; quý IV ước tính tăng 14,4%), cao hơn nhiều so với mức tăng 7,4% của năm 2016. Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 14,5% (mức tăng trưởng cao nhất trong 6 năm trở lại đây[12]), đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng chung toàn ngành công nghiệp với 10,2 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,4%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm sâu 7,1%, làm giảm 1,5 điểm phần trăm mức tăng chung.

Chỉ số sản xuất công nghiệp giai đoạn 2015-2017

Đơn vị tính: %

 

2015

2016

Ước tính 2017

Toàn ngành công nghiệp

109,8

107,4

109,4

Khai khoáng

107,1

93,2

92,9

Công nghiệp chế biến, chế tạo

110,5

111,3

114,5

Sản xuất và phân phối điện

111,4

111,5

109,4

Cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải

106,9

108,0

108,7

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xét theo công dụng của sản phẩm, các sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) năm 2017 tăng 11% so với năm trước; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 8,6% (trong đó sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 7,3%; sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 9,2%). Chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian cao hơn chỉ số sản xuất sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng cho thấy, sản phẩm trung gian trong sản xuất công nghiệp của nước ta đã có sự thay đổi theo hướng giảm dần phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu.

Trong năm 2017, một số ngành công nghiệp cấp II có chỉ số sản xuất tăng cao so với năm trước, đóng góp chủ yếu vào mức tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 32,7% (tập trung ở sản xuất điện thoại di động thông minh giá trị cao và linh kiện điện tử xuất khẩu toàn cầu), đặc biệt tăng mạnh trong quý IV với mức tăng 55,6% (quý I tăng 5,9%, quý II tăng 20,5%, quý III tăng 47%); sản xuất kim loại tăng 17,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 14,4%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13,5%; dệt, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy cùng tăng 10,2%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 3,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 0,2%; khai thác than cứng và than non bằng năm trước; sản xuất thuốc lá giảm 0,1%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 9,3%[13].

Trong năm 2017, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng cao so với năm trước: Sắt, thép thô tăng 31,6%; ti vi tăng 30,5%; thép cán tăng 17,5%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 12,6%; phân urê tăng 11,4%; phân hỗn hợp NPK và sữa bột cùng tăng 10,4%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Thức ăn cho gia súc tăng 3,6%; thuốc lá điếu tăng 2%; giày, dép da tăng 1,5%; than đá giảm 0,5%; ô tô giảm 6,6%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 7,7%; dầu thô khai thác giảm 10,8%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 14,8%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2017 so với năm 2016 của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Bắc Ninh tăng 37,2%; Hải Phòng tăng 21,6%; Thái Nguyên tăng 18,1%; Bình Dương tăng 11%; Vĩnh Phúc tăng 10,9%; Hải Dương tăng 10,5%; Đà Nẵng tăng 9,5%; Đồng Nai tăng 8,7%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,9%; Cần Thơ tăng 7,3%; Hà Nội tăng 7,1%; Quảng Ninh tăng 3,7%; Quảng Nam giảm 2,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 3,1%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2017 tăng 1% so với tháng trước và tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 11 tháng, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 8,4%), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Dệt tăng 28,7%; sản xuất kim loại tăng 27,6%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 21,7%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 20,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 17,6%; sản xuất trang phục tăng 16,7%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp: Sản xuất thiết bị điện tăng 7,7%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 6,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 4%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/12/2017 tăng 8% so với cùng thời điểm năm trước, là mức tồn kho thấp nhất trong nhiều năm qua[14], trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất trang phục tăng 2,3%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 1,9%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 1,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan bằng cùng kỳ năm trước; sản xuất thuốc lá giảm 0,1%; sản xuất kim loại giảm 2,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 9,4%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 30,2%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn mức tăng chung: Sản xuất đồ uống tăng 49,1%; sản xuất xe có động cơ tăng 35,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 29,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 20,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 18,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 16,2%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 11 tháng năm 2017 là 65,9% (cùng kỳ năm trước là 66,1%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 112,5%; sản xuất xe có động cơ 84,8%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 84,7%; sản xuất, chế biến thực phẩm 74,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 74,2%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/12/2017 tăng 5,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 3,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 6,9%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,4%; ngành sản xuất, phân phối điện giảm 1%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 0,7%.

Lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/12/2017 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Bắc Ninh tăng 21,6%; Đà Nẵng tăng 13,5%; Vĩnh Phúc tăng 12,8%; Hải Phòng tăng 9,9%; Thái Nguyên tăng 8,6%; Hải Dương tăng 8,1%; Cần Thơ tăng 5,5%; Đồng Nai tăng 4,8%; Hà Nội tăng 3,6%; Quảng Nam và Bình Dương cùng tăng 3,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,7%; Quảng Ninh giảm 0,9%; Bà Rịa-Vũng Tàu giảm 3,2%.

Nhìn chung, trong năm 2017 mặc dù ngành khai khoáng giảm sâu so với năm trước nhưng sản xuất công nghiệp vẫn tăng trưởng tích cực nhờ đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng trưởng cao trong nhiều năm trở lại đây; tình hình tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, tồn kho ở mức hợp lý và an toàn. Tuy nhiên, tăng trưởng công nghiệp nước ta vẫn chủ yếu dựa vào tăng trưởng về số lượng doanh nghiệp, vốn đầu tư và lao động, trong khi năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn hạn chế.

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp

Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

 

 

 

  
      4. Hoạt động của doanh nghiệp

a. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[15]

Trong tháng Mười Hai, cả nước có 10.814 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 164,1 nghìn tỷ đồng, giảm 1% về số doanh nghiệp và tăng 49,3% về số vốn đăng ký so với tháng trước[16]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 15,2 tỷ đồng, tăng 50,8%; tổng số lao động đăng ký trong tháng của các doanh nghiệp thành lập mới hơn 96,3 nghìn người, tăng 8,7%.

Trong tháng, cả nước có 1.245 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 7% so với tháng trước; có 3.633 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động (bao gồm: 1.602 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 2.031 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể), giảm 31,6%; có 1.299 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 27,4%.

Tính chung cả năm 2017, cả nước có 126.859 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 1.295,9 nghìn tỷ đồng, tăng 15,2% về số doanh nghiệp và tăng 45,4% về số vốn đăng ký so với năm 2016; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,2 tỷ đồng, tăng 26,2%[17]. Nếu tính cả 1.869,3 nghìn tỷ đồng của hơn 35,2 nghìn lượt doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2017 là 3.165,2 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 26.448 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 0,9% so với năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm lên 153,3 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2017 là 1.161,3 nghìn người, giảm 8,4% so với năm 2016.

Theo lĩnh vực hoạt động, trong năm 2017 có 45,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bán lẻ (chiếm 35,8% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), tăng 16,6% so với năm trước; 16,2 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,8%), tăng 9,4%; 16 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 12,6%), tăng 10,6%; 9,4 nghìn doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 7,4%), tăng 11,4%; 6,7 nghìn doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 5,3%), tăng 21,7%; 6,3 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5%), tăng 19,5%; 5,1 nghìn doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (chiếm 4%), tăng 62%; 3,4 nghìn doanh nghiệp giáo dục và đào tạo (chiếm 2,7%), tăng 23%...

Số doanh nghiệp thành lập mới trong năm nay tại các vùng đều tăng so với năm trước. Trong đó: Vùng Đông Nam Bộ có 53,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 14% (vốn đăng ký 680,6 nghìn tỷ đồng, tăng 84,2%); Đồng bằng sông Hồng 38,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 13,8% (vốn đăng ký 306,3 nghìn tỷ đồng, giảm 2,8%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 17,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 18,4% (vốn đăng ký 160,3 nghìn tỷ đồng, tăng 74,6%); Đồng bằng sông Cửu Long 9 nghìn doanh nghiệp, tăng 14% (vốn đăng ký 70,6 nghìn tỷ đồng, tăng 27,1%); Trung du và miền núi phía Bắc 5,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 26,4% (vốn đăng ký 54 nghìn tỷ đồng, tăng 29,8%); Tây Nguyên 3,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 23% (vốn đăng ký 24,1 nghìn tỷ đồng, tăng 36,9%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong năm 2017 là 60.553 doanh nghiệp, giảm 0,2% so với năm trước, bao gồm 21.684 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 8,9% và 38.869 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, giảm 4,6%. Trong tổng số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, có 9.234 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 42,6%); 6.882 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 31,7%); 3.665 công ty cổ phần (chiếm 16,9%); 1.900 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 8,8%) và 3 công ty hợp danh. Theo lĩnh vực hoạt động, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong ngành bán buôn, bán lẻ là 8,6 nghìn doanh nghiệp (chiếm  39,7%), tăng 7,1% so với năm trước; 3,2 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 14,6%), tăng 11,1%; 2,8 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,8%), tăng 7,3%; 1,2 nghìn doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 5,5%), tăng 5,8%.... Đối với doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, có 17.300 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 44,5%); 11.377 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 29,3%); 7.485 công ty cổ phần (chiếm 19,2%); 2.706 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 7%) và 1 công ty hợp danh.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong năm 2017 là 12.113 doanh nghiệp, giảm 2,9% so với năm trước, trong đó 11.087 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,5%. Nếu phân theo loại hình doanh nghiệp, trong tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, có 5.242 công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (chiếm 43,3%); 3.459 công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên (chiếm 28,6%); 1.806 doanh nghiệp tư nhân (chiếm 14,9%); 1.603 công ty cổ phần (chiếm 13,2%) và 3 công ty hợp danh.

 b. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý IV/2017 cho thấy: Có 44,8% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý IV năm nay tốt hơn quý III; 18,7% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 36,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý I/2018 so với quý IV năm nay, có 48,2% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 16,1% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 35,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV, có 61,1% số doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 45,1% số doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 32,7% số doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn về tài chính; 31,5% số doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu; 27,9% số doanh nghiệp cho rằng lãi suất cao và 22,2% số doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh cao của hàng nhập khẩu là yếu tố quan trọng.

