English | FAQ | Sơ đồ website
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Số 54 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 
Tình hình kinh tế-xã hội 2 tháng đầu năm 2019

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Trong tháng Hai, thời tiết nắng ấm cùng với tình hình sâu bệnh được kiểm soát tạo điều kiện thuận lợi cho lúa và hoa màu vụ Đông xuân phát triển tốt. Tính đến trung tuần tháng Hai, cả nước gieo cấy được 2.765,9 nghìn ha lúa đông xuân, tăng 3,2% (tăng 86,5 nghìn ha) so với cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 781,7 nghìn ha, tăng 8,4%; các địa phương phía Nam đạt 1.984,2 nghìn ha, tăng 1,3%, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.597,9 nghìn ha, tăng 1,9%.

Tại các tỉnh phía Bắc, bên cạnh thời tiết đầu vụ thuận lợi, Tết Nguyên đán năm nay đến sớm hơn năm 2018 nên các địa phương đã tranh thủ xuống giống sớm vụ đông xuân làm cho tiến độ gieo cấy đạt nhanh hơn cùng kỳ năm trước, trong đó: Nam Định đạt 63,8 nghìn ha, tăng 19 nghìn ha; Hà Nội đạt 31 nghìn ha, tăng 21 nghìn ha; Bắc Ninh đạt 13,8 nghìn ha, tăng 10,9 nghìn ha. Hiện nay lúa đông xuân sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy nhiên, dự báo nắng nóng có khả năng xuất hiện sớm tại phía Tây Bắc Bộ và Trung Bộ, do đó các địa phương cần kết thúc gieo cấy lúa đông xuân trong tháng 2/2019. Thời tiết nắng ấm cũng khiến sâu bệnh gây hại trên lúa diễn biến phức tạp, nhất là bệnh lùn sọc đen phương nam, đạo ôn, bọ trĩ, ốc bươu vàng..., ngành nông nghiệp cần theo dõi sát diễn biến tình hình sâu bệnh, xử lý kịp thời các ổ bệnh để không ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa.

Các địa phương phía Nam đến nay cơ bản hoàn thành gieo cấy lúa đông xuân, trong đó diện tích lúa tăng chủ yếu ở Cà Mau với 35,2 nghìn ha do chuyển đổi mùa vụ từ lúa mùa sang lúa đông xuân. Hiện nay lúa đang phát triển tốt, những trà lúa chính vụ đang trong giai đoạn đẻ nhánh làm đòng, trong đó tại Đồng bằng sông Cửu Long đã có 306,1 nghìn ha lúa đông xuân cho thu hoạch, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2018. Mặc dù các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long đang bước vào giai đoạn thu hoạch đại trà lúa đông xuân nhưng do các doanh nghiệp và thương lái chưa thu mua dẫn đến giá lúa xuống thấp, một số tỉnh như Đồng Tháp, An Giang không gặt lúa đúng tiến độ mặc dù lúa đã chín. Để hỗ trợ nông dân giải quyết khó khăn, tránh tình trạng thương lái ép giá, ngày 19/2/2019, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo mua dự trữ theo kế hoạch Nhà nước 200 nghìn tấn gạo và 80 nghìn tấn thóc.

 Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, tính đến giữa tháng Hai, các địa phương trên cả nước gieo trồng được 198,9 nghìn ha ngô, bằng 94,8% cùng kỳ năm trước; 44,9 nghìn ha khoai lang, bằng 99,8%; 10,7 nghìn ha đậu tương, bằng 103,9%; 60,9 nghìn ha lạc, bằng 105,4%; 391,9 nghìn ha rau đậu, bằng 101,6%.

Chăn nuôi trong tháng nhìn chung ổn định, riêng đàn trâu giảm do diện tích chăn thả thu hẹp. Ước tính tháng Hai, đàn bò cả nước tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước; đàn lợn tăng 3%; đàn gia cầm tăng 6%; đàn trâu giảm 2,8%. Đáng chú ý là dịch tả lợn châu Phi đã bùng phát ổ dịch tại bốn tỉnh Hải Phòng, Thái Bình, Hưng Yên và Thanh Hóa; dịch lở mồm long móng ở lợn xảy ra tại một số địa phương, do đó các cấp, các ngành cần chủ động có biện pháp phòng chống dịch bệnh lây lan diện rộng, không để ảnh hưởng đến sản xuất, gây biến động giá và nguồn cung của thị trường lợn.

b) Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào hoạt động “Tết trồng cây” và bắt đầu trồng rừng vụ xuân khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Trong tháng Hai, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 8,4 nghìn ha, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 5,8 triệu cây, tăng 0,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 832 nghìn m­3, tăng 0,5%; sản lượng củi khai thác đạt 1,2 triệu ste, giảm 5,5%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, diện tích rừng trồng tập trung ước tính đạt 14,7 nghìn ha, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 6,5 triệu cây, tăng 0,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1,7 triệu m3, tăng 0,3%; sản lượng củi khai thác đạt 2,7 triệu ste, giảm 3,2%.

Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng Hai là 24 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 4,1 ha; diện tích bị chặt phá là 19,9 ha. Tính chung 2 tháng đầu năm nay, cả nước có 45,6 ha rừng bị thiệt hại, giảm 43,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 4,4 ha, giảm 74,7%; diện tích rừng bị chặt phá là 41,2 ha, giảm 34,9%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Hai ước tính đạt 490,3 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 360,3 nghìn tấn, tăng 5,5%; tôm đạt 43,6 nghìn tấn, tăng 0,9%; thủy sản khác đạt 86,4 nghìn tấn, tăng 4,9%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 232,5 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 166,8 nghìn tấn, tăng 4,6%; tôm đạt 32,6 nghìn tấn, tăng 2,5%. Nuôi cá tra tiếp tục thuận lợi, giá cá tra ổn định ở mức 28.500-30.000 đồng/kg. Sản lượng cá tra tháng Hai ước tính đạt 80,1 nghìn tấn, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Đồng Tháp đạt 33,6 nghìn tấn, tăng 4,1%; An Giang đạt 26,6 nghìn tấn, tăng 8%; Cần Thơ đạt 12,7 nghìn tấn, tăng 12,6%. Sau khi thu hoạch phục vụ Tết Nguyên đán, người nuôi tôm tiến hành vệ sinh ao nuôi để chuẩn bị cho vụ mới, các hộ nuôi đang thiếu hụt nguồn cung về giống chất lượng cao, do đó năng suất thu hoạch tôm nuôi không cao. Sản lượng tôm sú trong tháng Hai ước tính đạt 12,7 nghìn tấn, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 16,1 nghìn tấn, tăng 3,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng Hai ước tính đạt 257,8 nghìn tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 193,5 nghìn tấn, tăng 6,3%; tôm đạt 11 nghìn tấn, giảm 3,5%. Riêng sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 243,9 nghìn tấn, tăng 6,1%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, sản lượng thủy sản ước tính đạt 988,3 nghìn tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 464,7 nghìn tấn, tăng 3,9%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 523,6 nghìn tấn, tăng 5,3% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 494,9 nghìn tấn, tăng 5,7%).

 

Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 2 năm 2019

 

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 2/2019 ước tính giảm 16,8% so với tháng trước do tháng Hai năm nay trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. So với cùng kỳ năm trước, IIP tháng Hai tăng 10,3%, trong đó ngành khai khoáng giảm 5%; ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,2%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, IIP ước tính tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 13,7% của cùng kỳ năm 2018[1], trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 11,5%, đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,5%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,9%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 4,7%, làm giảm 0,7 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 2 tháng đầu năm 2019 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 92,1%; sản xuất kim loại tăng 35,8%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 23,9%; sản xuất xe có động cơ tăng 20,9%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,8%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,1%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 12,8%; dệt tăng 11,5%; sản xuất trang phục tăng 10,8%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 4,8%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 0,6%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 2,4%; khai thác quặng kim loại giảm 6,2%; hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng giảm 7,8%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 7,9% (khai thác dầu thô giảm 11,9% và khai thác khí đốt tự nhiên giảm 4%); khai khoáng khác (đá, cát, sỏi...) giảm 1,7%. Đáng chú ý, một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong toàn ngành công nghiệp có tốc độ tăng chỉ số sản xuất 2 tháng đầu năm 2019 thấp hơn khá nhiều so với cùng kỳ năm 2018 như: Sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại (chủ yếu là sản xuất xi măng[2]) tăng 7,9% (cùng kỳ năm trước tăng 15,2%); sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 7,4% (cùng kỳ năm trước tăng 13,1%); sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học chỉ tăng 5,2% (cùng kỳ năm trước tăng 34,8%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 2,5% (cùng kỳ năm trước tăng 15,1%); khai thác quặng kim loại giảm 6,2% (cùng kỳ năm trước tăng 11,7%); sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 12,4% (cùng kỳ năm trước tăng 11,1%).

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 2 tháng đầu năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Khí hóa lỏng (LPG) tăng 101,2%; xăng, dầu tăng 96,1%; sắt, thép thô tăng 75,9%; ti vi tăng 37,1%; phân u rê tăng 17,9%; sơn hóa học tăng 17,6%; ô tô tăng 15,7%; bột ngọt tăng 15,1%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 13,8%; vải dệt từ sợi nhân tạo tăng 13,5%; thức ăn cho thủy sản tăng 13%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Sữa bột tăng 0,7%; thép thanh, thép góc giảm 0,2%; thép cán giảm 0,5%; phân hỗn hợp (NPK) giảm 1,9%; thuốc lá điếu giảm 2,4%; đường kính giảm 3,8%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 4%; linh kiện điện thoại giảm 5,3%; điện thoại di động giảm 7,6%; dầu thô khai thác giảm 11,9% (cùng kỳ năm 2018 giảm 7,6%).

Trong 2 tháng đầu năm 2019, chỉ số sản xuất công nghiệp của 61/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó Thanh Hóa là địa phương có tốc độ tăng cao nhất với mức 46,7% do Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn mới đi vào sản xuất từ giữa năm 2018, tiếp theo là Hà Tĩnh tăng 46,2% do đóng góp của Tập đoàn Formosa; riêng Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 3% do khai thác dầu thô giảm và Hòa Bình giảm 5,3% do sản lượng điện của Nhà máy thủy điện Hòa Bình giảm. Chỉ số sản xuất công nghiệp 2 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 23,7%[3]; Vĩnh Phúc tăng 19,6%; Quảng Nam tăng 11,1%; Hải Dương tăng 9,4%; Quảng Ninh tăng 8,5%; Đồng Nai tăng 7,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,2%; Hà Nội và Bình Dương cùng tăng 6,1%;
Đà Nẵng tăng 5,8%; Cần Thơ tăng 5,3%; Thái Nguyên tăng 3,8%; Bắc Ninh tăng 2,2%.

Lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/2/2019 tăng 2,3% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,3%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 2,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 2,7%. Tại thời điểm trên, lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,2% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,3%; ngành sản xuất, phân phối điện và ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải cùng tăng 1,9%.

Lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/2/2019 so với cùng thời điểm năm trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Hải Phòng tăng 11,5%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 7,6%[4]; Đồng Nai tăng 5,2%; Hà Nội tăng 3,4%; Hải Dương tăng 2,4%; Quảng Ninh và Bình Dương cùng tăng 1,7%; Cần Thơ tăng 1,2%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 1%; Quảng Nam tăng 0,1%; Vĩnh Phúc giảm 0,2%; Thái Nguyên giảm 4%; Bắc Ninh giảm 6,4%; Đà Nẵng giảm 14,8%[5].

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp

Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp

 

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[6]

Trong tháng 2/2019, cả nước có 5,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 96,3 nghìn tỷ đồng, giảm 41,5% về số doanh nghiệp và giảm 36,3% về số vốn đăng ký so với tháng trước[7] do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán năm nay vào tháng Hai; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 16,3 tỷ đồng, tăng 8,8%; tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới là 56 nghìn người, giảm 48,1%. Trong tháng, cả nước còn có 1.747 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 79,4% so với tháng trước; 2.823 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 73,9%; 1.740 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 85,8%; 1.354 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 24,9%.