Về khối lượng sản xuất, có 46,2% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất quý IV năm nay tăng so với quý trước; 18,4% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 35,4% số doanh nghiệp cho rằng ổn định. Về xu hướng quý I/2018 so với quý IV năm nay, có 49,2% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 14,9% số doanh nghiệp dự báo giảm và 35,9% số doanh nghiệp dự báo ổn định.

Về đơn đặt hàng, có 39,3% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý IV năm nay cao hơn quý trước; 18,3% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 42,4% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng ổn định. Xu hướng quý I/2018 khả quan hơn so với quý IV/2017 với 43,6% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng lên; 14,9% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 41,5% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.

Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý IV năm nay so với quý trước, có 32,3% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu cao hơn; 16,8% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu giảm và 50,9% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu ổn định. Xu hướng quý I/2018 so với quý IV/2017, có 35,8% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu; 14% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 50,2% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.

 

  

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới theo lĩnh vực hoạt động

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động theo lĩnh vực hoạt động

 

 

    

 

 

5. Hoạt động dịch vụ     

a. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Hai ước tính đạt 352,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 12% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 258,9 nghìn tỷ đồng, tăng 1,5% và tăng 11,8%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 47,9 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% và tăng 14,6%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,6 nghìn tỷ đồng, tăng 9,3% và tăng 8%; doanh thu dịch vụ khác đạt 42 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% và tăng 10,6%.

Tính chung cả năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 3.934,2 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với năm trước (Năm 2016 tăng 10,1%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,46%, cao hơn mức tăng 8,33% của năm trước.

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2017 ước tính đạt 2.937,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 74,7% tổng mức và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu bán lẻ ô tô tăng 14%; đá quý, kim loại quý tăng 13,2%; hàng gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,8%; lương thực, thực phẩm tăng 11,1%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 10,2%; may mặc tăng 9,6%; phương tiện đi lại tăng 8,6%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 8,5%. Một số địa phương có mức tăng khá: Thanh Hóa tăng 13,7%; Tiền Giang tăng 13,3%; Hà Giang tăng 12,8%; Hải Phòng tăng 12,5%; Hà Nội tăng 11,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 10,1%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống năm 2017 ước tính đạt 494,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,6% tổng mức và tăng 11,9% so với năm 2016. Một số địa phương doanh thu tăng khá: Nghệ An tăng 22,7%; Hải Phòng tăng 18,3%; Khánh Hòa tăng 16,5%; Lâm Đồng tăng 14,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 10,3%; Hà Nội tăng 8,2%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng khá do lượng khách quốc tế và du lịch trong nước năm nay tăng mạnh, đồng thời hoạt động ăn uống ngoài gia đình không còn bị ảnh hưởng của sự cố môi trường biển tại các tỉnh miền Trung năm 2016.

Doanh thu du lịch lữ hành năm nay ước tính đạt 35,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 10,4% so với năm trước. Nhu cầu du lịch trong và ngoài nước cùng với lượng khách quốc tế đến nước ta tăng mạnh đã góp phần tăng thu cho hoạt động du lịch lữ hành. Một số địa phương có doanh thu tăng khá: Khánh Hòa tăng 23,8%; Bình Dương tăng 22,6%; Quảng Ninh tăng 17,7%; Hà Nội tăng 9,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 9,5%.

Doanh thu dịch vụ khác năm 2017 ước tính đạt 466,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,8% tổng mức và tăng 9,7% so với năm 2016, trong đó biến động doanh thu của một số địa phương như sau: Thanh Hóa tăng 17,6%; Bến Tre tăng 12,3%; Phú Yên tăng 10,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 10,9%; Hà Nội tăng 5,2%; Ninh Bình giảm 18,5%.

 
 
b. Vận tải và viễn thông

Vận tải hành khách tháng Mười Hai ước tính đạt 364,4 triệu lượt khách, tăng 2,6% so với tháng trước và 16,8 tỷ lượt khách.km, tăng 5,1%. Tính chung cả năm 2017, vận tải hành khách đạt 4.081,6 triệu lượt khách, tăng 11,1% so với năm trước và 182,8 tỷ lượt khách.km, tăng 9,1%, trong đó vận tải hành khách đường bộ đạt 3.846,1 triệu lượt khách, tăng 11,5% và 124,6 tỷ lượt khách.km, tăng 8,1%; đường thủy nội địa đạt 172,9 triệu lượt khách, tăng 3,8% và 3,2 tỷ lượt khách.km, tăng 8,4%; đường biển đạt 6,8 triệu lượt khách, tăng 12,4% và 366,2 triệu lượt khách.km, tăng 11,8%. Vận tải bằng đường hàng không tăng khá, đạt 46,4 triệu lượt khách, tăng 14,1% và 50,9 tỷ lượt khách.km, tăng 11,9% do các hãng hàng không trong nước đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa. Vận tải đường sắt mặc dù đã cải tiến đảm bảo thời gian chạy tàu nhưng do giá vé chưa cạnh tranh được với hàng không giá rẻ và vận tải ô tô đường bộ nên cả năm 2017 chỉ đạt 9,4 triệu lượt khách, giảm 3,5% so với năm trước3,6 tỷ lượt khách.km, tăng 7,2%.

Vận tải hàng hóa tháng Mười Hai ước tính đạt 128,2 triệu tấn, tăng 2,3% so với tháng trước và 24 tỷ tấn.km, tăng 1,7%. Tính chung cả năm 2017, vận tải hàng hóa đạt 1.442,9 triệu tấn, tăng 9,8% so với năm trước và 268,9 tỷ tấn.km, tăng 6,8%, trong đó vận tải trong nước đạt 1.410 triệu tấn, tăng 10% và 136,5 tỷ tấn.km, tăng 11%; vận tải ngoài nước đạt 33 triệu tấn, tăng 0,7% và 132,4 tỷ tấn.km, tăng 2,7%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 1.117,8 triệu tấn, tăng 10,4% và 72,1 tỷ tấn.km, tăng 11,2% so với năm trước; đường thủy nội địa đạt 249,6 triệu tấn, tăng 7,5% và 53,1 tỷ tấn.km, tăng 8,2%; đường biển đạt 69,6 triệu tấn, tăng 9,4% và 139,2 tỷ tấn.km, tăng 3,9%; đường sắt đạt 5,6 triệu tấn, tăng 8,2% và 3,6 tỷ tấn.km, tăng 11,3%; đường hàng không đạt 317,8 nghìn tấn, tăng 7,1% và 821,6 triệu tấn.km, tăng 8%.

Doanh thu lĩnh vực viễn thông năm 2017 ước tính đạt 380 nghìn tỷ đồng, tăng 7,3% so với năm 2016. Tính đến cuối năm 2017, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 127,4 triệu thuê bao, giảm 2,1% so với năm trước, trong đó số thuê bao di động đạt 119,7 triệu thuê bao, giảm 1,3% do Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp tục thực hiện thanh tra đối với các nhà mạng trong việc quản lý sim rác; số thuê bao Internet băng rộng cố định ước tính đạt 10,8 triệu thuê bao, tăng 18,7% so với năm 2016.

 

 
 

c. Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười Hai ước tính đạt 1.276,4 nghìn lượt người, tăng 8,9% so với tháng trước và tăng 42,2% so với cùng kỳ năm trước. Đây là tháng có số lượng khách quốc tế đến nước ta cao nhất trong năm 2017 do trong tháng bắt đầu có các kỳ nghỉ đông, nghỉ lễ cuối năm của nhiều nước trên thế giới nên nhu cầu du lịch tăng cao, đồng thời cũng là tháng thứ 9 tính từ đầu năm có số lượng khách đạt trên 1 triệu lượt người.

Tính chung cả năm 2017, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 12,9 triệu lượt người, tăng 29,1% so với năm trước (tăng 2,9 triệu lượt khách), trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 10,9 triệu lượt người, tăng 32,1%; đến bằng đường bộ đạt 1,8 triệu lượt người, tăng 19,5%; đến bằng đường biển đạt 258,8 nghìn lượt người, giảm 9,1%.

Trong năm nay, khách đến nước ta từ châu Á đạt 9.762,7 nghìn lượt người,  tăng 34,4% so với năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng: Khách đến từ Trung Quốc đạt 4.008,3 nghìn lượt người[18], tăng 48,6%; Hàn Quốc 2.415,2 nghìn lượt người, tăng 56,4%; Nhật Bản 798,1 nghìn lượt người, tăng 7,8%; Đài Loan 616,2 nghìn lượt người, tăng 21,5%; Ma-lai-xi-a 480,5 nghìn lượt người, tăng 17,9%; Thái Lan 301,6 nghìn lượt người, tăng 13%; Xin-ga-po 277,7 nghìn lượt người, tăng 8%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 1.885,7 nghìn lượt người, tăng 16,6% so với năm 2016, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 574,2 nghìn lượt người, tăng 32,3%; Vương quốc Anh 283,5 nghìn lượt người, tăng 11,3%; Pháp 255,4 nghìn lượt người, tăng 6%; Đức 199,9 nghìn lượt người, tăng 13,6%; Hà Lan 72,3 nghìn lượt người, tăng 11,7%; Tây Ban Nha 69,5 nghìn lượt người, tăng 20%; I-ta-li-a 58 nghìn lượt người, tăng 13,2%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 817 nghìn lượt người, tăng 11,1% so với năm 2016, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 614,1 nghìn lượt người, tăng 11,1%. Khách đến từ châu Úc đạt 420,9 nghìn lượt người, tăng 14,3%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 370,4 nghìn lượt người, tăng 15,5%. Khách đến từ châu Phi đạt 35,9 nghìn lượt người, tăng 25,6% so với năm 2016.

Nhìn chung, hoạt động du lịch trong năm 2017 đạt được kết quả ấn tượng với số khách du lịch quốc tế đến nước ta đạt mức kỷ lục gần 13 triệu lượt người. Ngành du lịch đã có nhiều chính sách, biện pháp nhằm thu hút khách du lịch, tăng cường xúc tiến quảng bá, giới thiệu du lịch Việt Nam tại những thị trường trọng điểm như Ôx-trây-li-a, Nhật Bản, các nước châu Âu, ASEAN (Thái Lan, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a). Tiếp tục miễn thị thực cho công dân 5 nước Tây Âu[19]; tham gia các hội chợ du lịch quốc tế, tổ chức đón các đoàn đến khảo sát du lịch Việt Nam.

 

Khách quốc tế đến Việt Nam

 

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT

1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/12/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,19% so với cuối năm 2016 (cùng kỳ năm trước tăng 16,47%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 14,5% (cùng kỳ năm 2016 tăng 16,88%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 16,96%. Mặc dù có sự chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động vốn nhưng thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn ở mức ổn định.

Lãi suất huy động trong năm tương đối ổn định. Lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,8%-1%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,3%-5,4%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,3%-6,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ở mức 6,5%-7,3%/năm. Mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến của các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6%-6,5%/năm đối với ngắn hạn, 9%-10%/năm đối với trung và dài hạn. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8%-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3%-11%/năm đối với trung và dài hạn. Nhìn chung, cơ cấu tín dụng tiếp tục theo hướng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh được ưu tiên, các dự án lớn trọng tâm, trọng điểm theo chủ trương của Chính phủ nhằm hỗ trợ có hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.

Thị trường bảo hiểm năm 2017 duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước tính đạt 105,6 nghìn tỷ đồng, tăng 21,2% so với năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 65 nghìn tỷ đồng, tăng 28,9%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 40,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,6%. Năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm tiếp tục được nâng cao, đóng góp vào nền kinh tế ngày càng tốt hơn. Tổng tài sản của các doanh nghiệp bảo hiểm ước tính đạt 302,9 nghìn tỷ đồng, tăng 23,4% so với năm 2016; các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế khoảng 247,8 nghìn tỷ đồng, tăng 26,74%. Tổng số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi bảo hiểm năm 2017 đạt 29,4 nghìn tỷ đồng, tăng 14,9% so với năm 2016.

2. Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2017 đạt khá, đặc biệt là vốn tư nhân và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2017 theo giá hiện hành ước tính đạt 1.667,4 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2016 và bằng 33,3% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 594,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,7% tổng vốn và tăng 6,7% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 676,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,5% và tăng 16,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 396,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,8% và tăng 12,8%.

Tốc độ phát triển vốn đầu tư phát triển toàn xã hội

các năm 2015-2017 so với năm trước

(Theo giá hiện hành)

                                               

                                                                                                Đơn vị tính: %

  

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Tổng số

111,9

108,9

112,1

Khu vực Nhà nước

106,8

107,3

106,7

Khu vực ngoài Nhà nước

112,8

109,5

116,8

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

119,9

110,4

112,8

 

 

Trong năm 2017, các Bộ, ngành, địa phương đã tích cực thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các công trình dự án theo tinh thần Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 3/8/2017 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công. Tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2017 ước tính đạt 290,5 nghìn tỷ đồng, bằng 94,4% kế hoạch năm và tăng 7,2% so với năm 2016, gồm có:

- Vốn trung ương quản lý đạt 64,4 nghìn tỷ đồng, bằng 91,1% kế hoạch năm và tăng 3,9% so với năm trước, trong đó vốn thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải là 30 nghìn tỷ đồng, bằng 94,9% và tăng 31%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 5.970 tỷ đồng, bằng 95,8% và giảm 17,9%; Bộ Y tế 3.760 tỷ đồng, bằng 73,2% và tăng 32,3%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 604 tỷ đồng, bằng 84,8% và giảm 71,7%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 493 tỷ đồng, bằng 82,9% và giảm 27,8%; Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch 470 tỷ đồng, bằng 80,1% và giảm 16,3%; Bộ Xây dựng 455 tỷ đồng, bằng 94,2% và giảm 50,5%; Bộ Công Thương 242 tỷ đồng, bằng 99,1% và giảm 46,9%; Bộ Thông tin và Truyền thông 96 tỷ đồng, bằng 99,5% và giảm 23,8%; Bộ Khoa học và Công nghệ 94 tỷ đồng, bằng 98,3% và giảm 63,7%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 226,1 nghìn tỷ đồng, bằng 95,4% kế hoạch năm và tăng 8,2% so với năm 2016. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 156,9 nghìn tỷ đồng, bằng 90,3% và tăng 5,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 57,8 nghìn tỷ đồng, bằng 106,7% và tăng 16,1%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 11,4 nghìn tỷ đồng, bằng 125,4% và tăng 7,2%. Một số địa phương có số vốn thực hiện lớn: Hà Nội đạt 32,8 nghìn tỷ đồng, bằng 101,4% kế hoạch năm và tăng 3,6% so với năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 25,3 nghìn tỷ đồng, bằng 74,3% và tăng 10,7%; Quảng Ninh 8.498 tỷ đồng, bằng 116,1% và tăng 9,9%; Hải Phòng 7.590 tỷ đồng, bằng 103,3% và tăng 66,7%; Bình Dương 7.152 tỷ đồng, bằng 99,9% và tăng 11,2%; Nghệ An 6.515 tỷ đồng, bằng 99,5% và tăng 14,4%.

Kết quả thực hiện vốn đầu tư những năm qua cho thấy, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP giảm từ 38,4% giai đoạn 2007-2011 xuống 31,9% giai đoạn 2012-2017, chủ yếu do giảm tỷ lệ vốn từ nguồn đầu tư công[20] (bao gồm nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch của Nhà nước). Nghiên cứu tác động của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2012-2017 cho thấy, ảnh hưởng của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế là không lớn. Nếu tỷ lệ vốn đầu tư công so với GDP tăng 1% thì GDP tăng khoảng 0,10%, trong khi đó tăng 1% tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước làm tăng 0,37% GDP; từ khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, hộ cá thể và hộ dân cư làm tăng 0,80%. Điều này cho thấy chủ trương cắt giảm đầu tư công của Chính phủ trong thời gian vừa qua là đúng đắn, giảm gánh nặng đầu tư từ ngân sách Nhà nước, giảm nợ công, tăng cường thu hút nguồn vốn từ các khu vực khác cho đầu tư phát triển.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/12/2017 thu hút 2.591 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 21,3 tỷ USD, tăng 3,5% về số dự án và tăng 42,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2016. Bên cạnh đó, có 1.188 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 8,4 tỷ USD, tăng 49,2% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong năm 2017 lên 29,7 tỷ USD, tăng 44,2% so với năm 2016. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2017 ước tính đạt 17,5 tỷ USD, tăng 10,8% so với năm 2016. Trong năm 2017 còn có 5.002 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 6,2 tỷ USD, tăng 45,1% so với năm 2016.

Trong năm nay, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 8,4 tỷ USD, chiếm 39,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 6,9 tỷ USD, chiếm 32,3%; các ngành còn lại đạt 6 tỷ USD, chiếm 28,4%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm nay đạt 14,1 tỷ USD, chiếm 47,6% tổng vốn đăng ký; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 8,4 tỷ USD, chiếm 28,2%; các ngành còn lại đạt 7,2 tỷ USD, chiếm 24,2%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 1,8 tỷ USD, chiếm 29,7% tổng giá trị góp vốn; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1,8 tỷ USD, chiếm 28,2%; các ngành còn lại đạt 2,6 tỷ USD, chiếm 42,1%.

Cả nước có 58 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong năm 2017, trong đó Thanh Hóa có số vốn đăng ký lớn nhất với 3.159,4 triệu USD, chiếm 14,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Khánh Hòa 2.584,9 triệu USD, chiếm 12,1%; thành phố Hồ Chí Minh 2.314 triệu USD, chiếm 10,9%; Nam Định 2.134,3 triệu USD, chiếm 10%; Bình Dương 1.356,5 triệu USD, chiếm 6,4%; Kiên Giang 1.342,3 triệu USD, chiếm 6,3%; Hà Nội 1.111,2 triệu USD, chiếm 5,2%.

Trong số 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong năm nay, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 7.745,8 triệu USD, chiếm 36,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 3.973,3 triệu USD, chiếm 18,7%; Xin-ga-po 3.771,8 triệu USD, chiếm 17,7%; Trung Quốc 1.409,7 triệu USD, chiếm 6,6%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 740,4 triệu USD, chiếm 3,5%; Hoa Kỳ 637,7 triệu USD, chiếm 3%.

 

 

 

 

 

 3. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2017 ước tính đạt 1.104 nghìn tỷ đồng, bằng 91,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 871,1 nghìn tỷ đồng, bằng 88%; thu từ dầu thô đạt 43,5 nghìn tỷ đồng, bằng 113,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 183,8 nghìn tỷ đồng, bằng 102,1%.

Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất đạt 104,4 nghìn tỷ đồng, bằng 163,8% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 167,5 nghìn tỷ đồng, bằng 86,1%; thuế bảo vệ môi trường 39,8 nghìn tỷ đồng, bằng 88,1%; thuế thu nhập cá nhân 73,9 nghìn tỷ đồng, bằng 91,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 153,9 nghìn tỷ đồng, bằng 76,5%. Riêng thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 196,5 nghìn tỷ đồng, chỉ bằng 68,6% dự toán năm. Để bảo đảm hoàn thành kế hoạch năm 2017, các cơ quan Thuế, Hải quan tăng cường công tác quản lý thu, thực hiện các giải pháp chống thất thu, chống buôn lậu, gian lận thương mại, chuyển giá, đồng thời quyết liệt thu hồi nợ đọng thuế, kiểm soát chặt chẽ hoàn thuế giá trị gia tăng đảm bảo đúng quy định.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2017 ước tính đạt 1.219,5 nghìn tỷ đồng, bằng 87,7% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 862,6 nghìn tỷ đồng, bằng 96,2%; chi trả nợ lãi 91 nghìn tỷ đồng, bằng 92%; riêng chi đầu tư phát triển đạt 259,5 nghìn tỷ đồng, bằng 72,6% dự toán năm (trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 254,5 nghìn tỷ đồng, bằng 72,3%). Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/12/2017 ước tính đạt 147,6 nghìn tỷ đồng, bằng 90,1% dự toán năm.