Tính chung 2 tháng đầu năm nay, cả nước có 15.979 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 247,4 nghìn tỷ đồng, giảm 14,6% về số doanh nghiệp và tăng 25,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018[8]; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 15,5 tỷ đồng, tăng 46,7%. Nếu tính cả 531,2 nghìn tỷ đồng vốn điều chỉnh của các doanh nghiệp thay đổi vốn đăng ký thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 2 tháng là 778,6 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 10.191 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 48,2% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động lên gần 26,2 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới 2 tháng đầu năm 2019 là 164 nghìn người, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Theo lĩnh vực hoạt động, trong 2 tháng đầu năm nay hầu hết các lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Có 6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới trong ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy (chiếm 37,5% tổng số doanh nghiệp thành lập mới), giảm 7,3%; 2,1 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 13%), giảm 9,4%; 2 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 12,5%), giảm 17,2%; 1,3 nghìn doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 8%), giảm 11,3%; 981 doanh nghiệp dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác (chiếm 6,1%), giảm 10,3%; 840 doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (chiếm 5,3%), giảm 0,1%; 780 doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 4,9%), giảm 24,9%...

Số doanh nghiệp thành lập mới trong 2 tháng đầu năm tại các vùng kinh tế đều giảm so với cùng kỳ năm trước: Vùng Đông Nam Bộ có 6,4 nghìn doanh nghiệp, giảm 20,6% (vốn đăng ký 145,4 nghìn tỷ đồng, tăng 54%); Đồng bằng sông Hồng 5,1 nghìn doanh nghiệp, giảm 6,6% (vốn đăng ký 57,2 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 2,2 nghìn doanh nghiệp, giảm 11,9% (vốn đăng ký 19,3 nghìn tỷ đồng, giảm 19,1%); Đồng bằng sông Cửu Long 1,2 nghìn doanh nghiệp, giảm 10,4% (vốn đăng ký 11,7 nghìn tỷ đồng, giảm 8%); Trung du và miền núi phía Bắc 591 doanh nghiệp, giảm 27% (vốn đăng ký 8,9 nghìn tỷ đồng, giảm 3,2%); Tây Nguyên 423 doanh nghiệp, giảm 8,8% (vốn đăng ký 4,9 nghìn tỷ đồng, tăng 85,9%).

Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong 2 tháng đầu năm nay là 13.519 doanh nghiệp, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước. Theo lĩnh vực hoạt động, có 5,1 nghìn doanh nghiệp ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy tạm ngừng kinh doanh có thời hạn (chiếm 37,8%), tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước; có 2 nghìn doanh nghiệp xây dựng (chiếm 14,9%), tăng 15,9%; 1,7 nghìn doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 12,6%), tăng 19,4%; có 849 doanh nghiệp khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác (chiếm 6,3%), tăng 27,3%; có 816 doanh nghiệp vận tải, kho bãi (chiếm 6%), tăng 23,4%; có 651 doanh nghiệp dịch vụ lưu trú và ăn uống (chiếm 4,8%), tăng 17,7%... Trong 2 tháng đầu năm nay còn có 13.692 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, trong đó có 7.843[9] doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo chương trình chuẩn hóa dữ liệu năm 2018 để loại bỏ các doanh nghiệp đã thành lập trước đây nhưng trên thực tế không còn hoạt động.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 2 tháng đầu năm 2019 là 3.156 doanh nghiệp, tăng 24,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 2.907 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng (chiếm 92,1% tổng số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể), tăng 25,3%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 1,3 nghìn doanh nghiệp (chiếm 40,1%), tăng 28,5% so với cùng kỳ năm trước; công nghiệp chế biến, chế tạo có 345 doanh nghiệp (chiếm 10,9%), tăng 0,3%; xây dựng có 322 doanh nghiệp (chiếm 10,2%), tăng 33,1%.

 

Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp

Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới

Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động

Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn

Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể

 

4. Đầu tư

Hoạt động đầu tư trong tháng tập trung chủ yếu vào thực hiện các dự án, công trình chuyển tiếp từ năm trước và triển khai kế hoạch đầu tư năm 2019. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Hai ước tính đạt 13.079 tỷ đồng, giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương 1.737 tỷ đồng, giảm 35,5%; vốn địa phương 11.342 tỷ đồng, tăng 4,2%. Tính chung 2 tháng đầu năm nay, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 30.220 tỷ đồng, bằng 9,1% kế hoạch năm và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2018 bằng 8,6% và tăng 10,1%), gồm có:

- Vốn Trung ương quản lý đạt 4.092 tỷ đồng, bằng 8,8% kế hoạch năm và giảm 29,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư thực hiện của Bộ Giao thông Vận tải đạt 878 tỷ đồng, bằng 11,9% và giảm 58,3%; Bộ Y tế 451 tỷ đồng, bằng 8,5% và tăng 33,2%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 242 tỷ đồng, bằng 7,3% và giảm 56,8%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 111 tỷ đồng, bằng 8,6% và tăng 7,9%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 100 tỷ đồng, bằng 7,6% và giảm 11,6%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 66 tỷ đồng, bằng 8,8% và giảm 12,2%; Bộ Xây dựng 24 tỷ đồng, bằng 9,8% và giảm 0,5%; Bộ Công Thương 20 tỷ đồng, bằng 8,1% và giảm 3%; Bộ Khoa học và Công nghệ 19 tỷ đồng, bằng 6,2% và tăng 5,9%; Bộ Thông tin và Truyền thông 12 tỷ đồng, bằng 7,4% và tăng 14,5%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 26.128 tỷ đồng, bằng 9,2% kế hoạch năm và tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 17.451 tỷ đồng, bằng 8,7% và tăng 6,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 7.212 tỷ đồng, bằng 10% và tăng 9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 1.465 tỷ đồng, bằng 11,8% và tăng 10,2%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm 2019 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 4.081 tỷ đồng, bằng 8,8% kế hoạch năm và tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước; Thanh Hóa 1.040 tỷ đồng, bằng 13,3% và tăng 13,4%; Bà Rịa - Vũng Tàu 1.005 tỷ đồng, bằng 15,3% và tăng 20,9%; thành phố Hồ Chí Minh 1.001 tỷ đồng, bằng 2,7% và giảm 5%; Nghệ An 913 tỷ đồng, bằng 16,6% và tăng 0,5%; Vĩnh Phúc 868 tỷ đồng, bằng 13,9% và tăng 2%; Quảng Nam 833 tỷ đồng, bằng 11,2% và tăng 17,8%; Hải Phòng 752 tỷ đồng, bằng 8,3% và tăng 3,7%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/2/2019 thu hút 514 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 2.444,9 triệu USD, tăng 25,1% về số dự án và tăng 75,7% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 176 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 854,8 triệu USD, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 2 tháng đầu năm đạt 3.299,7 triệu USD, tăng 57,8% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 2 tháng năm nay ước tính đạt 2.580 triệu USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 2 tháng còn có 1.039 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 5,17 tỷ USD[10], gấp 4,1 lần so với cùng kỳ năm 2018, trong đó có 585 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 4,78 tỷ USD và 454 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 0,39 tỷ USD.

Trong 2 tháng năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 1.874,4 triệu USD, chiếm 76,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 273 triệu USD, chiếm 11,1%; các ngành còn lại đạt     297,5 triệu USD, chiếm 12,2%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 2 tháng đạt 2.649,9 triệu USD, chiếm 80,3% tổng vốn đăng ký; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 286,7 triệu USD, chiếm 8,7%; các ngành còn lại đạt 363,1 triệu USD, chiếm 11%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành bán công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 4.281,8 triệu USD, chiếm 82,8% tổng giá trị góp vốn; hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 239,5 triệu USD, chiếm 4,6%; các ngành còn lại đạt 649,9 triệu USD, chiếm 12,6%.

Cả nước có 35 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới trong 2 tháng năm nay, trong đó Bắc Ninh có số vốn đăng ký lớn nhất với 428,3 triệu USD, chiếm 17,5% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Bình Dương 228,1 triệu USD, chiếm 9,3%; Tiền Giang 214,4 triệu USD, chiếm 8,8%; Hải Dương 209,4 triệu USD, chiếm 8,6%;
Hải Phòng 171,5 triệu USD, chiếm 7%; Đồng Nai 151,6 triệu USD, chiếm 6,2%; Bà Rịa - Vũng Tàu 133,3 triệu USD, chiếm 5,5%; Hà Nam 128,3 triệu USD, chiếm 5,2%; Tây Ninh 102,5 triệu USD, chiếm 4,2%; thành phố Hồ Chí Minh 96,7 triệu USD, chiếm 4%.

Trong số 38 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 2 tháng, Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với 588,9 triệu USD, chiếm 24,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 398 triệu USD, chiếm 16,3%[11]; Nhật Bản 380,2 triệu USD, chiếm 15,5%; Hàn Quốc 360,8 triệu USD, chiếm 14,8%; Xin-ga-po 285 triệu USD, chiếm 11,7%; Đài Loan 125,9 triệu USD, chiếm 5,1%; Hà Lan 107,5 triệu USD, chiếm 4,4%; Xa-moa 85 triệu USD, chiếm 3,5%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 2 tháng năm nay có 5 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 6,05 triệu USD; 1 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 200 nghìn USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 2 tháng năm 2019 đạt 6,25 triệu USD, trong đó lĩnh vực bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 5,6 triệu USD, chiếm 89,6% tổng vốn đầu tư; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 426,9 nghìn USD, chiếm 6,8%; lĩnh vực thông tin và truyền thông đạt 225 nghìn USD, chiếm 3,6%. Trong 2 tháng có 5 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Hoa Kỳ là nước dẫn đầu với 5,3 triệu USD, chiếm 84,8% tổng vốn đầu tư[12]; Xin-ga-po 300 nghìn USD, chiếm 4,8%; Phần Lan 226,9 nghìn USD, chiếm 3,63%; Nhật Bản 225 nghìn USD, chiếm 3,6%, Mi-an-ma 200 nghìn USD, chiếm 3,2%.

 

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 2 và 2 tháng năm 2019

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 1/1- 20/2/2019

 

5. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Hoạt động bán lẻ và kinh doanh dịch vụ tháng 2/2019 diễn ra sôi động trong những ngày đầu tháng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, do tháng Hai chỉ có 28 ngày với thời gian nghỉ Tết kéo dài nên doanh thu hoạt động thương mại dịch vụ trong nước giảm so với tháng trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 2/2019 ước tính đạt 390,8 nghìn tỷ đồng, giảm 3% so với tháng trước và tăng 11,5% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 301,4 nghìn tỷ đồng, giảm 3,4% và tăng 12,5%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 44,8 nghìn tỷ đồng, giảm 1,3% và tăng 9,4%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 3,9 nghìn tỷ đồng, giảm 1,5% và tăng 17,1%; doanh thu dịch vụ khác đạt 40,7 nghìn tỷ đồng, giảm 2% và tăng 6,2%. Tính chung 2 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 793,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,28% (cùng kỳ năm 2018 tăng 9,25%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 2 tháng đầu năm nay ước tính đạt 613,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 77,3% tổng mức và tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lương thực, thực phẩm tăng 14,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 13,3%; may mặc tăng 13,2%; phương tiện đi lại tăng 12,8%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 10,7%. Một số địa phương có mức tăng khá: Hà Tĩnh tăng 19,4%; Long An tăng 17,1%; Quảng Nam tăng 15,7%; Bến Tre tăng 15,1%; Hải Phòng tăng 14,1%; Bắc Giang tăng 13,9%; Hà Nam tăng 13,9%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,1%; Hà Nội tăng 10,8%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 2 tháng đầu năm ước tính đạt 90,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,4% tổng mức và tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Hải Phòng tăng 16,5%; Cần Thơ tăng 13,2%; Khánh Hòa tăng 11,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 10,6%; Quảng Nam tăng 10,1%; Hà Nội tăng 7,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành 2 tháng năm nay ước tính đạt 8 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% tổng mức và tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Hà Nội tăng 17,6%; Hà Tĩnh tăng 14,5%; Khánh Hòa tăng 13,9%; Thái Nguyên tăng 13,7%; Nam Định tăng 11,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 10,9%.