4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a. Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng Mười Một đạt 19.990 triệu USD, cao hơn 790 triệu USD so với số ước tính, trong đó giày dép cao hơn 168 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 98 triệu USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 96 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 75 triệu USD; sắt thép cao hơn 74 triệu USD; hóa chất cao hơn 37 triệu USD; gỗ và các sản phẩm từ gỗ cao hơn 35 triệu USD; cà phê cao hơn 27 triệu USD; dây điện và cáp điện cao hơn 25 triệu USD; rau quả cao hơn 22 triệu USD; cao su cao hơn 21 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 12/2017 ước tính đạt 19,30 tỷ USD, giảm 3,5% so với tháng trước (đây là tháng thứ năm liên tiếp trong năm nay xuất khẩu hàng hóa đạt kim ngạch trên 19 tỷ USD[21]), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 5,20 tỷ USD, giảm 1,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 14,10 tỷ USD, giảm 4,1%. Kim ngạch xuất khẩu giảm so với tháng trước chủ yếu do một số mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn giảm mạnh: Điện thoại và linh kiện giảm 19,5%; điện tử, máy tính và linh kiện giảm 16,2%; sắt thép giảm 11,6%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng: Dầu thô tăng 67,1%; xăng dầu tăng 44,7%; cà phê tăng 32,5%; cao su tăng 22,1%. So với tháng 12/2016, kim ngạch xuất khẩu tăng 16,6%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 6,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 20,9%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện tăng 37,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 18,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 12,3%.

Tính chung cả năm 2017, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 213,77 tỷ USD, tăng 21,1% so với năm trước, đây là mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua[22], trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 58,53 tỷ USD, tăng 16,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 155,24 tỷ USD, tăng 23%[23]. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2017 tăng 17,6% so với năm 2016. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tăng khá so với năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 45,1 tỷ USD, tăng 31,4%; dệt may đạt 25,9 tỷ USD, tăng 8,8%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 25,9 tỷ USD, tăng 36,5%; giày dép 14,6 tỷ USD, tăng 12,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 12,8 tỷ USD, tăng 26,4%; thủy sản đạt 8,4 tỷ USD, tăng 18,5%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 7,6 tỷ USD, tăng 9,2%. Xuất khẩu một số mặt hàng giảm so với năm trước: Cà phê đạt 3,2 tỷ USD, giảm 3,7% (lượng giảm 20,1%); hạt tiêu đạt 1,1 tỷ USD, giảm 21,7% (lượng tăng 20,9%) do giá xuất khẩu bình quân mặt hàng này giảm tới 21,1%.

Về cơ cấu kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm naynhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 106 tỷ USD, tăng 32,4% so với năm trước và chiếm 49,6% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 4,2 điểm phần trăm so với năm 2016); nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt 79,6 tỷ USD, tăng 11,7% và chiếm 37,2% (giảm 3,1 điểm phần trăm); nhóm hàng nông, lâm sản đạt 19,8 tỷ USD, tăng 9% và chiếm 9,3% (giảm 1 điểm phần trăm); hàng thủy sản ước tính đạt 8,4 tỷ USD, tăng 18,5% và chiếm 3,9% (giảm 0,1 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu năm 2017, Hoa Kỳ vẫn là thị trường dẫn đầu với 41,5 tỷ USD, tăng 8% so với năm 2016. Tiếp đến là EU đạt 38,3 tỷ USD, tăng 12,8%; Trung Quốc đạt 35,3 tỷ USD, tăng 60,6%; thị trường ASEAN đạt 21,7 tỷ USD, tăng 24,5%; Nhật Bản đạt 16,8 tỷ USD, tăng 14,2%; Hàn Quốc đạt 15 tỷ USD, tăng 31,1%.

b. Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng Mười Một đạt 19.394 triệu USD, cao hơn 394 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 126 triệu USD; thức ăn cho gia súc và nguyên phụ liệu cao hơn 60 triệu USD; xăng dầu cao hơn 59 triệu USD; vải cao hơn 40 triệu USD; hóa chất cao hơn 29 triệu USD; khí đốt hóa lỏng cao hơn 25 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác cao hơn 21 triệu USD; điện tử máy tính và linh kiện thấp hơn 4 triệu USD; sắt thép thấp hơn 49 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 12/2017 ước tính đạt 19,80 tỷ USD, tăng 2,1% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 8,05 tỷ USD, tăng 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,75 tỷ USD, tăng 1,2%. Kim ngạch một số mặt hàng nhập khẩu tăng cao: Tân dược tăng 26%; chất dẻo tăng 8,7%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm: Điện thoại và linh kiện giảm 1,5%; giấy các loại giảm 1,6%; thức ăn gia súc giảm 3,7%; khí đốt hóa lỏng giảm 34,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Mười Hai tăng 16,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 7,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 24%. Kim ngạch một số mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất tăng so với tháng 12/2016: Điện thoại và linh kiện tăng 70%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 39,5%; vải tăng 16,6%.

Tính chung năm 2017, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 211,1 tỷ USD, tăng 20,8% so với năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 84,7 tỷ USD, tăng 17%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 126,4 tỷ USD, tăng 23,4%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2017 tăng 17,7% so với năm 2016. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước tăng so với năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 37,5 tỷ USD, tăng 34,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 33,6 tỷ USD, tăng 17,9%; điện thoại và linh kiện đạt 16,2 tỷ USD, tăng 53,2%; vải đạt 11,4 tỷ USD, tăng 9,2%; sắt thép đạt 9,1 tỷ USD, tăng 13% (lượng giảm 17,7%); chất dẻo đạt 7,4 tỷ USD, tăng 17,5% (lượng tăng 8,7%); xăng dầu đạt 7 tỷ USD, tăng 37,7% (lượng tăng 9,2%); nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 5,5 tỷ USD, tăng 8%; kim loại thường đạt 5,4 tỷ USD, tăng 13,1% (lượng giảm 19,3%); sản phẩm chất dẻo đạt 5,4 tỷ USD, tăng 22,7%; sản phẩm hóa chất đạt 4,6 tỷ USD, tăng 19,6%; hóa chất đạt 4,1 tỷ USD, tăng 27,5%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,2 tỷ USD, tăng 16,5%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm so với năm 2016: Ô tô đạt 5,3 tỷ USD, giảm 10,5% (ô tô nguyên chiếc đạt 2,2 tỷ USD, giảm 9,6%); thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 3,2 tỷ USD, giảm 6,3%; phương tiện vận tải khác và phụ tùng đạt 830 triệu USD, giảm 40,3%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu năm 2017, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 192,9 tỷ USD, tăng 21,1% so với năm 2016 và chiếm 91,4% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (tăng 0,2 điểm phần trăm so với năm 2016), trong đó nhóm máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đạt 91,2 tỷ USD, tăng 24,9% và chiếm 43,2% (tăng 1,4 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu đạt 101,7 tỷ USD, tăng 17,8% và chiếm 48,2% (giảm 1,2 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng đạt 18,2 tỷ USD, tăng 17,4% và chiếm 8,6% (giảm 0,2 điểm phần trăm).

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu năm 2017, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nước ta với kim ngạch đạt 58,5 tỷ USD, tăng 16,9% so với năm 2016; tiếp đến là Hàn Quốc đạt 46,8 tỷ USD, tăng 45,5%; ASEAN đạt 28 tỷ USD, tăng 16,4%; Nhật Bản đạt 16,5 tỷ USD, tăng 9,7%; EU đạt 12 tỷ USD, tăng 7,7%; Hoa Kỳ đạt 9,1 tỷ USD, tăng 4,9%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Mười Một xuất siêu 596 triệu USD [24]. Tháng Mười Hai ước tính nhập siêu 500 triệu USD, tính chung cả năm 2017 xuất siêu 2,7 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 26,1 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 28,8 tỷ USD. Năm 2017, Hàn Quốc trở thành thị trường nhập siêu lớn nhất của nước ta với 31,8 tỷ USD, tăng 53,4% so với năm 2016 chủ yếu do trong năm Tập đoàn SamSung mở rộng đầu tư sản xuất tại Việt Nam nên nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị và linh kiện phục vụ gia công lắp ráp tăng cao; Trung Quốc ở vị trí thứ hai với mức nhập siêu 23,2 tỷ USD, giảm 17,4%; nhập siêu từ ASEAN là 6,3 tỷ USD, giảm 6%. Hai thị trường vẫn giữ được mức xuất siêu là Hoa Kỳ với 32,4 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2016; EU là 26,3 tỷ USD, tăng 15%. Năm 2017 cũng ghi nhận một kỷ lục mới của xuất nhập khẩu Việt Nam khi tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu vượt mốc 400 tỷ USD.

c. Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2017 ước tính đạt 13,1 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2016, trong đó xuất khẩu dịch vụ du lịch đạt 8,9 tỷ USD, chiếm 67,6% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 7,4%; dịch vụ vận tải 2,6 tỷ USD, chiếm 19,7% và tăng 5,7%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2017 ước tính đạt 17 tỷ USD, tăng 1,6% so với năm trước, trong đó nhập khẩu dịch vụ vận tải đạt 8,2 tỷ USD, chiếm 47,9% tổng kim ngạch nhập khẩu và giảm 2,8%; dịch vụ du lịch đạt 5,1 tỷ USD, chiếm 29,8% và tăng 12,7%. Nhập siêu dịch vụ năm 2017 là 3,9 tỷ USD, bằng 29,9% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

 

 

 

5. Chỉ số giá

a. Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2017 tăng 0,21% so với tháng trước, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 2,55% (dịch vụ y tế tăng 3,30%) do trong tháng có 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế (tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,13%). Nhóm giao thông tăng 0,84%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,43% do nhu cầu mua sắm hàng mùa đông tăng lên; đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,22% do giá gas, giá dầu hỏa và giá điện, nước sinh hoạt được điều chỉnh tăng, cùng với nhu cầu sửa chữa nhà ở tăng cao trong những tháng cuối năm. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,23%, trong đó lương thực tăng 0,56%, thực phẩm giảm 0,5%; bưu chính viễn thông giảm 0,03%. Riêng nhóm giáo dục giá không đổi so với tháng trước.