Doanh thu dịch vụ khác 2 tháng ước tính đạt 82,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,3% tổng mức và tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó doanh thu của Cần Thơ tăng 11,3%; Lào Cai tăng 11,2%; Hà Nội tăng 8,1%; Thanh Hóa tăng 7,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,6%.

 

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dung

 

b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 1/2019 đạt 22.076 triệu USD, cao hơn 2.076 triệu USD so với số ước tính, trong đó hàng dệt may cao hơn 644 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 440 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 231 triệu USD; giày, dép cao hơn 169 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 115 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ cao hơn 81 triệu USD; sắt thép cao hơn 78 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng cao hơn 57 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Hai ước tính đạt 14,60 tỷ USD, giảm 33,9% so với tháng trước do tháng Hai có 9 ngày nghỉ Tết Nguyên đán, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 3,68 tỷ USD, giảm 47,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 10,92 tỷ USD, giảm 27,4%. Kim ngạch xuất khẩu hầu hết các mặt hàng đều giảm so với tháng Một, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện giảm 23,9%; sắt thép giảm 45,8%; giày dép giảm 49,1%; dệt may giảm 51,4%; thủy sản giảm 52,8%; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 59,2%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 2/2019 tăng 1,6%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 3,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 3,2%. Một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị tăng: Dầu thô tăng 181,4% so với cùng kỳ năm trước; hóa chất tăng 39,9%; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 19,7%; giày dép tăng 7,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 4,8%; điện thoại và linh kiện tăng 3,1%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 36,68 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,72 tỷ USD, tăng 9,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 25,96 tỷ USD (chiếm 70,8% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 4,3%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực: Điện thoại và linh kiện đạt 6,8 tỷ USD, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước; hàng dệt may đạt 4,9 tỷ USD, tăng 19%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 4,2 tỷ USD, tăng 1,9%; giày dép đạt 2,7 tỷ USD, tăng 18,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 2,6 tỷ USD, tăng 19,3%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,4 tỷ USD, tăng 7,6%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,4 tỷ USD, tăng 12,7%. Một số mặt hàng nông sản, thủy sản tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Thủy sản đạt 1,1 tỷ USD, tăng 2,3%; rau quả đạt 555 triệu USD, giảm 14,4%; cà phê đạt 500 triệu USD, giảm 26,9% (lượng giảm 19,6%); hạt điều đạt 371 triệu USD, giảm 21% (lượng giảm 2,3%); gạo đạt 335 triệu USD, giảm 17,5% (lượng giảm 4,9%); cao su đạt 278 triệu USD, tăng 1,3% (lượng tăng 16,6%); hạt tiêu đạt 92 triệu USD, giảm 20,6% (lượng tăng 7,8%).

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 2 tháng, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 8,1 tỷ USD, tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 127,6%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 42,5%; hàng dệt may tăng 21%. Tiếp đến là thị trường EU đạt 6,3 tỷ USD, tăng 1,2%, trong đó giày dép tăng 14,8%; hàng dệt may tăng 14,4%. Trung Quốc đạt 5,1 tỷ USD, giảm 9,3%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện giảm 19%; điện thoại và linh kiện giảm 63%. Thị trường ASEAN đạt 3,8 tỷ USD, tăng 3,5%, trong đó hàng dệt may tăng 47,1%; sắt thép tăng 20,9%. Nhật Bản đạt 3,2 tỷ USD, tăng 17,3%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 30,5%; giày dép tăng 18,3%; hàng dệt may tăng 10,4%. Hàn Quốc đạt 3,1 tỷ USD, tăng 10,1%, trong đó điện thoại và linh kiện tăng 26,5%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 11,4%; hàng dệt may tăng 9,3%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 1/2019 đạt 21.260 triệu USD, cao hơn 460 triệu USD so với số ước tính, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 413 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 247 triệu USD; dầu thô cao hơn 133 triệu USD; xăng dầu cao hơn 94 triệu USD; vải cao hơn 58 triệu USD; điện thoại và linh kiện thấp hơn 243 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Hai ước tính đạt 15,5 tỷ USD, giảm 27,1% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,2 tỷ USD, giảm 31,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 9,3 tỷ USD, giảm 23,6%. Kim ngạch nhập khẩu hầu hết các mặt hàng đều giảm, trong đó giảm mạnh ở một số mặt hàng: Điện tử, máy tính và linh kiện giảm 10,1%; điện thoại và linh kiện giảm 22,2%; vải giảm 22,3%; chất dẻo giảm 34,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 37%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Hai tăng 10,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 12,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 9,1%. Một số mặt hàng có kim ngạch tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ô tô tăng 88%; xe máy và linh kiện tăng 55,6%; vải tăng 22,4%; điện thoại và linh kiện tăng 18,1%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 17%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 9,5%.

Tính chung 2 tháng, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính đạt 36,76 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 15,29 tỷ USD, tăng 11%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21,47 tỷ USD, tăng 5,1%. Một số mặt hàng có giá trị kim ngạch nhập khẩu lớn trong 2 tháng: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 7,5 tỷ USD, tăng 11,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 5,6 tỷ USD, tăng 14,6%; điện thoại và linh kiện đạt 2,1 tỷ USD, giảm 12,6%; vải đạt 2,1 tỷ USD, tăng 16%; sắt thép đạt 1,4 tỷ USD, giảm 1,2%; chất dẻo đạt 1,3 tỷ USD, giảm 2,6%; ô tô đạt 1 tỷ USD, tăng 105,1%; riêng dầu thô đạt 693 triệu USD, gấp 16,6 lần cùng kỳ năm trước do nhu cầu nhập khẩu phục vụ sản xuất của Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 2 tháng đầu năm nay, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 10,7 tỷ USD, tăng 17% so với cùng kỳ năm 2018, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng tăng 61,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 33,5%; sắt thép tăng 16,7%. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc với kim ngạch nhập khẩu đạt 7,4 tỷ USD, giảm 2,1%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện giảm 2,4%; sắt thép giảm 18,3%. Thị trường ASEAN đạt 4,7 tỷ USD, tăng 1,4%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 6,6%. Nhật Bản đạt 2,6 tỷ USD, giảm 6,7%, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 10,2%; sắt thép giảm 21,5%. Thị trường EU đạt 2,2 tỷ USD, tăng 15,9%, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện tăng 74,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 24,7%. Hoa Kỳ đạt 1,9 tỷ USD, tăng 14,6%, trong đó thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu tăng 124,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 6,6%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Một xuất siêu 816 triệu USD[13]. Tháng Hai ước tính nhập siêu 900 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm nhập siêu 84 triệu USD[14], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 4,57 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 4,49 tỷ USD.

 
Hàng hóa xuất khẩu

Hàng hóa nhập khẩu

 

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2/2019 tăng 0,8% so với tháng trước, trong đó CPI của 9/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tháng Hai tăng so với tháng trước, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp Tết Nguyên đán. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với 1,73%, trong đó lương thực tăng 0,53%[15]; thực phẩm tăng 2,13%[16] làm CPI chung tăng 0,48%. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,69%, chủ yếu do giá gas tăng 3,51% (làm CPI chung tăng 0,04%) và giá điện sinh hoạt tăng 0,69%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,66%[17]; đồ uống và thuốc lá tăng 0,35%[18]; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,26%. Mặc dù giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 4,4% (giá vé ô tô khách tăng 7,39%; giá vé tàu hỏa tăng 15,84%) nhưng nhóm giao thông chỉ tăng nhẹ 0,16% do giá xăng dầu được giữ ổn định nhằm bình ổn giá trong dịp Tết. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,14%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,47%. Riêng nhóm giáo dục giảm 0,47% (dịch vụ giáo dục giảm 0,55%) do thành phố Hồ Chí Minh giảm học phí theo Nghị quyết số 25/2018/NQ-HĐND làm CPI chung giảm 0,03%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,03%.

CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2019 tăng 2,6% so với bình quân cùng kỳ năm 2018; CPI tháng 2/2019 tăng 0,9% so với tháng 12/2018 và tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 2/2019 tăng 0,48% so với tháng trước và tăng 1,82% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 2 tháng đầu năm nay tăng 1,82% so với bình quân cùng kỳ năm 2018.

Chỉ số giá vàng tháng 2/2019 tăng 1,53% so với tháng trước; tăng 3,81% so với tháng 12/2018 và giảm 0,16% so với cùng kỳ năm 2018. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 2/2019 giảm 0,09% so với tháng trước; giảm 0,49% so với tháng 12/2018 và tăng 2,24% so với cùng kỳ năm 2018.

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ và lạm phát cơ bản tháng 2 năm 2019

 

d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng Hai ước tính đạt 413,8 triệu lượt khách, tăng 1,2% so với tháng trước và 18,7 tỷ lượt khách.km, tăng 3,6%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, vận tải hành khách đạt 822,6 triệu lượt khách, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước và 36,9 tỷ lượt khách.km, tăng 10,5%, trong đó vận tải trong nước đạt 819,7 triệu lượt khách, tăng 10,2% và 28,9 tỷ lượt khách.km, tăng 12,3%; vận tải ngoài nước đạt 2,9 triệu lượt khách, tăng 4,3% và 7,9 tỷ lượt khách.km, tăng 4,6%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 776,3 triệu lượt khách, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước25,9 tỷ lượt khách.km, tăng 10,2%; đường thủy nội địa đạt 35,2 triệu lượt khách, tăng 6% và 669,4 triệu lượt khách.km, tăng 7,7%; đường biển đạt 1,3 triệu lượt khách, tăng 8,9% và 80,3 triệu lượt khách.km, tăng 7,2%; đường hàng không đạt khá với 8,2 triệu lượt khách, tăng 10,6% và 9,4 tỷ lượt khách.km, tăng 11,5%; vận tải đường sắt đạt 1,6 triệu lượt khách, tăng 2,9% và 791,8 triệu lượt khách.km, tăng 13,4%.

Vận tải hàng hóa tháng Hai ước tính đạt 133,5 triệu tấn, giảm 7,5% so với tháng trước và 25,1 tỷ tấn.km, giảm 8,2% do trong tháng có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài. Tính chung 2 tháng, vận tải hàng hóa đạt 277,8 triệu tấn, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước và 52,5 tỷ tấn.km, tăng 6,4%, trong đó vận tải trong nước đạt 272,3 triệu tấn, tăng 8,9% và 29,9 tỷ tấn.km, tăng 11,6%; vận tải ngoài nước đạt 5,5 triệu tấn, giảm 1,3% và 22,6 tỷ tấn.km, tăng 0,3%. Xét theo ngành vận tải, đường bộ đạt 214,6 triệu tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước và 14,4 tỷ tấn.km, tăng 9%; đường thủy nội địa đạt 49,1 triệu tấn, tăng 7,5% và 10,4 tỷ tấn.km, tăng 6,4%; đường biển đạt 13,4 triệu tấn, tăng 7,5% và 27,2 tỷ tấn.km, tăng 5,8%; đường sắt đạt 650,3 nghìn tấn, giảm 21,5% và 407,9 triệu tấn.km, giảm 26,6%; đường hàng không đạt 63,5 nghìn tấn, tăng 7,9% và 159,1 triệu tấn.km, tăng 10,5%.