CPI bình quân năm 2017 tăng 3,53% so với bình quân năm 2016, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra. CPI tháng 12/2017 tăng 2,6% so với tháng 12/2016, bình quân mỗi tháng tăng 0,21%. CPI bình quân năm 2017 tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau:

- Các địa phương điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dịch vụ khám chữa bệnh theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC và Thông tư số 02/2017/TT-BYT. Tính đến ngày 20/12/2017 đã có 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với người không có thẻ bảo hiểm y tế[25] làm cho CPI tháng Mười Hai tăng khoảng 1,35% so với tháng 12/2016; CPI bình quân năm 2017 tăng 2,04% so với năm 2016.

- Thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP làm chỉ số giá nhóm giáo dục tháng 12/2017 tăng 7,29% so với tháng 12/2016, tác động làm CPI tháng 12/2017 tăng 0,41% so với cuối năm 2016, CPI bình quân năm 2017 tăng khoảng 0,5% so với năm 2016.

- Việc tăng lương tối thiếu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp từ ngày 1/1/2017 và mức lương cơ sở áp dụng cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang từ ngày 1/7/2017 làm giá bình quân một số loại dịch vụ như sửa chữa đồ dùng gia đình, bảo dưỡng nhà ở, dịch vụ điện, nước, dịch vụ thuê người giúp việc gia đình năm 2017 tăng từ 3%-8% so với năm 2016.

- Ngoài ra còn một số yếu tố về thị trường, nhu cầu du lịch tăng, một số địa phương bị ảnh hưởng thiên tai, thời tiết bất lợi cũng làm CPI năm nay tăng so với năm 2016.

Bên cạnh đó, có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI năm 2017, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm bình quân năm giảm 2,6% so với năm 2016 (chủ yếu giảm ở nhóm thịt tươi sống); các cấp, các ngành tích cực triển khai các biện pháp bình ổn giá cả thị trường trong dịp Tết Nguyên Đán; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, tổ chức các đoàn công tác liên ngành kiểm tra tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địa phương. Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Lạm phát cơ bản tháng 12/2017 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2017 tăng 1,41% so với bình quân năm 2016.

b. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 12/2017giảm 0,12% so với tháng trước; tăng 4,74% so với cùng kỳ năm 2016; bình quân năm 2017 tăng 3,71% so với năm 2016. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 12/2017 tăng 0,02% so với tháng trước và giảm 0,05% so với cùng kỳ năm 2016; bình quân năm 2017 tăng 1,40% so với năm 2016.

c. Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý IV tăng 2,14% so với quý trước và giảm 1,17% so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung năm 2017, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,24% so với năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất nông nghiệp giảm 1,85%; lâm nghiệp tăng 4,19%; thủy sản tăng 6,37%.

Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý IV tăng 1,48% so với quý trước và tăng 3,47% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2017, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 2,82% so với năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 10,12%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,14%; điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,23%; nước sạch, nước thải, xử lý nước thải, rác thải tăng 1,42%.

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý IV tăng 0,95% so với quý III và tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2017, chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 1,14% so với năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 1,57%; sử dụng cho sản xuất công nghiệp tăng 0,66%; sử dụng cho xây dựng tăng 5,61%.

Chỉ số giá cước vận tải quý IV năm nay giảm 0,51% so với quý trước và tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2017, chỉ số giá cước vận tải, kho bãi tăng 2,15% so với năm 2016, trong đó giá cước vận tải đường sắt giảm 6,13%; giá cước vận tải đường bộ và xe buýt tăng 0,64%; đường thủy tăng 0,56%; giá cước vận tải đường hàng không tăng 5,48%; dịch vụ kho bãi và các dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 1,80%.

Chỉ số giá dịch vụ quý IV tăng 0,36% so với quý trước và tăng 3,24% so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung năm 2017, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 3,63% so với năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: ngành y tế và trợ giúp xã hội tăng 27,20%; giáo dục và đào tạo tăng 6,89%; nghệ thuật vui chơi và giải trí tăng 2,94%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 2,77%.

d. Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

Chỉ số giá xuất khẩu quý IV tăng 0,80% so với quý trước và tăng 0,36% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2017, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 2,93% so với năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 5,83%; nhóm nhiên liệu tăng 23,76%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo tăng 1,04%. Chỉ số giá xuất khẩu năm 2017 của một số mặt hàng như sau: Cao su tăng 32,7%; dầu thô tăng 26,31%; xăng dầu tăng 25,74%; cà phê tăng 20,42%; sắt, thép tăng 5,86%; điện thoại và thiết bị di động tăng 5,31%; hạt tiêu giảm 20,53%.

Chỉ số giá nhập khẩu quý IV tăng 0,51% so với quý trước và tăng 1,87% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm 2017, chỉ số giá nhập khẩu tăng 2,57% so với năm 2016, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 1,55%; nhóm nhiên liệu tăng 17,70%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo tăng 1,29%. Chỉ số giá nhập khẩu năm 2017 của một số mặt hàng như sau: Cao su nguyên liệu tăng 27,27%; xăng dầu tăng 19,90%; khí đốt hóa lỏng tăng 17,60%; kim loại thường khác tăng 12,33%; sắt, thép tăng 10,31%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 2,60%; gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 0,54%.

Tỷ giá thương mại hàng hóa[26] quý IV tăng 0,29% so với quý trước và giảm 1,49% so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung năm 2017, tgiá thương mại hàng hóa  tăng 0,35% so với năm trước, trong đó tỷ giá thương mại hàng hóa của hàng điện thoại và linh kiện tăng 14,25%; xăng dầu tăng 4,87%; hóa chất giảm 4,13%; sắt, thép giảm 4,03%.

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ và lạm phát cơ bản tháng 12 năm 2017

Chỉ số giá sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý IV và năm 2017

Chỉ số giá sản xuất hàng công nghiệp quý IV và năm 2017

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất quý IV và năm 2017

Chỉ số giá cước vận tải, kho bãi quý IV và năm 2017

Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý IV và năm 2017

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý IV và năm 2017

Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa quý IV và năm 2017

Tỷ giá thương mại hàng hóa quý IV và năm 2017

 

 III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2017 của cả nước ước tính 93,7 triệu người, tăng 987,3 nghìn người, tương đương tăng 1,07% so với năm 2016, bao gồm dân số thành thị 32,9 triệu người, chiếm 35,1%; dân số nông thôn 60,8 triệu người, chiếm 64,9%; dân số nam 46,2 triệu người, chiếm 49,3%; dân số nữ 47,5 triệu người, chiếm 50,7%.

Theo kết quả Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2017, tổng tỷ suất sinh năm nay ước tính đạt 2,04 con/phụ nữ dưới mức sinh thay thế. Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh là 112,4 bé trai/100 bé gái; tỷ suất sinh thô là 14,71‰; tỷ suất chết thô là 6,84‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (số trẻ em dưới 1 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 14,35‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi (số trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 21,55‰. Tỷ suất chết ở mức thấp thể hiện rõ hiệu quả của chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em nói riêng và công tác bảo vệ sức khỏe, nâng cao mức sống cho người dân nói chung trong thời gian qua. Tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2017 là 73,5 năm, trong đó nam là 70,9 năm và nữ là 76,2 năm.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2017 ước tính là 54,8 triệu người, tăng 394,9 nghìn người so với năm 2016, bao gồm: Lao động nam 28,4 triệu người, chiếm 51,9%; lao động nữ 26,4 triệu người, chiếm 48,1%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 17,6 triệu người, chiếm 32,2%; khu vực nông thôn là 37,2 triệu người, chiếm 67,8%.

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của cả nước năm 2017 ước tính 48,2 triệu người, tăng 511 nghìn người so với năm trước, trong đó lao động nam 26,1 triệu người, chiếm 54,1%; lao động nữ 22,1 triệu người, chiếm 45,9%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị là 16,1 triệu người, chiếm 33,4%; khu vực nông thôn là 32,1 triệu người, chiếm 66,6%.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2017 ước tính 53,7 triệu người, tăng 416,1 nghìn người so với năm 2016. Trong tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2017, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 40,3% (Năm 2016 là 41,9%); khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 25,7% (Năm 2016 là 24,7%); khu vực dịch vụ chiếm 34,0% (Năm 2016 là 33,4%). Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2017 khu vực thành thị chiếm 31,9% (Năm 2016 là 31,7%); khu vực nông thôn chiếm 68,1% (Năm 2016 là 68,3%). Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo năm 2017 ước tính đạt 21,5%, cao hơn mức 20,6% của năm trước.