 

Vận tải hành khách và hàng hoá

 

e) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Hai ước tính đạt 1.588,2 nghìn lượt người, tăng 5,8% so với tháng trước, là tháng đón lượng khách quốc tế lớn nhất từ trước đến nay do đang vào mùa lễ hội đầu năm với nhiều sự kiện hấp dẫn thu hút du khách quốc tế, trong đó khách đến bằng đường hàng không tăng 7,6%; bằng đường bộ tăng 27,2%; bằng đường biển giảm 2,9%. So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta tăng 10,9%, trong đó khách đến từ châu Á tăng 13,3%; từ châu Âu tăng 6,1%; từ châu Mỹ tăng 1,5%; từ châu Úc giảm 5,3%; từ châu Phi tăng 21,8%.

Tính chung 2 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3.089,9 nghìn lượt người, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến bằng đường hàng không đạt 2.423,3 nghìn lượt người, tăng 5,5%; bằng đường bộ đạt 611,7 nghìn lượt người, tăng 29,5%; bằng đường biển đạt 54,9 nghìn lượt người, giảm 40,7%.

Trong 2 tháng, khách đến từ châu Á đạt 2.323 nghìn lượt người, chiếm 75,2% tổng số khách du lịch đến nước ta, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến từ Trung Quốc đạt 889,9 nghìn lượt người, giảm 1,3% nhưng là quốc gia có lượng khách quốc tế đến nước ta nhiều nhất; Hàn Quốc 772,2 nghìn lượt người, tăng 24,6%; Nhật Bản 150,8 nghìn lượt người, tăng 9,5%; Đài Loan 141,7 nghìn lượt người, tăng 27,1%; Ma-lai-xi-a 91,5 nghìn lượt người, tăng 5,3%; Thái Lan 80 nghìn lượt người, tăng 36,9%; Xin-ga-po 43,6 nghìn lượt người, giảm 4,3%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 461,5 nghìn lượt người, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 146,7 nghìn lượt người, tăng 4%; Vương quốc Anh 60,5 nghìn lượt người, tăng 6,2%; Pháp 55,1 nghìn lượt người, tăng 2,7%; Đức 45,8 nghìn lượt người, tăng 4,6%; Thụy Điển 21,3 nghìn lượt người, tăng 9,5%; I-ta-li-a 15,5 nghìn lượt người, tăng 5,5%;
Hà Lan 13,9 nghìn lượt người, tăng 3%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 208,6 nghìn lượt người, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 158,1 nghìn lượt người, tăng 7%. Khách đến từ châu Úc đạt 88,5 nghìn lượt người, giảm 2%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 80,6 nghìn lượt người, giảm 2,1%. Khách đến từ châu Phi đạt 8,4 nghìn lượt người, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2018.

 

Khách quốc tế đến Việt Nam

 

6. Một số tình hình xã hội

a) Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Trong tháng 2/2019, cả nước có 21,2 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 78,7 nghìn nhân khẩu thiếu đói, trong đó: Hà Giang có hơn 4,9 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 20,1 nghìn nhân khẩu thiếu đói; Yên Bái 3,5 nghìn hộ, tương ứng với 12,2 nghìn nhân khẩu; Sơn La 2,7 nghìn hộ, tương ứng với 10 nghìn nhân khẩu. Tính chung 2 tháng đầu năm nay, cả nước có 26,8 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 33,1% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 98,3 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 34%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 1,7 nghìn tấn gạo.

Công tác an sinh xã hội trong dịp Tết Kỷ Hợi 2019 được chính quyền các cấp quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, kinh phí hỗ trợ cho người nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội trong dịp Tết khoảng 2.347 tỷ đồng. Ngoài ra, Hội chữ thập đỏ các cấp đã vận động được 1.052 tỷ đồng với 3.297 nghìn suất quà trao cho các hộ nghèo ăn Tết.

b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng Hai, cả nước có 4,3 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 21,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (1 trường hợp tử vong); 40 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 1 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 133 người bị ngộ độc thực phẩm (1 người tử vong). Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, cả nước có hơn 5,9 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (1 trường hợp tử vong); 26,2 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (1 trường hợp tử vong); 54 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 1 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 148 người bị ngộ độc thực phẩm (3 người tử vong).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/2/2019208,97 nghìn người và số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 95,56 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98,2 nghìn người.

c) Tai nạn giao thông

Trong tháng (từ 16/1 đến 15/2), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.295 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 703 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 592 vụ va chạm giao thông, làm 627 người chết, 392 người bị thương và 640 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Hai giảm 18,2% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 10,6% và số vụ va chạm giao thông giảm 25,7%); số người chết giảm 13,6%; số người bị thương tăng 10,7% và số người bị thương nhẹ giảm 21,5%. Tai nạn giao thông xảy ra trong dịp Tết Nguyên đán năm nay đã giảm so với năm trước, trong 9 ngày nghỉ Tết xảy ra 276 vụ tai nạn giao thông, làm 183 người chết và 241 người bị thương[19], bình quân 1 ngày xảy ra 31 vụ tai nạn giao thông, làm 20 người chết và 27 người bị thương. Đáng lưu ý là trong tháng đã xảy ra một số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng: Vụ tai nạn xảy ra ngày 23/1 tại Bình Thuận giữa xe khách và xe máy đã làm 2 người chết; vụ tai nạn xảy ra ngày 27/1 tại Quảng Trị giữa xe máy và xe ben làm 2 người chết và 1 người bị thương nặng; vụ tai nạn xảy ra ngày 8/2 tại Thanh Hóa giữa ô tô khách và ô tô con làm 3 người chết và 5 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 12/2 trên quốc lộ 2 giữa xe khách và xe tải làm 8 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 13/2 tại đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai giữa xe ô tô 7 chỗ và xe khách làm 9 người bị thương. Nguyên nhân xảy ra các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng chủ yếu do ý thức của người tham gia giao thông còn kém, trong tháng đã có hai trường hợp lái xe ô tô dừng nghỉ trên đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai, ngồi tập trung ăn uống ngay tại làn đường ứng cứu khẩn cấp, tạo nguy cơ tai nạn cao cho các phương tiện tham gia giao thông, cần có chế tài để xử lý nghiêm các hiện tượng này.

Tính chung 2 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 2.822 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 1.529 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1.293 vụ va chạm giao thông, làm 1.356 người chết, 814 người bị thương và 1.355 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 2 tháng đầu năm 2019 giảm 15,6% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 8,8%; số vụ va chạm giao thông giảm 22,5%); số người chết giảm 10%; số người bị thương tăng 4,4% và số người bị thương nhẹ giảm 22%. Bình quân 1 ngày trong 2 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông, gồm 25 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 21 vụ va chạm giao thông, làm 22 người chết, 13 người bị thương và 22 người bị thương nhẹ.

d) Thiệt hại thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Thiên tai xảy ra trong tháng Hai chủ yếu là lốc, mưa đá và sạt lở đất tại một số địa phương làm hơn 3,3 nghìn ngôi nhà bị sập và tốc mái, tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong tháng gần 28 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm 2019, thiên tai đã làm 5 người chết, 9 người bị thương, 4,5 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng, 1,7 nghìn nghìn con gia súc, gia cầm bị chết, 144 ngôi nhà bị sập đổ hoàn toàn, 3,5 nghìn ngôi nhà bị tốc mái và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong 2 tháng ước tính hơn 53 tỷ đồng.

Trong tháng 2/2019, cơ quan chức năng đã phát hiện 448 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 398 vụ với tổng số tiền phạt là 4,8 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm nay đã phát hiện 1.179 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.011 vụ với tổng số tiền phạt là 15,8 tỷ đồng.

Trong tháng, cả nước xảy ra 372 vụ cháy, nổ, làm 8 người chết và 23 người bị thương, thiệt hại ước tính 25,5 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 668 vụ cháy, nổ, làm 20 người chết và 38 người bị thương, thiệt hại ước tính gần 104 tỷ đồng./.

 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ



[1] 2 tháng đầu năm 2018, ngành khai khoáng tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước; chế biến, chế tạo tăng 16%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,4%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,9%.

[2] Sản xuất xi măng 2 tháng đầu năm 2019 tăng 9%, thấp hơn mức tăng 19% của cùng kỳ năm 2018.

[3] Do Công ty TNHH LG Inotek Hải Phòng và Công ty LG Display Việt Nam Hải Phòng đi vào sản xuất ổn định từ giữa năm 2018.

[4] Do một số doanh nghiệp sản xuất bao bì và in ấn, truyền thông tăng số lượng lao động.

[5] Chủ yếu do một số doanh nghiệp trong ngành sản xuất linh kiện điện tử và sản xuất đồ chơi trẻ em gặp khó khăn về hợp đồng sản xuất nên giảm mạnh lao động so với cùng kỳ năm trước.

[6] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[7] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm 25%; số vốn đăng ký giảm 2,8%.

[8] 2 tháng đầu năm năm 2018, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 29,4% so với cùng kỳ năm trước; số vốn đăng ký tăng 29,3%; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp giảm 0,1%.

[9] Bao gồm: 612 doanh nghiệp không có mã số doanh nghiệp; 182 doanh nghiệp đã giải thể bên cơ quan thuế (nhưng chưa hoàn tất thủ tục bên cơ quan đăng ký kinh doanh); 4.199 doanh  nghiệp ngừng hoạt động không thông báo trên 02 năm; 2.282 doanh nghiệp ngừng hoạt động không thông báo trên 01 năm; 377 doanh nghiệp ngừng hoạt động không thông báo dưới 01 năm và 191 doanh nghiệp có mã số doanh nghiệp không khớp với cơ quan đăng ký thuế.

 

[10] Trong đó, Dự án góp vốn, mua cổ phần của Beer co Limited (Hồng Kông) vào công ty TNHH Vietnam Beverage với giá trị vốn góp là 3,85 tỷ USD tại Hà Nội với mục tiêu chính là sản xuất bia và mạch nha ủ men bia.

[11] Trong đó, Dự án Nhà máy chế tạo thiết bị điện tử, phương tiện thiết bị mạng và các sản phẩm âm thanh đa phương tiện với tổng vốn đầu tư đăng ký 260 triệu USD do Goertek (Hongkong) Co., Limited đầu tư tại Bắc Ninh.

[12] Trong đó, Công ty TNHH Ecofoods Hải Khanh được cấp giấy chứng nhận kinh doanh đầu tư ra nước ngoài ngày 19/2/2019 với mục tiêu kinh doanh thương mại, xuất nhập khẩu, kinh doanh vật liệu xây dựng tại Hoa Kỳ với tổng vốn đầu tư là 5 triệu USD.

[13] Ước tính tháng Một nhập siêu 800 triệu USD.

[14] Trong đó, 2 tháng nhập siêu từ Trung Quốc 5,6 tỷ USD, tăng 59,2% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Hàn Quốc 4,3 tỷ USD, giảm 9,3%; nhập siêu từ ASEAN 943 triệu USD, giảm 6,3%; xuất siêu sang EU 4,1 tỷ USD, giảm 5,2%.

[15] Chủ yếu do giá bột mì và ngũ cốc khác tăng 1,73%; giá gạo tăng 0,47%; giá lương thực chế biến tăng 0,53%.

[16] Do giá các mặt hàng thực phẩm tăng cao: giá thịt lợn tăng 3,14%; giá thịt bò tăng 2,84%; giá thịt gia cầm tươi sống tăng 2,05%; giá thủy sản tươi sống tăng 2,81%...

[17] Do kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài, nhu cầu du lịch tăng làm cho giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,6% so với tháng trước; giá các tour du lịch trong nước tăng 1,74% và du lịch ngoài nước tăng 0,95%; giá khách sạn, nhà nghỉ tăng 0,9%.

[18] Chủ yếu do giá đồ uống không cồn tăng 0,37%; giá rượu bia tăng 0,5%; thuốc hút tăng 0,18%.

[19] Trong 7 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018 xảy ra 296 vụ tai nạn giao thông, làm 195 người chết và 199 người bị thương.

 
CÁC THÔNG TIN KHÁC
  Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2019
  Tình hình kinh tế - xã hội năm 2018
  Tình hình kinh tế- xã hội 11 tháng năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2018
  Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2018