Số người có việc làm trong quý I năm nay ước tính là 53,4 triệu người, tăng 74,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; quý II là 53,4 triệu người, tăng 164,3 nghìn người; quý III là 53,8 triệu người, tăng 496,9 nghìn người; quý IV là 54,1 triệu người, tăng 671,8 nghìn người.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2017 là 2,24% (Năm 2016 là 2,30%; năm 2015 là 2,33%), trong đó khu vực thành thị là 3,18% (Năm 2016 là 3,23%; năm 2015 là 3,37%); khu vực nông thôn là 1,78% (Năm 2016 là 1,84%; năm 2015 là 1,82%). Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) năm 2017 là 7,51%, trong đó khu vực thành thị là 11,75%; khu vực nông thôn là 5,87%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2017 là 1,63%, thấp hơn mức 1,66% của năm 20161,89% của năm 2015, trong đó khu vực thành thị là 0,85% (Năm 2016 là 0,73%; năm 20150,84%); khu vực nông thôn là 2,07% (Năm 2016 là 2,12%; năm 2015 là 2,39%).

 Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp[27] năm 2017 ước tính là 57% (Năm 2016 là 57,2%; năm 2015 là 58,3%), trong đó khu vực thành thị là 48,5%; khu vực nông thôn là 64,4%.

 

Một số chỉ tiêu dân số và lao động

Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế

Tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động

Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên (15-24 tuổi)

 
 
  2. Năng suất lao động

Năng suất lao động toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2017 ước tính đạt 93,2 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 4.159 USD/lao động). Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2017 tăng 6% so với năm 2016, bình quân giai đoạn 2011-2017 tăng 4,7%/năm.

Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua tuy có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm[28] và là quốc gia có tốc độ tăng NSLĐ cao trong khu vực ASEAN[29] nhưng mức NSLĐ của Việt Nam hiện nay vẫn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực. Tính theo sức mua tương đương năm 2011, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7,0% của Xin-ga-po; 17,6% của Ma-lai-xi-a; 36,5% của Thái Lan; 42,3% của In-đô-nê-xi-a; 56,7% của Phi-li-pin và bằng 87,4% NSLĐ của Lào. Đáng chú ý là chênh lệch về NSLĐ giữa Việt Nam với các nước vẫn tiếp tục gia tăng[30].

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến năng suất lao động của Việt Nam thấp và còn khoảng cách xa so với các nước trong khu vực ASEAN như: Cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch, lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, trong khi năng suất lao động ngành nông nghiệp ở nước ta còn thấp; máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ còn lạc hậu; chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng lao động chưa đáp ứng yêu cầu. Ngoài ra, một số yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua như: Xuất phát điểm của nền kinh tế thấp; trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn nhiều bất cập; tăng trưởng chủ yếu dựa vào đóng góp của yếu tố vốn và lao động, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp; còn một số “điểm nghẽn” về cải cách thể chế và thủ tục hành chính.

3. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư năm nay nhìn chung ổn định. Năm 2017, cả nước có 181,4 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 31,7% so với năm trước, tương ứng với 746,1 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 32,1%. Thiếu đói năm nay giảm so với năm trước là kết quả chỉ đạo điều hành tích cực của Đảng, Nhà nước và cố gắng của người dân trong sản xuất như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; mở rộng và xây mới các khu công nghiệp, nhà máy, công trình, phát triển làng nghề để tạo thêm công ăn việc làm... Thiếu đói tập trung chủ yếu vào các tháng đầu năm, trong đó tháng Một43,6 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 179,3 nghìn nhân khẩu thiếu đói, tháng Năm có 45,8 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 187,2 nghìn nhân khẩu thiếu đói; từ tháng Sáu cho đến cuối năm, thiếu đói trong nông dân có xu hướng giảm dần. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 22,8 nghìn tấn lương thực và hơn 1,1 tỷ đồng. Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020[31], tỷ lệ hộ nghèo năm 2017 ước tính 8%.

Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong năm 20175.832 tỷ đồng, bao gồm 3.370 tỷ đồng quà thăm hỏi và hỗ trợ các đối tượng chính sách; 1.759 tỷ đồng hỗ trợ các hộ nghèo và 703 tỷ đồng cứu đói, cứu trợ xã hội khác. Bên cạnh đó, đã có gần 17 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

4. Giáo dục, đào tạo

Tính đến nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức 1 được quy định tại Thông tư 36 của Bộ Giáo dục, trong đó có 12 địa phương được công nhận chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2.

Năm học 2017-2018, cả nước có gần 23 triệu học sinh, sinh viên; trong đó gần 5,2 triệu trẻ em bậc mầm non (0,7 triệu trẻ em đi nhà trẻ và 4,5 triệu trẻ em đi học mẫu giáo); 7,8 triệu học sinh tiểu học; 5,5 triệu học sinh trung học cơ sở; 2,4 triệu học sinh trung học phổ thông và 1,8 triệu sinh viên cao đẳng, đại học.

Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng đa dạng về loại hình đào tạo và mô hình hoạt động. Hiện nay, cả nước có 1.974 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bao gồm 388 trường cao đẳng, 551 trường trung cấp và 1.035 trung tâm giáo dục thường xuyên. Đào tạo nghề tính đến cuối năm nay đã tuyển mới được 2.090 nghìn người, trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp tuyển sinh được 540 nghìn người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng tuyển sinh được 1.550 nghìn người. Bên cạnh đó, trong năm 2017 đã có khoảng 600 nghìn lao động nông thôn và 19 nghìn người khuyết tật được hỗ trợ đào tạo nghề theo Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông chuyển sang học nghề hiện nay còn chiếm tỷ lệ thấp. Năm 2017, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào đại học, cao đẳng là 50%; vào cao đẳng nghề và trung cấp chuyên nghiệp là 23%; học nghề tại trung tâm đào tạo nghề là 13%.

5. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

 Trong tháng 12/2017, cả nước có 12,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 7,8 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 42 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 40 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (3 trường hợp tử vong); 2 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 5 trường hợp mắc bệnh ho gà; 7 trường hợp nhiễm liên cầu lợn ở người (1 trường hợp tử vong); 4 trường hợp mắc viêm não Nhật Bản (1 trường hợp tử vong). Tính chung năm 2017, cả nước có 175,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (38 trường hợp tử vong); gần 102,7 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 630 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 720 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (26 trường hợp tử vong); 53 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (3 trường hợp tử vong); 653 trường hợp mắc bệnh ho gà (5 trường hợp tử vong); 204 trường hợp nhiễm liên cầu lợn ở người (17 trường hợp tử vong); 327 trường hợp mắc viêm não Nhật Bản (16 trường hợp tử vong); 39 trường hợp nhiễm vi rút Zika; 19 trường hợp mắc bệnh bạch hầu (5 trường hợp tử vong); 62 trường hợp tử vong do bệnh dại.

Tính đến thời điểm 17/12/2017, tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống là 209,4 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 90,1 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 94,6 nghìn người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng đã xảy ra 9 vụ với 205 người bị ngộ độc. Tính chung năm 2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 111 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 3.374 người bị ngộ độc, trong đó 22 trường hợp tử vong.

6. Hoạt động văn hóa và thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa năm 2017 tập trung chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước với nhiều hình thức, bảo đảm thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm, tạo không khí phấn khởi trong nhân dân. Trong năm diễn ra nhiều hoạt động nổi bật, như Tuần lễ Cấp cao APEC 2017 tại Đà Nẵng, Festival Di sản Quảng Nam lần thứ VI; Triển lãm Telefilm 2017 tại thành phố Hồ Chí Minh; Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ II tại Bình Dương; Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng. Năm 2017 nghệ thuật Bài Chòi được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể nhân loại; hát Xoan Phú Thọ đã chính thức được UNESCO đưa ra khỏi Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp và ghi danh tại Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tính đến thời điểm này, Việt Nam có 12 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại được UNESCO công nhận. Các hoạt động Lễ hội trong năm được diễn ra trang trọng, an toàn, tiết kiệm; lễ hội có tập tục mang yếu tố bạo lực, không phù hợp với xu thế được chuyển đổi hình thức thực hành nghi lễ.

Hoạt động thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục đẩy mạnh gắn với triển khai thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Ngành thể thao đã tập trung đào tạo, tập huấn lực lượng, thi đấu giành thành tích xuất sắc trên các đấu trường thể thao quốc tế.

Trong thể thao thành tích cao, năm 2017 Việt Nam đạt nhiều kết quả nổi bật. Tính đến 30/11/2017, thể thao Việt Nam đã giành được 1.045 huy chương trong các giải đấu quốc tế, trong đó 425 huy chương vàng, 301 huy chương bạc, 319 huy chương đồng. Tại SEA Games 29, Đoàn Thể thao Việt Nam thi đấu xuất sắc giành 168 huy chương các loại (58 huy chương vàng, 50 huy chương bạc và 60 huy chương đồng), xếp thứ 3/11 quốc gia tham dự.

7. Tai nạn giao thông

Trong tháng Mười Hai (từ 16/11 đến 15/12), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.563 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 765 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 798 vụ va chạm giao thông, làm 699 người chết; 401 người bị thương và 873 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng 12/2017 giảm 7,8% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 8,2% và số vụ va chạm giao thông giảm 7,5%); số người chết giảm 3,1%; số người bị thương tăng 85,6% và số người bị thương nhẹ giảm 8,6%.

Tính chung năm 2017, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 20.280 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 9.770 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 10.310 vụ va chạm giao thông, làm 8.279 người chết; 5.587 người bị thương và 11.453 người bị thương nhẹ. So với năm trước, số vụ tai nạn giao thông năm nay giảm 7% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 5,6%; số vụ va chạm giao thông giảm 8,3%); số người chết giảm 4,7%; số người bị thương giảm 9,6% và số người bị thương nhẹ giảm 12,6%. Như vậy, vấn đề an toàn giao thông đã có những chuyển biến tích cực, giảm trên cả ba tiêu chí số vụ, số người chết và số người bị thương. Trong tổng số 9.770 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên, có 9.488 vụ (chiếm 97,1%) xảy ra trên đường bộ, làm 8.089 người chết và 5.517 người bị thương; tai nạn giao thông đường sắt có 164 vụ, làm 133 người chết và 50 người bị thương; tai nạn giao thông đường thủy và hàng hải có 118 vụ, làm 57 người chết và 20 người bị thương. Bình quân 1 ngày trong năm 2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 55 vụ tai nạn giao thông, gồm 27 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 28 vụ va chạm giao thông, làm 23 người chết, 15 người bị thương và 32 người bị thương nhẹ.

8. Thiệt hại do thiên tai 

Do chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai ở nước ta trong những năm vừa qua diễn ra ngày càng phức tạp, bão, lũ, lốc xoáy, mưa lớn, ngập lụt, hạn hán đang gia tăng về cường độ, tần suất, gây tổn thất lớn về người và tài sản. Năm 2017 được đánh giá là năm của mưa, bão, lũ, thiên tai diễn ra ở hầu hết các miền trên cả nước, trong 6 tháng cuối năm đã xuất hiện liên tục tới 16 cơn bão và 7 áp thấp nhiệt đới trên biển đông. Trong đó, cơn bão số 10 và 12 đổ bộ trực tiếp vào các tỉnh miền Trung là hai cơn bão mạnh nhất trong vòng 30 năm trở lại đây. Riêng cơn bão số 12 đã làm 123 người chết và mất tích, 342 người bị thương, giá trị tài sản thiệt hại lên tới 22,6 nghìn tỷ đồng. Mưa đá, lốc xoáy liên tục trong những tháng đầu năm, mưa lớn kéo dài trong những tháng cuối năm gây ngập lụt ở nhiều địa phương. Mưa lớn trái mùa xảy ra vào giữa tháng 10 khiến các hồ chứa phải xả lũ khẩn cấp, gây lũ quét, sạt lở đất nghiêm trọng. Riêng đợt mưa lũ từ 10-14/10/2017 tại các tỉnh Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ đã làm chết và mất tích hơn 100 người, bị thương 42 người, thiệt hại về tài sản 13 nghìn tỷ đồng.

Tính chung cả năm 2017, thiên tai làm 389 người chết, mất tích và 668 người bị thương, trong đó Yên Bái 53 người chết, mất tích và 32 người bị thương; Khánh Hòa 47 người chết, mất tích và 229 người bị thương. Diện tích lúa bị ngập, bị hư hỏng gần 234 nghìn ha, Nam Định và Thái Bình là hai địa phương có diện tích lúa bị ngập và hư hỏng nhiều nhất, tương ứng với 65,7 nghìn ha và 48 nghìn ha; diện tích hoa màu bị ngập, bị hư hỏng hơn 130,6 nghìn ha. Số nhà sập đổ, cuốn trôi là 8.312, gấp hơn 1,5 lần so với năm 2016 và 588,1 nghìn nhà sạt lở, tốc mái, ngập nước, gấp 1,6 lần. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai năm 2017 ước tính 60 nghìn tỷ đồng, gấp 1,5 lần so với năm 2016, trong đó Khánh Hòa là địa phương chịu thiệt hại nhiều nhất với 14,7 nghìn tỷ đồng, Quảng Bình gần 8 nghìn tỷ đồng; Hà Tĩnh 7,5 nghìn tỷ đồng.

Để chủ động ứng phó với các tình huống thiên tai, lãnh đạo Trung ương địa phương đã triển khai kịp thời, hiệu quả các biện pháp ứng phó thiên tai, thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ” không để bị động, bất ngờ. Trước các đợt thiên tai lớn, Thủ tướng Chính phủ đã có công điện khẩn gửi các bộ, ngành các cấp, địa phương yêu cầu theo dõi sát diễn biến tình hình thiên tai để có các biện pháp kịp thời phòng chống lũ, sạt lở, hộ đê và cứu hộ đê khi cần thiết, đồng thời đã huy động cả bộ máy chính trị vào cuộc, phân công các đồng chí cấp ủy phụ trách các địa phương để chỉ đạo kịp thời, góp phần giảm thiểu thiệt hại. Đến cuối tháng 11, các lực lượng chức năng đã chuyển đến những khu vực bị ảnh hưởng 607,1 nghìn liều vaccine, 85 nghìn lít và 240 tấn hóa chất khử trùng. Chính phủ đã cấp hỗ trợ các địa phương 696 tấn lúa giống, 205 tấn ngô giống, 7 tấn rau giống. Ngoài ra, Chính phủ hỗ trợ 1.000 tỷ đồng cho 10 địa phương khắc phục thiệt hại bão lũ. Tính chung năm 2017, Chính phủ đã hỗ trợ hơn 14,6 nghìn tấn gạo cho các địa phương để khắc phục hậu quả thiên tai.

9. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong tháng 12/2017, cơ quan chức năng đã phát hiện 807 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường, trong đó xử lý 622 vụ với tổng số tiền phạt 16,3 tỷ đồng. Tính chung năm 2017 đã phát hiện 16.742 vụ vi phạm quy định về bảo đảm vệ sinh môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 13.943 vụ với tổng số tiền phạt hơn 211 tỷ đồng. Các địa phương có số vụ vi phạm môi trường bị phát hiện nhiều nhất là Hà Nội với 7.961 vụ và Trà Vinh 1.130 vụ.

Trong tháng Mười Hai, cả nước xảy ra 287 vụ cháy, nổ, làm 9 người chết và 20 người bị thương, thiệt hại ước tính 52,3 tỷ đồng. Tính chung năm 2017, trên địa bàn cả nước xảy ra 4.114 vụ cháy, nổ, làm 119 người chết và 270 người bị thương, thiệt hại ước tính khoảng 2 nghìn tỷ đồng.

Khái quát lại, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng với nỗ lực của cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp, sự chỉ đạo, điều hành hiệu quả, kịp thời của Chính phủ, kinh tế - xã hội nước ta năm 2017 tiếp tục chuyển biến tích cực, đạt nhiều kết quả quan trọng. Kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát dưới mục tiêu Quốc hội đặt ra; tăng trưởng vượt mục tiêu đề ra với chất lượng nâng lên. Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao; các ngành dịch vụ đạt khá. Kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt mức kỷ lục mới. Môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Thu hút khách quốc tế, đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp mới thành lập tăng mạnh. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm thấp hơn năm trước. An sinh xã hội được quan tâm thực hiện và đạt kết quả nhất định. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn những tồn tại, thách thức: Quá trình cơ cấu lại nền kinh tế chậm; năng lực cạnh tranh còn hạn chế; giải ngân vốn đầu tư công chậm. Thiên tai, bão lũ gây thiệt hại lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của người dân. Ô nhiễm môi trường, an toàn, vệ sinh thực phẩm còn diễn biến phức tạp.

Năm 2018 có ý nghĩa rất quan trọng, năm bản lề quyết định việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi như: Kinh tế thế giới tiếp tục xu hướng tăng trưởng ổn định; môi trường đầu tư kinh doanh trong nước ngày càng cải thiện; kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát..., dự báo năm 2018 sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức tác động đến kinh tế nước ta, nhất là trong bối cảnh thế giới có những thay đổi về địa chính trị, chính sách thương mại; tình hình biến đổi khí hậu; thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp; tác động từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Do đó, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, cải thiện môi trường kinh doanh, cơ sở hạ tầng, cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, Chính phủ và các Bộ, ngành cần xác định việc tạo lập và thực thi chính sách nhằm nâng cao năng suất lao động là giải pháp quan trọng hàng đầu trong nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Đồng thời nghiên cứu thấu đáo nội hàm, phương thức vận hành của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, từ đó đề xuất thực hiện cụ thể vào một số lĩnh vực ở một số địa phương để Việt Nam hòa chung vào dòng chảy của cách mạng công nghiệp trên thế giới.

Trước mắt, để hoàn thành tốt mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2018 đã được Quốc hội thông qua, trong đó: GDP tăng 6,5%-6,7%, tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 7%-8%..., các cấp, các ngành và địa phương phải nhận thức đúng và đầy đủ những khó khăn, thách thức phía trước để kịp thời có các giải pháp khắc phục ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm 2018, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:

Một là, điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt góp phần ổn định thị trường tiền tệ, hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. Tăng trưởng tín dụng hợp lý, trong đó tập trung tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa; kiểm soát tín dụng ở một số ngành, lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Hai là, tăng cường kỷ luật tài chính, thực hiện nghiêm các luật thuế, phí và lệ phí; cải cách thủ tục hành chính về thuế; đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, chống thất thu, chuyển giá, gian lận thương mại và nợ đọng thuế. Giám sát chặt chẽ các khoản chi từ ngân sách Nhà nước, triệt để tiết kiệm chi tiêu thường xuyên, nhất là kinh phí hội nghị, tiếp khách, đi công tác nước ngoài, sử dụng xe công.

Ba là, triển khai nhanh công tác phân bổ, giao kế hoạch vốn đầu tư công. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân nguồn vốn này ngay từ những tháng đầu năm, nhất là các công trình hạ tầng bị thiệt hại do thiên tai, các dự án lớn, dự án quan trọng, chương trình mục tiêu quốc gia, đảm bảo thực hiện và giải ngân hết nguồn vốn đầu tư công được giao năm 2018. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn đầu tư công đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng; không để xảy ra tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản. Có giải pháp khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế trong những năm tới. Thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển bền vững, đảm bảo công khai, minh bạch; khuyến khích phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho người có thu nhập thấp.

Bốn là, chủ động bám sát diễn biến thời tiết để hạn chế tối đa ảnh hưởng của thiên tai, bão, lũ tới sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; có phương án chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và xâm nhập mặn. Tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sản phẩm phù hợp với lợi thế, nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Chuyển đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh liên kết sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Kiểm soát tốt dịch bệnh, tăng cường các biện pháp giám sát bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, đặc biệt phải loại bỏ việc sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; mở rộng thị trường tiêu thụ hàng nông sản cả trong nước và ngoài nước.

Năm là, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; công nghiệp chế biến sâu, phục vụ nông nghiệp; công nghiệp sản xuất nguyên liệu đầu vào cung cấp cho các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và gắn với liên kết chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia. Tập trung phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ công nghệ thông tin, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, logistics, du lịch. Tăng cường xúc tiến, quảng bá du lịch, có chính sách, biện pháp thu hút hiệu quả khách du lịch quốc tế, nhất là khách đến từ các thị trường có mức chi tiêu cao, lưu trú dài ngày tại Việt Nam.

Sáu là, khuyến khích nhu cầu tiêu dùng trong nước, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước đối với hàng nhập khẩu, góp phần duy trì tăng trưởng công nghiệp chế biến, chế tạo. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tăng cường xuất khẩu thông qua việc chuẩn bị các nguồn hàng đảm bảo yêu cầu về chất lượng, mẫu mã, vệ sinh an toàn thực phẩm để xuất sang các thị trường đã ký kết Hiệp định thương mại tự do. Kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu, nhất là nhập khẩu tiểu ngạch và các hoạt động tạm nhập, tái xuất hàng nông sản. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng nhái, hàng giả, kém chất lượng để bảo vệ sản xuất trong nước và quyền lợi của người tiêu dùng. Xây dựng lộ trình và phạm vi điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý giá, bảo đảm không ảnh hưởng lớn đến mặt bằng giá và phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2018.  

Bảy là, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, chính sách đối với người có công với cách mạng, trước mắt là trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018, đảm bảo kịp thời, đúng đối tượng. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, sớm ổn định đời sống, khôi phục sản xuất./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ



[1] Trong tháng 10/2017, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã nâng mức dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2017 lên 3,6%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với mức 3,5% đã dự báo trong tháng 7/2017 và cao hơn hẳn mức tăng 3,2% của năm 2016. 

[2] Mức tăng GDP so với năm trước của một số năm: Năm 2011 tăng 6,24%; năm 2012 tăng 5,25%; năm 2013 tăng 5,42%; năm 2014 tăng 5,98%; năm 2015 tăng 6,68%; năm 2016 tăng 6,21%; năm 2017 tăng 6,81%.

[3] Mức tăng so với năm trước của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo một số năm: Năm 2011 tăng 14,08%; năm 2012 tăng 9,05%; năm 2013 tăng 7,22%; năm 2014 tăng 7,41%; năm 2015 tăng 10,60%; năm 2016 tăng 11,90%; năm 2017 tăng 14,40%.

[4] Mức tăng/giảm so với năm trước của ngành khai khoáng một số năm: Năm 2011 tăng 2,90%; năm 2012 tăng 5,14%; năm 2013 giảm 0,23%; năm 2014 tăng 2,26%; năm 2015 tăng 6,50%; năm 2016 giảm 4,00%; năm 2017 giảm 7,10%.

[5] Mức tăng ngành hoạt động tài chính, ngân  hàng và bảo hiểm một số năm: Năm 2011 tăng 7,45%; năm 2012 tăng 5,58%; năm 2013 tăng 6,88%; năm 2014 tăng 5,83%; năm 2015 tăng 7,38%; năm 2016 tăng 7,79%; năm 2017 tăng 8,14%.

[6] Mức tăng ngành kinh doanh bất động sản một số năm: Năm 2011 tăng 3,80%; năm 2012 tăng 1,32%; năm 2013 tăng 2,17%; năm 2014 tăng 2,80%; năm 2015 tăng 2,96%; năm 2016 tăng 4,00%; năm 2017 tăng 4,07%.

[7] Nếu tính cả 5,13 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2017 ước tính đạt 47,97 triệu tấn, giảm  709,8 nghìn tấn so với năm 2016.

[8] Riêng vụ đông xuân năm nay, diện tích gieo cấy của vùng Đồng bằng sông Hồng giảm 10,1 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước (2,8 nghìn ha chuyển sang đất phi nông nghiệp; 2,5 nghìn ha sang trồng cây lâu năm; 1,2 nghìn ha trồng cây hàng năm khác 1,9 nghìn ha diện tích không sản xuất). Vùng Đồng bằng sông Cửu Long giảm 16,3 nghìn ha (0,2 nghìn ha chuyển sang đất phi nông nghiệp; 6 nghìn ha chuyển sang trồng cây lâu năm; 7,7 nghìn ha chuyển sang trồng cây hàng năm khác; trên 1 nghìn ha chuyển sang nuôi trồng thủy sản và 1,4 nghìn ha không sản xuất).

[9] Trong đó: Diện tích chuyển sang đất phi nông nghiệp là 4 nghìn ha; chuyển sang cây trồng hàng năm khác là 3,7 nghìn ha; chuyển sang cây trồng lâu năm là 2,4 nghìn ha; chuyển sang nuôi trồng thủy sản là 1,6 nghìn ha; diện tích đất bỏ hoang là 2,9 nghìn ha và 1,9 nghìn ha không thể gieo trồng do ảnh hưởng của mưa bão đầu vụ.

[10] Ước tính năm 2017, diện tích trồng nhãn tăng 2,9% so với năm 2016, sản lượng giảm 1,1%; diện tích trồng vải giảm 4,7%, sản lượng giảm 24,1%.

[11] Giá cá tra bình quân dao động từ 22.000-25.000 đồng/kg (tăng 4.000-5.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước), có thời điểm lên đến 28.000-30.000 đồng/kg (tăng 5.000-6.500 đồng/kg).

[12]  Tốc độ tăng chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo các năm 2012-2017 lần lượt là: 5,5%; 7,6%; 8,7%; 10,5%; 11,3%; 14,5%.

[13]  Giá dầu thô giữ ở mức ổn định, trung bình 55 USD/thùng, cao hơn 11 USD/thùng so với mức giá trung bình năm 2016.

[14]  Cùng thời điểm năm 2013 tăng 10,2%; năm 2014 tăng 10%; năm 2015 tăng 9,5% và năm 2016 tăng 8,1%.

[15] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[16] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 28,5%; số vốn đăng ký tăng 75,7%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 36,7%.

[17] Năm 2016, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 16,2% so với năm 2015; số vốn đăng ký tăng 48,1%; vốn đăng ký bình quân 1 doanh nghiệp tăng 27,5%.

[18] Khách Trung Quốc hiện nay chiếm tới 31% tổng số khách quốc tế đến Việt Nam nhưng chi tiêu bình quân và thời gian lưu trú bình quân của một lượt khách Trung Quốc thấp hơn các nước khác trong khu vực Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po...

[19] Bao gồm: Vương quốc Anh, Cộng hòa Pháp, CHLB Đức, Vương quốc Tây Ban Nha và Cộng hòa I-ta-li-a.

[20] Tỷ trọng nguồn vốn đầu tư công trong tổng vốn đầu tư liên tục giảm qua các năm: Năm 2012 là 31,6%; năm 2013 là 30,4%; năm 2014 là 28,4%; năm 2015 là 27,2%; năm 2016 là 26,2% và năm 2017 là 23,4%.

[21] Trong năm 2017, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 8 đạt 19,8 tỷ USD; tháng 9 đạt 19,3 tỷ USD; tháng 10 đạt 20,3 tỷ USD; tháng 11 đạt 20 tỷ USD; tháng 12 đạt 19,3 tỷ USD.

[22] Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa so với năm trước các năm 2013-2017 lần lượt là: 15,3%; 13,8%; 7,9%; 9%; 21,1%.

[23] Nếu không kể dầu thô, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm 2017 đạt 152,34 tỷ USD, tăng 23% so với năm 2016.

[24] Ước tính xuất siêu 200 triệu USD.

[25] Giá các mặt hàng dịch vụ y tế tháng 12/2017 tăng 37,30% so với cuối năm 2016; bình quân cả năm tăng 57,91%.

[26] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[27] Lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp bao gồm những người không làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) người làm công ăn lương thuộc khu vực chính thức không được ký hợp đồng lao động hoặc có hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực chính thức và thành viên hợp tác xã không có bảo hiểm xã hội bắt buộc; (ii) chủ cơ sở, lao động tự làm, lao động làm công ăn lương và lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực phi chính thức; (iii) lao động tự làm phục vụ nhu cầu tự tiêu dùng của hộ gia đình và lao động làm thuê trong các hộ gia đình.

[28] Năng suất lao động xã hội của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2011-2017 lần lượt là: 55,2 triệu đồng/lao động; 63,1 triệu đồng/lao động; 68,7 triệu đồng/lao động; 74,7 triệu đồng/lao động; 79,4 triệu đồng/lao động; 84,5 triệu đồng/lao động; 93,2 triệu đồng/lao động.

[29] Tính chung giai đoạn 10 năm 2007-2016, NSLĐ theo PPP 2011 của Việt Nam tăng trung bình hàng năm 4,2%/năm, cao hơn so với mức tăng bình quân của Xin-ga-po (1,5%/năm); Ma-lai-xi-a (1,9%/năm); Thái Lan (2,5%/năm); In-đô-nê-xi-a (3,5%/năm); Phi-li-pin tăng (2,8%/năm); Cam-pu-chia (4,1%/năm), nhưng thấp hơn Lào (5,3%/năm) và My-an-ma (14,6%/năm) (Tính toán từ nguồn số liệu WB).

[30] Chênh lệch mức NSLĐ (tính theo PPP 2011) của Xin-ga-po và Việt Nam tăng từ 115.087 USD năm 2006 lên 131.333 USD năm 2016; tương tự, của Ma-lai-xi-a từ 39.806 USD lên 46.190 USD; Thái Lan từ 14.591 USD lên 17.208 USD; In-đô-nê-xi-a từ 10.100 USD lên 13.496 USD; Phi-li-pin từ 6.691 USD lên 7.561 USD; Lào từ 220 USD lên 1.422 USD (Nguồn số liệu WB).

[31] Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận
đa chiều
 áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau:

  - Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống và (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt  từ 03/10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên;

  - Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống và (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt  từ 03/10 ch số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

 

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội 8 tháng năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 7 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2018